Buổi tối Birgitta Roslin cùng chồng xem chương trình thời sự. Công tố viên Robertsson thông báo về bước ngoặt quyết định của cuộc điều tra. Vivi Sundberg đứng ở hậu cảnh. Cuộc họp báo xem ra rất lộn xộn. Tobias Ludwig không còn khả năng ngăn được cánh nhà báo gần như đã ùa lên bục phát biểu, nơi Robertsson ngồi. Công tố viên là người duy nhất giữ được bình tĩnh. Cuối cùng, trước ống kính, Robertsson trả lời phỏng vấn, qua đó ông ta cho biết chuyện gì đã xảy ra. Một người đàn ông bốn mươi lăm tuổi đã bị bắt tại nhà riêng ở gần Hudiksvall. Sự việc diễn ra không gặp trở ngại nào. Nhưng để bảo đảm an toàn, người ta cũng đã phái đến một đội đặc nhiệm khi tiến hành việc bắt giữ đối tượng. Người đàn ông này bị bắt vì nghi có liên quan đến vụ giết người hàng loạt ở làng Hesjövallen. Vì những lý do điều tra nên Robertsson không công bố nhân thân của người đàn ông này.
– Tại sao ông ta lại không công bố? Staffan hỏi.
– Vì sẽ đánh động những kẻ có liên quan khác, các bằng chứng sẽ bị hủy, Birgitta trả lời đồng thời ra hiệu cho chồng im lặng
Robertsson không tiết lộ các chi tiết. Nhưng việc bắt bớ đã được tiến hành nhờ vào nhiều lời chứng. Bây giờ người ta đang kiểm tra những dấu vết khác. Cuộc thẩm cung đầu tiên đã được tiến hành.
Các nhà báo theo sát Robertsson với những câu hỏi của họ:
– Ông ta có thú nhận không?
– Không.
– Ông ta có nói ra điều gì khác không?
– Về việc này tôi không thể nói được.
– Tại sao không?
– Cuộc điều tra đang trong giai đoạn quyết định.
– Ông ta có ngạc nhiên khi bị bắt không?
– Không bình luận.
– Ông ta có gia đình không?
– Không bình luận.
– Nhưng ông ta sống ở gần Hudiksvall?
– Đúng.
– Nghề nghiệp của ông ta?
– Không bình luận.
– Giữa ông ta và những người bị giết có mối liên hệ nào?
– Ngài nên hiểu rằng, tôi không thể trả lời câu hỏi này.
– Nhưng ngài cũng cần hiểu, khán giả của chúng tôi rất muốn biết chuyện gì đã xảy ra. Đây là vụ án tồi tệ nhất xảy ra trên đất Thụy Điển kể từ vụ tắm máu ở Stockholm.
Ngạc nhiên, Robertsson không nhịn được cười. Birgitta Roslin thở dài. Những tay nhà báo này...
– Vụ đấy xảy ra vào thế kỷ 16, không thể so sánh như vậy được, Robertsson nói.
– Thế bây giờ thì sao?
– Chúng tôi tiếp tục thẩm vấn nghi phạm.
– Ông ta có luật sư bào chữa không?
– Có.
– Ngài tin chắc là đã bắt được đúng người?
– Hãy còn quá sớm để trả lời câu hỏi này. Nhưng chúng tôi mừng là đã bắt được ông ta.
Cuộc phỏng vấn kết thúc. Birgitta vặn nhỏ tiếng lại. Staffan nhìn vợ:
– Bà thẩm phán có ý kiến gì về việc này?
– Đương nhiên là họ đã có được cái gì đó trong tay. Nếu không thì không thể quyết định bắt người. Nhưng người đàn ông này mới chỉ là nghi phạm. Một là Robertsson thận trọng, hai là ông ta chẳng có thêm gì trong tay nữa.
– Một mình người đàn ông này đã làm chuyện đó ư?
– Ông ta bị bắt không có nghĩa là nhất thiết ông ta hành động một mình.
– Liệu có thể là gì khác ngoài chuyện đây là hành động của một kẻ điên loạn?
Birgitta Roslin im lặng một lúc rồi mới trả lời.
– Hành động của một kẻ điên cũng có thể được lên kế hoạch một cách hoàn hảo ư? Trong chuyện này, em cũng không biết gì hơn anh.
– Như vậy là chúng ta phải chờ xem.
Họ uống trà và đi ngủ sớm. Ông vuốt má vợ.
– Em đang nghĩ gì vậy?
– Về những cánh rừng bất tận ở Thụy Điển.
– Anh cứ nghĩ, có thể em thấy tốt cho mình khi bỏ hết mọi chuyện, tránh xa mọi thứ.
– Tránh xa cái gì? Xa anh?
– Ừ, xa anh. Và những phiên tòa. Một cuộc nổi loạn khi ngoài năm mươi.
Bà xích lại gần bên ông.
