Nhã Như thích bóng tối. Vì ở đó hắn có thể tàng hình giống như những con thú dữ mà hắn vừa thán phục vừa sợ hãi. Nhưng không chỉ mình hắn chơi trò này. Hắn thường nghĩ tới những doanh nhân trẻ đang trù tính chiếm đoạt quyền lực bằng kinh tế, rồi dần dần đòi có phần trong các cuộc hoạch định chính sách. Mỗi kẻ đều có khoảng tối riêng của mình để từ đó quan sát kẻ khác mà không bị ai nhìn thấy.
Nhưng khoảng tối mà hắn giấu mình trong đó vào buổi chiều muộn mưa gió ở Luân Đôn này lại có một mục đích khác. Hắn quan sát Birgitta Roslin ngồi trên chiếc ghế băng trong một công viên nhỏ bên cạnh quảng trường Leicester. Từ chỗ hắn nấp, chỉ có thể nhìn thấy lưng bà nhưng hắn không muốn bị phát hiện. Hắn để ý thấy bà có cảnh giác, thận trọng như một con thú đang lo lắng. Nhã Như không đánh giá thấp bà. Một khi chị Quế đã tin tưởng bà ta, có nghĩa là hắn cũng phải nhìn nhận bà ta một cách nghiêm chỉnh.
Hắn đã bám theo bà gần như suốt cả ngày hôm nay, từ lúc bà xuất hiện vào lúc sáng sớm trước nhà Hà. Hắn thích thú khi nghĩ chính hắn là chủ tiệm ăn này, nơi chồng Hà làm việc. Đương nhiên là vợ chồng họ không biết việc này. Nhã Như gần như không đứng tên sở hữu thứ gì. Ví dụ tiệm ăn mang tên Minh này là của Chinese Food Inc., một trong các công ty cổ phần có trụ sở ở Lichtenstein, giống như nhiều tiệm ăn khác tại châu Âu nằm trong tay Nhã Như. Hắn theo dõi cẩn thận các bản kết toán do những thanh niên Trung Quốc có tài năng được tuyển từ các trường đại học danh tiếng ở Anh lập ra. Nhã Như căm ghét tất cả những gì thuộc về nước Anh. Hắn không bao giờ quên lịch sử, thích thú khi cướp được của đất nước này những doanh nhân trẻ có tài năng, được các trường đại học tốt nhất đào tạo ra.
Nhã Như chưa lần nào ngồi ăn ở tiệm ăn mang tên Minh này. Và lần này hắn cũng không định làm việc đó. Chừng nào xong việc, hắn sẽ quay về Bắc Kinh ngay.
Đã có một thời gian hắn dành cho các sân bay một sự tôn thờ gần như kính cẩn. Ngày đó bất cứ đi đâu Nhã Như cũng đem theo cuốn Marco Polo du ký. Ý chí gan dạ muốn khám phá những điều mới lạ của ông là một tấm gương đối với hắn. Còn bây giờ hắn cảm thấy những chuyến đi càng ngày càng chán ngắt, dù cho hắn đã có máy bay riêng, chương trình bay riêng và không phải mất thời gian chờ đợi ở các sân bay ồn ào. Cảm giác kích thích khi được di chuyển nhanh, khoái cảm khi vượt qua được các múi giờ, và trong trường hợp tuyệt nhất sẽ đến được đích trước cả giờ xuất phát mâu thuẫn với việc mất thời gian một cách ngu ngốc để chờ được cất cánh hay chờ lấy hành lý. Các sân bay đã biến thành các trung tâm thương mại rực rỡ ánh đèn, với thang cuốn, những hành lang ồn ã, những căn phòng bằng kính nơi những kẻ nghiện thuốc chen chân để trao đổi mầm mống ung thư với nhau, không còn là nơi người ta có thể nảy ra được những ý tưởng sáng tạo, những suy luận mới mẻ mang tính triết học. Hắn nghĩ đến cái thời mà con người chỉ đi xa bằng tàu hỏa hoặc tàu thủy. Ngày đó các cuộc tranh luận, bàn cãi thông minh được xem như là một việc đương nhiên, giống như sự xa xỉ và nhàn rỗi vậy.