– Đôi lúc em nghĩ: mọi chuyện phải như vậy sao? Điều này thật bất công, em biết. Anh, các con, công việc, em còn muốn gì hơn? Nhưng còn những điều khác, những điều mà khi còn trẻ chúng ta đã nghĩ đến thì sao? Không chỉ là hiểu thực tế, mà là thay đổi nó. Khi nhìn lại xung quanh, ta thấy một thế giới ngày càng tồi tệ hơn.
– Không hoàn toàn như vậy. Chúng ta đã ít hút thuốc hơn. Chúng ta đã có máy tính và điện thoại di động.
– Em có cảm giác thế giới sắp tan ra. Và các tòa án của chúng ta chỉ là một thứ vô dụng để gìn giữ chút gì đó gọi là đạo đức công cộng ở đất nước này.
– Chính chuyến đi lên miền Bắc đã cho em suy nghĩ này à?
– Có thể. Em hơi bi quan một chút. Nhưng đôi khi cũng cần phải bi quan.
Hai người im lặng nằm bên nhau. Bà chờ ông ôm siết lấy mình, nhưng điều đó đã không xảy ra.
Chúng ta vẫn còn chưa sẵn sàng, bà thầm nghĩ. Đồng thời bà cũng không hiểu tại sao mình không làm điều mà ông không làm.
– Chúng ta nên đi du lịch, ông nói. Có những chuyện người ta nên nói vào ban ngày thì tốt hơn là trước lúc đi ngủ.
– Có lẽ chúng ta nên làm một chuyến hành hương, bà nói. Đi trên con đường về Santiago di Compostela, như ngày xưa. Để những hòn đá vào ba lô, mỗi hòn biểu tượng cho một vấn đề mà chúng ta đang phải đối mặt. Khi đã tìm ra giải pháp, chúng ta sẽ lần lượt để từng hòn đá đó xuống vệ đường.
– Em nghĩ nghiêm túc đấy chứ?
– Tất nhiên. Chúng ta sẽ là những người hành hương, bà nói. Nhưng không phải vào lúc này. Lúc này em phải ngủ, cả anh nữa.
Ngày hôm sau bà gọi điện đến cho bác sĩ để yên tâm rằng lịch khám vào năm ngày sau vẫn giữ nguyên. Rồi bà dọn dẹp nhà cửa, thoáng nhìn chiếc túi đựng những cuốn nhật ký. Sau đó bà gọi điện cho các con, thỏa thuận với họ sẽ tổ chức một bữa tiệc bất ngờ nhân sinh nhật Staffan. Các con bà đều cho đó là một ý tưởng hay, vậy nên bà đã gọi điện cho bạn bè, mời họ cùng đến tham dự. Trong lúc ấy, bà vẫn tò mò lắng nghe tin thời sự từ Hudiksvall. Nhưng có rất ít thông tin từ sở cảnh sát lọt ra bên ngoài.
Mãi tới buổi chiều bà mới ngồi được vào bàn làm việc. Bà miễn cưỡng lấy những cuốn nhật ký từ trong túi ra. Giờ đây khi đang có một nghi phạm ngồi trong trại tạm giam, bà cảm thấy những giả thiết của mình đã mất đi ý nghĩa. Bà giở tới trang đã đọc dở trước đó, rồi đọc tiếp.
Điện thoại đổ chuông. Đó là Karin Wiman.
– Mình chỉ muốn biết bạn về đến nhà thuận lợi chứ.
– Những cánh rừng Thụy Điển thật là vô tận. Lạ là những người sống trong bóng tối của những khu rừng ấy lại chẳng có ai mọc lá nhọn cả. Mình sợ những cây thông. Chúng làm cho mình thối chí.
– Thế còn những cây lá rộng?
– Với chúng, mình thấy dễ chịu hơn. Nhưng lúc này mình cần những cánh đồng trải rộng, cần biển, chân trời.
– Vậy thì sang đây với mình đi. Phóng xe qua cầu. Cú điện thoại của bạn đã đánh thức những kỷ niệm xưa. Khi người ta già đi, bỗng nhiên những người bạn cũ xuất hiện như những báu vật mà người ta cần phải giữ gìn.
Birgitta Roslin thấy ý tưởng của bạn mình rất hấp dẫn. Bà cũng nghĩ lại về cuộc điện thoại với Karin Wiman.
– Khi nào thì bạn có thời gian? Mình còn đang được nghỉ ốm, thiếu máu, áp huyết cao.
– Hôm nay thì không được. Nhưng có thể ngày mai.
– Bạn không phải lên lớp à?
– Mình dành phần lớn thời gian cho việc nghiên cứu. Mình cũng rất yêu quý các sinh viên, nhưng chúng tra tấn thần kinh mình. Chúng chỉ quan tâm đến Trung Quốc vì tin rằng có thể làm giàu được ở đó. Trung Quốc chính là mỏ vàng mới của thời đại chúng ta. Chỉ có một số ít là thực sự tìm hiểu sâu về đất nước Trung Hoa khổng lồ với cái quá khứ khốc liệt không tưởng tượng nổi của nó.
Birgitta nghĩ đến cuốn nhật ký nằm trước mặt. Ở đó cũng có chuyện về mỏ vàng.
– Bạn có thể ngủ ở nhà mình, Karin nói tiếp. Mấy thằng con mình hầu như không bao giờ có mặt ở nhà.
– Thế còn ông xã bạn?
– Ông xã mình mất rồi.
Birgitta Roslin muốn cắn đứt lưỡi mình. Bà đã quên béng mất điều này. Karin đã trở thành góa phụ từ mười năm nay. Chồng của Karin là một anh chàng bô trai đến từ Aarhus, trở thành bác sĩ, đã qua đời vì mắc bệnh máu trắng giai đoạn cuối.
– Mình thật sự xấu hổ. Hãy tha lỗi cho mình.
– Thôi đi nào. Bạn đến chứ?
– Mai nhé. Mình muốn nói chuyện với bạn về Trung Quốc. Trung Quốc cũ và Trung Quốc mới.
Bà ghi lại địa chỉ, thỏa thuận giờ giấc và cảm thấy vui vì được gặp lại Karin. Hai người từng là bạn rất thân của nhau một thời, nhưng rồi con đường của họ đã tách rời nhau, những lần liên lạc cứ thưa dần, các cuộc điện thoại cũng trở nên hãn hữu. Birgitta Roslin đã có mặt trong buổi bảo vệ luận án tiến sĩ của Karin, đã dự giờ lên lớp đầu tiên của bạn ở trường đại học Copenhagen. Còn Karin thì ngược lại chưa lần nào có mặt trong phòng xử án khi Birgitta làm chủ tọa phiên tòa.
Sự lãng quên làm cho bà thấy sợ. Do đâu lại có sự lơ đãng này? Để đến mức bà lại hoàn toàn không nhớ ra là chồng của Karin Wiman đã qua đời mười năm nay!
Bà trút bỏ cảm giác bực mình và bắt đầu đọc tiếp cuốn nhật ký để mở. Bà từ từ bỏ lại phía sau mình mùa đông ở Helsingborg và bước vào hoang mạc Nevada, nơi những người đàn ông với chiếc mũ vải màu đen hoặc với chiếc khăn buộc quanh đầu, buộc tuyến đường sắt vươn dài từng mét một về phía Đông với tất cả nỗ lực của mình.
JA. tiếp tục viết vào cuốn nhật ký, ghi lại những điều tồi tệ về những ai làm việc với ông ta hoặc dưới quyền ông ta. Những người Ái Nhĩ Lan lười biếng và nát rượu. Một số ít những người da đen được công ty tuyển mộ tuy có sức khỏe nhưng lại hay né việc. JA. khát khao có được những nô lệ như ở vùng Caribe hoặc ở Nam Mỹ mà ông ta đã có lần được nghe kể. Chỉ có đòn roi mới khiến cho những tên đàn ông khỏe mạnh này thực sự huy động được tất cả sức lực trong chúng. Ông ta ước ao giá như mình có thể được quất roi lên chúng như với đám bò hoặc lừa. Ông ta không ưa đám người nào nhất? Có thể đó là người da đỏ, ông ta trút lên họ tất cả sự khinh miệt của mình. Sự thiếu ý thức lao động, tính ranh mãnh quỷ quyệt của họ không tìm thấy ở đâu khác trong đám cặn bã mà ông ta cần phải giày xéo, đánh đập để tuyến đường sắt có thể tiếp tục trườn về phía trước. Trong nhiều đoạn, ông ta nói về người Trung Quốc, những người mà ông ta thích nhất là được dồn họ xuống Thái Bình Dương, để họ tự chọn lựa, hoặc là chết đuối, hoặc là bơi về Trung Quốc. Nhưng ông ta cũng không thể chối cãi được rằng người Trung Quốc là những người thợ chăm chỉ. Họ không uống rượu, chịu khó tắm rửa, và giữ đúng các quy định. Điểm yếu duy nhất ở họ là ham mê cờ bạc và các nghi lễ tôn giáo kỳ lạ. Suốt trong thời gian dài, JA. đã tìm cách lý giải tại sao ông ta lại không ưa những con người này trong khi chính là nhờ có họ mà ông ta dễ dàng hoàn thành nhiệm vụ của mình hơn.
Những người được JA. coi trọng nhất đến từ vùng Bắc Âu. Ở công trường xây dựng đường sắt có một nhóm nhỏ người Bắc Âu: vài người Đan Mạch, Na Uy và một nhóm lớn hơn gồm những người Thụy Điển và Phần Lan. “Nhóm người này có thể tin cậy được. Họ không lừa dối tôi, chừng nào tôi để mắt đến họ. Ngoài ra họ không tiếc sức làm việc. Nhưng khi tôi quay lưng đi, lập tức họ cũng biến thành bọn vô lại như những nhóm người khác.”
Birgitta Roslin đẩy cuốn nhật ký sang một bên và đứng dậy. Bà cảm thấy tay cai thợ này ngày càng trở nên đáng ghét. Một người đàn ông xuất thân tầm thường, nhập cư vào Mỹ và rồi đột nhiên, khi có chút quyền hành, ông ta trở thành một kẻ tàn nhẫn, bạo ngược. Bà mặc ấm và ra phố đi dạo rất lâu để ít nhất cũng tạm thời rũ bỏ được cảm giác khó chịu.