Chính vì những lẽ đó mà hiện nay hắn sắm máy bay riêng, một chiếc Gulfstream siêu hiện đại, trên đó có những tủ sách cổ gồm những tác phẩm văn học nổi tiếng của Trung Quốc và thế giới.
Hắn cảm thấy mình như có một mối liên hệ thần bí nào đó với với thuyền trưởng Nemo, người phiêu du với chiếc tàu ngầm như một vị hoàng đế cô đơn không vương quốc, với một thư viện lớn cùng mối căm thù sâu sắc dành cho loài người. Nemo xem một vị hoàng tử Ấn Độ đã mất tích như là hình mẫu của mình. Vị hoàng tử này đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống lại đế quốc Anh, và trong phương diện này Nhã Như cũng cảm thấy mình có họ hàng với ông ta. Nhưng hắn vẫn thấy mình giống hơn cả với Nemo, người kỹ sư tài năng và nhà triết học hiểu biết rộng. Chiếc máy bay Gulfstream được hắn đặt tên là Nautilus II, và trên hành lang dẫn vào buồng lái có treo một bức chạm khắc phóng to mô tả cảnh thuyền trưởng Nemo đang đứng trong thư viện lớn của con tàu Nautilus cùng vài người khách bất đắc dĩ.
Nhưng điều quan trọng bây giờ là bóng tối. Hắn giấu mình rất kỹ, quan sát người phụ nữ mà hắn phải giết. Lại một điểm chung nữa với thuyền trưởng Nemo: hắn tin vào sự báo thù. Sự cần thiết phải trả thù là một trong những động lực chính của lịch sử.
Không lâu nữa mọi chuyện sẽ kết thúc. Lúc này đây, khi hắn đang có mặt ở khu phố Tàu tại Luân Đôn và những giọt mưa rơi lên cổ áo vest, một ý nghĩ vụt qua tâm trí hắn: cũng khá hợp lý khi mọi chuyện lại kết thúc ở Anh quốc. Chính từ đây hai anh em cụ Vương đã lên đường trở về Trung Quốc, nhưng chỉ có một người được thấy lại quê hương.
Nhã Như thích chờ đợi, một khi hắn làm chủ được thời gian của mình. Ngược lại với những người ở sân bay phải chịu sự kiểm soát. Đôi khi bạn bè hắn ngạc nhiên về điều đó, họ luôn thấy cuộc sống quá ngắn ngủi, cái cuộc sống do một vị Thượng đế giống như một ông quan già cau có luôn tìm cách xén bớt lạc thú tạo ra. Trong những lần chuyện trò với những người bạn, những người giờ đây đang sắp độc chiếm đất nước Trung Quốc hiện đại Nhã Như đã nhấn mạnh rằng Thượng đế, người đã tạo ra cuộc sống, rõ ràng biết rõ mình đã làm gì: nếu con người được phép sống quá lâu thì cuối cùng họ sẽ biết rất nhiều và nhìn thấu được tầng lớp quan lại rồi có thể đi đến quyết định tiêu diệt lớp người này. Với Nhã Như, sự ngắn ngủi của cuộc sống chính là thành trì vững chắc nhất chống lại các cuộc nổi loạn. Và như thường lệ, bạn bè hắn đồng ý với quan điểm này, mặc dù không phải lúc nào họ cũng hiểu được lý lẽ của hắn. Trong số những kẻ tranh giành ngôi vị này, Nhã Như là người nổi bật hơn cả. Người ta ít đặt câu hỏi đối với kẻ ưu việt.