Lúc sáu giờ tối bà mở radio trong bếp. Chương trình thời sự bắt đầu với giọng nói của công tố viên Robertsson. Bà lặng người lắng nghe. Cùng với giọng ông ta, người ta còn nghe thấy có tiếng máy ảnh và tiếng kéo ghế.
Như những lần trước, Robertsson nói rất rõ ràng và mạch lạc. Người bị bắt hôm trước đã thú nhận một mình gây ra vụ án giết người ở Hesjövallen. Vào lúc mười một giờ trưa, qua luật sư ông ta yêu cầu được nói chuyện với nữ thanh tra hình sự đã tiến hành cuộc thẩm vấn lần đầu với ông ta. Ông ta cũng yêu cầu công tố viên phải có mặt. Sau đó ông ta đã thú nhận toàn bộ sự việc. Lý do của hành động này theo ông ta nói có liên quan đến chuyện trả thù. Còn phải tiếp tục tiến hành nhiều cuộc thẩm vấn nữa thì mới có thể làm rõ vì sao ông ta lại trả thù.
Robertsson kết thúc với một tình tiết mà tất cả mọi người đều chờ đợi. Người bị bắt có tên là Lars-Erik Valfridsson, hiện sống độc thân, làm việc ở một công ty chuyên nổ mìn và khai thác hầm mỏ, đã có nhiều tiền án về tội đánh người gây thương tích.
Tiếng đèn chụp rào rào. Robertsson bắt đầu trả lời các câu hỏi chồng chéo hầu như không thể nghe rõ mà đám phóng viên trút lên ông. Giọng ông nhường chỗ cho phóng viên đài phát thanh. Cô ta tóm tắt lại các sự kiện. Birgitta Roslin bật vô tuyến. Trên đó không có gì khác ngoài những điều bà đã nghe trên radio. Bà tắt cả hai thứ, ngồi xuống sofa. Một cái gì đó trong giọng nói của Robertsson cho bà thấy ông ta tin chắc đã bắt đúng thủ phạm. Trong sự nghiệp của mình, bà đã nghe nhiều công tố viên nói, đủ để dám tự cho là mình có khả năng đánh giá họ tin chắc đến mức nào. Robertsson tin rằng mình có lý. Và những công tố viên dày dạn kinh nghiệm như ông không bao giờ xây dựng cáo trạng của mình dựa trên các phỏng đoán hoặc những gì phát hiện được, mà phải dựa trên sự thật.
Thực ra cũng còn quá sớm để đưa ra kết luận nhưng người đàn ông bị bắt giam không có vẻ gì là người Trung Quốc. Điều bà phát hiện được dần mất đi ý nghĩa. Bà đi vào phòng làm việc và bỏ những quyển nhật ký vào chiếc túi nhựa. Không còn lý do nào để tiếp tục nghiên cứu những quan điểm phân biệt chủng tộc, thù ghét con người của người đàn ông kinh tởm viết trong những quyển nhật ký cũ cách đây hơn một trăm năm.
Buổi tối bà cùng ngồi ăn bữa muộn với Staffan. Hai người chỉ nói qua về diễn tiến mới nhất của vụ việc ở Hesjövallen. Trong các số báo buổi chiều mà ông đem từ tàu về nhà không có thông tin gì mới. Trong một bức ảnh chụp buổi họp báo, bà nhận ra Lars Emanuelsson đang giơ tay để đặt câu hỏi. Bà khẽ rùng mình nghĩ đến cuộc chạm trán gần đây với ông ta. Bà nói với Staffan ngày mai mình đi thăm Karin Wiman và có thể sẽ ngủ lại ở đó một đêm. Staffan cũng biết Karin và người chồng quá cố của bà.
– Ừ, em cứ đi đi, ông nói. Việc đó sẽ tốt cho em. Lịch khám lần sau của em là khi nào vậy?
– Năm ngày nữa. Chắc chắn ông ấy sẽ nói em đã khỏe lại.
Ngày hôm sau, khi Staffan đã ra tàu, điện thoại đổ chuông lúc bà đang sắp đồ đạc vào túi xách. Đó là Lars Emanuelsson. Bà lập tức cảnh giác.
– Ông muốn gì vậy? Do đâu mà ông có số điện thoại của tôi? Đây là số bí mật mà.
Lars Emanuelsson cười khẩy.
– Một nhà báo không biết cách tìm ra số điện thoại, dù cho nó có bí mật thế nào đi chăng nữa, thì cũng nên đổi nghề.
– Ông muốn gì?
– Một lời bình luận. Ở Hudiksvall đã xảy ra vụ việc nghiêm trọng. Một công tố viên tỏ ra không tự tin, mà vẫn dám nhìn vào mắt chúng ta. Bà có thể nói gì về điều đó?
– Không có gì.
Sự niềm nở của Lars Emanuelsson, dù thật hay giả, lúc này đã biến mất. Giọng nói của ông ta trở nên sắc lạnh hơn, sốt ruột hơn.
– Bà không nên lặp lại giọng điệu cũ với tôi. Hãy trả lời câu hỏi của tôi. Nếu không tôi sẽ viết về bà.
– Tôi hoàn toàn không có lấy một thông tin nào, dù là nhỏ nhất về những gì công tố viên đã tuyên bố. Tôi cũng thấy ngạc nhiên như những người khác.
– Ngạc nhiên?
– Ông có thể dùng từ nào cũng được. Bất ngờ, nhẹ nhõm, dửng dưng, tùy ông.
– Bây giờ sẽ là những câu hỏi đơn giản.
– Tôi gác máy bây giờ.
– Nếu bà làm vậy, tôi sẽ viết ngay rằng một nữ thẩm phán từ Helsingborg, vừa mới đây đã vắt chân lên cổ rời khỏi Hudiksvall, đã từ chối trả lời các câu hỏi. Nhà bà đã khi nào bị đám nhà báo bủa vây chưa? Việc này rất dễ sắp xếp. Trước kia ở nước này, bằng vào những tin đồn có mục đích, người ta có thể nhanh chóng huy động được một đám đông sẵn sàng hành hình bất kỳ ai. Một đám nhà báo phát khùng cũng chẳng khác kiểu hành hình ấy là mấy.
– Ông muốn gì?
– Câu trả lời. Tại sao bà lại có mặt ở Hudiksvall?
– Tôi có họ hàng với các nạn nhân ở đó. Với những ai thì tôi không thể nói được.
Bà nghe được ở đầu dây bên kia tiếng thở nặng nề của Emanuelsson trong khi ông ta đánh giá hoặc đang ghi lại câu trả lời của bà.
– Điều này xem ra có lý. Và vì sao bà lại bỏ đi?
– Vì tôi muốn trở về nhà.
– Có gì nằm trong chiếc túi nhựa bà đem từ sở cảnh sát ra?
Bà do dự một lúc rồi nói:
– Mấy cuốn nhật ký của một người họ hàng.
– Thật là như thế?
– Phải. Ông cứ đến Helsingborg, tôi sẽ chìa qua kẽ cửa cho ông xem một cuốn trong số đó. Lúc nào tùy ông.
– Tôi tin bà. Mong bà thông cảm, tôi làm việc này chỉ vì công việc.
– Bây giờ chúng ta đã xong việc rồi chứ?
– Có thể nói như vậy.
Birgitta dập mạnh ống nghe. Cuộc nói chuyện đã làm cho bà vã mồ hôi. Bà đã nói sự thật, một cách rất chung chung. Lars Emanuelsson sẽ chẳng khai thác được gì từ đó. Nhưng sự chai lì của ông ta khiến bà phải khâm phục. Phải thừa nhận rằng đó là một phóng viên tài năng.
Lẽ ra có thể đơn giản hơn cho bà nếu bà đi chuyến phà tới Helsingborg, nhưng bà lại lái xe xuống tận Malmö và qua eo Oresund trên cây cầu mới mà cho đến giờ bà chỉ đi xe buýt qua. Karin Wiman sống ở Gentofte, phía Bắc Copenhagen. Birgitta Roslin hai lần đi nhầm đường, trước khi tìm thấy con đường ven biển dẫn lên phía Bắc. Trời lạnh và có gió, nhưng quang đãng. Đến mười một giờ rốt cuộc bà cũng tìm ra ngôi nhà xinh xắn của Karin Wiman. Karin đã sống ở đây từ khi kết hôn và chồng bà cũng qua đời trong chính ngôi nhà này. Ngôi nhà màu trắng xung quanh là một khu vườn rộng. Birgitta Roslin nhớ ra là từ tầng trên người ta có thể nhìn thấy biển.
Karin đi qua cổng vườn đón bà. Dạo này trông bà ấy xanh xao và gầy hơn trong trí nhớ của Birgitta Roslin. Ý nghĩ đầu tiên của bà là Karin bị ốm. Hai người ôm lấy nhau, rồi đi vào nhà, để túi xách trong phòng nơi bà sẽ ngủ qua đêm. Sau đó họ đi xem lại các phòng. Từ lần cuối cùng Birgitta có mặt ở đây cho đến nay, không có mấy thay đổi. Karin muốn giữ nguyên như khi chồng mình còn sống, Birgitta thầm nghĩ. Nếu là mình, mình sẽ làm gì? Bà không thể hình dung ra được. Karin Wiman và bà là hai người rất khác nhau. Tình bạn bền chặt của họ được xây dựng chính trên sự khác biệt này. Họ đã sáng chế ra chiếc giảm xóc, đón đỡ rất ngoạn mục những va chạm đôi khi xảy ra giữa hai người.