Mỗi năm một lần hắn mời những người quen thân đến trang trại nằm ở phía Tây Bắc Quảng Châu. Họ đánh giá từng con ngựa đực được thả tự do, cá cược với nhau, rồi quan sát các cuộc đấu tranh giành quyền thống trị trong đàn, cho tới cuối cùng một trong những con ngựa đực đó, thở sùi bọp mép, đứng trên đỉnh đồi, chứng tỏ nó là con khỏe nhất.
Nhã Như thường dựa vào động vật mỗi khi hắn muốn hiểu rõ thái độ của riêng mình và của nhũng người khác. Hắn là con báo gấm, và cũng là con ngựa đực chiến đấu tới cùng cho đến lúc trở thành vị hoàng đế đơn độc.
Ý nghĩ của hắn bị gián đoạn khi Birgitta Roslin đứng dậy.
Suốt một ngày trời theo chân bà, hắn đã nhận ra: bà ấy sợ hãi thường hay quay lại nhìn phía sau, vẻ bồn chồn. Bà ấy lo lắng. Điều này rất có lợi cho hắn, ngay cả khi hắn vẫn chưa biết sẽ làm thế nào.
Lúc này bà ấy đã đứng lên. Nhã Như vẫn rình trong bóng tối.
Bỗng xảy ra một việc mà hắn hoàn toàn không ngờ tới. Birgitta Roslin giật mình, thét lên, đi giật lùi, vấp ngã, đầu đập mạnh vào thành ghế băng. Một người đàn ông Trung Quốc đứng lại, cúi xuống xem bà có bị thương không. Nhiều người xúm lại. Nhã Như ra khỏi chỗ nấp, trà trộn vào đám đông đang vây quanh người đàn bà nằm trên mặt đất. Hai cảnh sát tuần tra vội chạy đến. Nhã Như len người vào để nhìn cho rõ hơn. Lúc này Birgitta Roslin đã ngồi dậy. Hình như bà ấy chỉ bị choáng một vài phút. Hắn nghe thấy cảnh sát hỏi bà xem có cần xe cấp cứu không nhưng bà từ chối.
Đây là lần đầu tiên Nhã Như nghe được giọng nói của bà. Hắn cố ghi nhớ, một giọng khá buồn, lo lắng.
– Tôi vấp ngã, hắn nghe bà nói. Tôi cứ nghĩ có ai đó đang tiến lại gần mình nên sợ.
– Bà có bị người đó tấn công không?
– Không. Đó chỉ là do tôi tưởng tượng ra.
Người đàn ông làm cho bà sợ vẫn còn đứng đó. Nhã Như thấy giữa người này với Lưu Sinh có nét gì đó giống nhau.
Nhã Như mỉm cười. Phản ứng của bà đã phản bội bà. Thoạt tiên chúng cho biết bà sợ và cảnh giác, rồi giờ thì rõ ràng là bà sợ một người đàn ông Trung Quốc nhảy xổ vào mình.
Hai cảnh sát đưa bà về khách sạn. Nhã Như đi theo sau, giữ một khoảng cách nhất định. Lúc này hắn đã biết nơi bà ở. Cảnh sát đưa bà về tới lối vào khách sạn, sau khi thấy bà đã có thể đi một mình được, họ chào bà rồi quay đi. Nhã Như thấy nhân viên lễ tân trao chiếc chìa khóa để ở ngăn trên cùng cho bà Roslin. Hắn chờ thêm mấy phút rồi mới bước vào bên trong. Nhân viên lễ tân là một phụ nữ Trung Quốc. Nhã Như cúi người chào và đưa cho chị ta một mảnh giấy.
– Người phụ nữ vừa vào đây. Bà ấy đánh rơi tờ giấy này trên đường đi.
Nhân viên lễ tân cầm lấy tờ giấy để nó vào một ngăn trống có ghi số phòng 614, nằm ở tầng trên cùng của khách sạn. Đó chỉ là một tờ giấy trắng. Bà Roslin hẳn sẽ hỏi mảnh giấy này là của ai đưa trả.