Karin đã chuẩn bị sẵn bữa trưa. Họ ngồi xuống bên nhau trong một mảnh vườn mùa đông rợp bóng cây và đầy hương thơm. Sau giai đoạn dò xét đầu tiên, họ gần như lập tức bắt đầu nói về thời trẻ của mình ở Lund. Karin, vì bố mẹ bà có một trại nuôi ngựa giống ở Scanie, đã đến Lund vào năm 1966, Birgitta thì một năm sau đó. Hai người gặp nhau trong một buổi bình thơ của hội sinh viên và đã nhanh chóng trở thành bạn thân của nhau dù tính cách khác biệt. Karin thì đầy tự tin với xuất thân gia đình như vậy. Còn Birgitta thì ngược lại, thiếu tự tin và đang trên đường tìm kiếm thứ đó cho mình.
Họ đã bị lôi kéo vào phong trào phản đối chiến tranh ở Việt Nam, ngồi câm lặng như những con chuột nhắt ở đó, lắng nghe diễn giả là những người tự cho là mình rất thông thái nói dài dòng về việc cần phải nổi dậy. Đồng thời, họ chìm đắm trong cảm giác rằng một thế giới khác là khả thể và họ sẽ trực tiếp tham gia vào việc tạo dựng nên thế giới ấy. Phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam không phải là trường học tổ chức chính trị duy nhất của họ. Hàng loạt nhóm khác đã bày tỏ tình đoàn kết với các phong trào chống đế quốc ở các nước nghèo. Ngay cả ở Thụy Điển, một không khí hứng khởi chống lại tất cả những cái cũ kỹ và lỗi thời cũng nổi lên. Đó là một giai đoạn tuyệt vời.
Sau đó cả hai người tham gia vào một nhóm cánh tả cấp tiến với cái tên “Những kẻ nổi loạn”. Trong một vài tháng cuồng nhiệt, họ như sống trong một giáo phái được xây dựng dựa trên sự tự phê mạnh mẽ và niềm tin mù quáng vào tư tưởng cách mạng của Mao Trạch Đông.
Karin hỏi xem bà có còn nhớ cuộc đi bơi nổi tiếng bất hảo ở Tylösand không. Birgitta làm sao có thể quên được lần đó. Họ đã có cuộc họp mặt nhau ở chi bộ nhóm. Đồng chí Moses Holm, sau này làm bác sĩ nhưng đã bị mất giấy phép hành nghề vì sử dụng ma túy và đã không ngần ngại kê đơn thuốc loại này cho người khác, đã đưa ra đề nghị thâm nhập “ổ rắn tư bản mà mùa hè nào cũng tới tắm nắng ở Tylösand”. Cuộc thảo luận kéo dài đã đi đến quyết định và một chiến lược được thảo ra. Vào Chủ nhật sau đó, một ngày đầu tháng Bảy, mười chín người trong nhóm tới Halmstad rồi Tylösand trong một chiếc minibus thuê. Với ảnh chân dung Mao Trạch Đông trên nóc xe, bao quanh là những lá cờ đỏ, họ diễu hành trên bãi biển, trước mặt những người đi bơi đầy sửng sốt. Họ hô vang các khẩu hiệu, tay vẫy những quyển sách đỏ được gọi là Mao tuyển, sau đó lội xuống bơi cùng với bức ảnh Mao. Sau đó họ tập hợp trên bãi biển hát bài “Đông phương hồng”, đọc bài diễn văn ngắn nguyền rủa đất nước Thụy Điển phát xít, kêu gọi những người lao động đang tắm nắng cầm vũ khí, chuẩn bị cho cuộc cách mạng đang ở ngay phía trước. Rồi họ trở về nhà và dành những ngày sau đó cho việc đánh giá cuộc “tấn công” vào bãi tắm ở Tylösand.
– Thế bạn nhớ đến điều gì? Karin hỏi.
– Đến Moses. Anh ta đã quả quyết rằng cuộc hành quân của chúng ta đến Tylösand sẽ đi vào lịch sử cách mạng tương lai.
– Còn mình thì chỉ nhớ ngày đó nước rất lạnh.
– Nhưng nói chung mình không còn nhớ ngày đó mình đã nghĩ gì.
– Chúng mình đâu có suy nghĩ. Tư tưởng là như thế đó. Chúng ta phải nghe theo ý tưởng của người khác. Chúng ta phải hành động như robot để giải cứu nhân loại.
Karin lắc đầu và phá lên cười.
– Chúng ta đúng là trẻ con. Rất nghiêm túc. Chúng ta quả quyết rằng chủ nghĩa Mác là một môn khoa học, cũng chân chính như các công trình của Newton, Copernic hoặc Einstein. Nhưng trên hết, chúng ta có niềm tin. Mao tuyển là giáo lý của chúng ta. Chúng ta không hiểu rằng đó không phải là Kinh Thánh mà chỉ là trước tác của một nhà cách mạng vĩ đại.
Hai người nói chuyện đến chiều tối. Sau đó họ ra ngoài đi dạo quanh nhà. Birgitta nhận thấy cả Karin lẫn bà đều cần đào sâu vào quá khứ để hiểu rõ hơn hiện tại.
– Tuy vậy không phải tất cả đều ngây thơ và điên khùng, Birgitta nói. Ý nghĩ về một thế giới được gây dựng dựa trên tình đoàn kết cho đến nay vẫn luôn sống động trong mình. Mình luôn cố tự nhủ rằng dù sao chúng ta cũng đã nổi dậy, rằng chúng ta cũng đã đặt câu hỏi về những quy ước và lề thói mà nếu không có cuộc nổi dậy sẽ còn khiến cho thế giới của chúng ta hữu khuynh hơn nữa.
– Mình đã thôi không đi bầu cử, Karin nói. Mình không thích trật tự hiện nay nhưng mình không thấy có thể tham gia đảng phái nào. Ngược lại mình ủng hộ các phong trào mà mình có niềm tin. Vẫn còn có những phong trào như thế, lớn mạnh và kiên cường. Giờ thì còn ai quan tâm đến chuyện chống lại chế độ phong kiến ở một đất nước nhỏ bé như Nepal? Còn mình. Mình đã ký đơn kiến nghị và đã ủng hộ tiền.
– Mình còn gần như không biết Nepal nằm ở đâu, Birgitta nói. Phải thừa nhận là mình đã trở nên biếng nhác. Nhưng đôi khi mình cũng nhớ tiếc những ý định tốt đẹp mà chúng mình đã có. Chúng ta không chỉ là những sinh viên lầm đường lạc lối, tin rằng mình đang ở tâm điểm của thế giới, nơi mà không có gì là không thể. Tình đoàn kết là có thật.
Karin cười.
– Bạn còn nhớ Hanna Stoijkovics không? Cô bồi bàn khùng khùng trong khách sạn Grand ở Lund, người đã bảo chúng ta đều là những kẻ khiếp nhược ấy? Cô gái đã chỉ cho chúng ta cái gọi là chiến thuật “các vụ giết người nhỏ” ấy? Nghĩa là chúng ta sẽ tiến hành giết các chủ nhà băng, chủ các công ty và giáo viên phản động. Chúng ta phải đi săn thú dữ, cô ấy đã nói như vậy. Cô ấy cũng đã chết rồi.
– Mình không biết chuyện này.
– Nghe đâu cô ấy nói với chồng rằng hôm nay các chuyến tàu không chạy đúng giờ. Anh chồng không hiểu ý cô ấy là gì. Sau đó mọi người tìm thấy cô ấy trên đường tàu gần Arlov. Cô ấy đã cuốn quanh mình một chiếc chăn len để nhân viên cứu hộ sẽ không thấy rùng rợn.
– Tại sao cô ấy phải tự tử?
– Không ai biết nguyên nhân. Cô ấy chỉ để lại một mảnh giấy trên mặt bàn bếp: Em đi tàu hỏa.
– Còn chúng ta, bạn trở thành giáo sư, còn mình thành thẩm phán.
– Còn Karl-Anders? Bạn còn nhớ anh ta không? Cái anh chàng lúc nào cũng ghét bị hói ấy? Người gần như không nói bao giờ nhưng lại luôn có mặt đầu tiên trong các cuộc họp. Anh ta đã trở thành mục sư.
– Không thể thế được!
– Mục sư đạo Tin lành. Thuộc liên đoàn truyền giáo Thụy Điển. Vẫn là người như thế. Mùa hè đi khắp nước, truyền đạo trong lều lưu động.
– Cũng không có nhiều khác biệt.
Karin trở nên nghiêm túc:
– Theo mình thì như thế cũng là khác rồi. Chúng ta không được quên những người vẫn tiếp tục đấu tranh cho một thế giới khác. Giữa thời hỗn mang, các luận thuyết chính trị nháo nhào, người ta vẫn tiếp tục tin rằng cuối cùng lẽ phải sẽ chiến thắng.
– Đúng thế. Nhưng điều có vẻ như cực kỳ đơn giản vào thời đó lại luôn trở nên phức tạp hơn.
– Chẳng phải như thế sẽ càng khích lệ chúng ta hơn hay sao?
– Chắc chắn. Có thể là vẫn còn chưa quá muộn. Mình ghen tị với tất cả những người không bao giờ từ bỏ lý tưởng của mình. Hoặc đúng hơn là ý thức của mình. Ý thức về thực trạng thế giới. Và những nguyên do của thực trạng ấy. Vẫn còn có những người tiếp tục kháng chiến. Họ không biến mất.
Họ cùng nhau chuẩn bị bữa tối. Karin kể tuần tới bà sẽ đi Trung Quốc tham dự một hội nghị về triều đại tiền Tần, triều đại có vị hoàng đế đầu tiên thống nhất Trung Quốc.
– Lần đầu tiên đặt chân đến đất nước mà mình đã ước mơ suốt thời tuổi trẻ, bạn thấy thế nào?
– Lần đầu tiên đến Trung Quốc, mình hai mươi chín tuổi. Lúc đó Mao đã qua đời và tất cả mọi thứ đã thay đổi. Đó là một nỗi thất vọng to lớn và sâu sắc. Bắc Kinh là một thành phố lạnh và ẩm. Hàng ngàn chiếc xe đạp kẽo kẹt trên đường phố như cào cào. Rồi sau đó mình nhận thấy tuy vậy ở đất nước này đã diễn ra một cuộc chuyển biến lớn lao. Người dân đã có quần áo và giày dép. Trong thành phố mình không thấy ai bị đói, không có người ăn xin. Mình còn nhớ, mình đã xấu hổ như thế nào. Mình, một người từ một đất nước giàu có bay đến Trung Quốc, đâu có cái quyền quan sát sự phát triển ấy với thái độ khinh miệt hoặc ngạo mạn. Mình lại bắt đầu thấy cảm phục nghị lực của đất nước này. Từ đó mình quyết định dứt khoát trở thành nhà Hán học. Trước đấy mình còn có những dự định khác.
– Kiểu như thế nào?
– Bạn sẽ không tin đâu.
– Cứ thử xem!
– Mình muốn làm lính chuyên nghiệp.
– Vì sao?
– Bạn đã trở thành thẩm phán. Tất cả những ý tưởng này là từ đâu ra?
Sau bữa ăn tối họ trở lại với mảnh vườn mùa đông. Những ngọn đèn chiếu sáng trên tuyết. Karin đưa cho bà chiếc áo len cao cổ, vì trời bắt đầu trở lạnh. Trong bữa ăn họ đã uống rượu nho. Birgitta cảm thấy chếnh choáng.
– Hãy cùng đi Trung Quốc với mình, Karin nói. Giờ vé máy bay không còn đắt như trước kia nữa. Chắc chắn mình sẽ được bố trí một phòng rộng ở khách sạn. Chúng ta sẽ ở chung. Trước kia bọn mình chẳng từng làm vậy rồi sao? Ở trại hè ngoài hai đứa mình ra còn có thêm ba bạn nữa ngủ trong một chiếc lều nhỏ. Chúng ta gần như đã nằm chồng lên nhau.
– Mình không thể, Birgitta nói. Mình đã khỏe lại, kỳ nghỉ ốm sẽ kết thúc.
– Thì cứ đi đã. Công việc có thể chờ bạn.
– Mình cũng có hứng thú. Nhưng chắc chắn sau này bạn còn quay lại đó nữa, đúng không?
– Dĩ nhiên rồi. Nhưng ở tuổi bọn mình, không nên chờ đợi quá lâu.
– Chúng ta sẽ còn sống rất lâu, sống đến già.
Karin không trả lời. Birgitta nhận ra mình đã lỡ lời. Chồng Karin đã qua đời ở tuổi bốn mươi mốt.
Karin đoán ra Birgitta đang nghĩ gì. Bà chìa tay ra đặt lên đầu gối Birgitta.
– Hoàn toàn không sao đâu.
Hai người còn nói chuyện với nhau rất lâu. Lúc họ lên giường đi ngủ đã gần nửa đêm. Birgitta nằm lên giường với chiếc điện thoại di động để trên bụng, Staffan về nhà vào lúc nửa đêm và sẽ gọi điện cho bà.
Birgitta thiu thiu ngủ thì điện thoại rung.
– Anh làm em thức giấc à?
– Gần như thế.
– Sao, có vui không?
– Tụi em nói chuyện liên tục suốt mười hai tiếng đồng hồ.
– Ngày mai em về nhà chứ?
– Em sẽ ngủ cho đã, rồi sẽ về.
– Anh đoán em đã nghe được chuyện gì xảy ra? Hắn ta đã kể hết mọi chuyện.
– Ai vậy?
– Người đàn ông ở Hudiksvall.
Bà ngồi bật dậy.
– Em hoàn toàn không biết gì cả. Anh kể đi!
– Lars-Erik Valfridsson. Người đàn ông bị bắt. Hiện nay cảnh sát đang tìm hung khí. Hình như hắn đã khai ra nơi giấu vũ khí. Một thanh kiếm Samurai tự rèn, theo tin thời sự cho biết.
– Thật vậy không?
– Chẳng lẽ anh lại kể cho em nghe chuyện không có thật hay sao?
– Em không có ý ấy. Mà là hắn có kể thật không ấy. Hắn có giải thích lý do không?
– Ai cũng cho rằng đó là một vụ trả thù. Anh không biết gì thêm nữa.
Birgitta vẫn ngồi trên giường khi cuộc nói chuyện của họ đã kết thúc. Suốt ngày bên Karin, bà không hề nghĩ đến Hesjövallen. Lúc này các sự kiện lại quay về trong tiềm thức của bà.
Có thể đã có lời giải thích đối với dải lụa đỏ mà không ai ngờ tới, kể cả bà.
Tại sao Lars-Erik Valfridsson lại không có khả năng đến ăn ở quán Trung Hoa đó chứ?
Bà lại chui vào chăn và tắt đèn ngủ. Hôm sau bà sẽ về nhà, gửi trả lại cho Vivi Sundberg những cuốn nhật ký và sẽ tiếp tục đi làm trở lại.
Nhưng bất luận thế nào bà cũng sẽ không cùng đi Trung Quốc với Karin, dù bà rất muốn.