Một người Trung Quốc, câu trả lời sẽ là như vậy. Và bà ấy sẽ còn hoảng sợ hơn và cũng sẽ cảnh giác hơn. Sau khi đã nhận ra được điều này, có nghĩa là nó sẽ không còn là mối nguy hiểm đối với hắn nữa.
Nhã Như làm ra vẻ như đang đọc tờ quảng cáo của khách sạn trong lúc nghĩ xem làm thế nào để biết bà Roslin đăng ký ở lại đây đến hôm nào. Cơ hội đã đến, một cô gái người Anh đến thay ca trực cho người phụ nữ Trung Quốc. Nhã Như đi đến bên quầy lễ tân.
– Bà Birgitta Roslin, anh ta nói. Đến từ Thụy Điển. Tôi có nhiệm vụ đưa bà ấy ra sân bay. Nhưng tôi không biết là ngày mai hay ngày kia.
Cô lễ tân không chút nghi ngờ, gõ lên bàn phím máy tính.
– Bà Roslin đăng ký nghỉ ba đêm. Tôi có cần gọi điện thoại cho bà ấy để hai người thống nhất giờ đón không?
– Tôi sẽ làm việc với văn phòng của chúng tôi. Không nên quấy rầy khách khi không cần thiết.
Nhã Như rời khách sạn. Trời lại bắt đầu mưa phùn. Hắn dựng cao cổ áo, đi về đường Garrick để vẫy taxi. Bây giờ hắn không còn phải lo lắng về thời gian còn lại. Tất cả những chuyện này đã bắt đầu quá lâu rồi, hắn nghĩ. Vậy thì nó có thể kéo dài thêm một vài ngày nữa cũng không sao, miễn là nó sẽ có cái kết không tránh khỏi.
Hắn lên taxi, nói địa chỉ ở Whitehall, nơi công ty Lichtenstein của hắn có một căn hộ nhiều phòng, mỗi lần sang Anh hắn thường ở đó. Hắn thường tự trách mình là đã phản bội ký ức của tổ tiên khi ở lại Luân Đôn, trong khi hắn hoàn toàn có thể lựa chọn Paris hoặc Berlin. Trong lúc ngồi trên taxi, hắn đã quyết định sẽ bán căn hộ này và mua một căn khác tại Paris làm chỗ trú chân.
Cũng đã đến lúc kết thúc mọi việc ở đây.
Hắn nằm lên giường và im lặng lắng nghe. Sau khi mua căn hộ này hắn đã cho cách âm toàn bộ các bức tường. Không còn nghe thấy bất cứ âm thanh nào từ đường phố vọng vào nữa. Tiếng động duy nhất bây giờ là tiếng máy điều hòa chạy ro ro, nó khiến hắn có cảm giác như đang ở trên boong một con tàu, một sự im lặng lớn lao.
– Từ khi nào? Hắn nói to với chính mình trong căn phòng này. Từ khi nào sự việc ấy đã bắt đầu để rồi phải kết thúc vào lúc này?
Hắn nhẩm tính lại trong đầu. Năm 1868 cụ Sáng đã ngồi bên chiếc bàn trong một căn phòng nhỏ của trạm truyền giáo. Bây giờ đã là năm 2006. Một trăm ba mươi tám năm. Cụ Sáng đã vất vả ngồi bên ngọn đèn cầy để viết lại từng dòng câu chuyện của mình, câu chuyện của các anh em mình, Quốc Sĩ và Vũ. Câu chuyện bắt đầu từ cái ngày họ phải rời bỏ làng quê nghèo khổ của mình, dắt díu nhau trên con đường dài đến Quảng Châu. Nơi đó quỷ dữ đã đội lốt Di. Sau đó cái chết bám theo họ từng bước một. Cuối cùng chỉ còn lại cụ Sáng và mong muốn bằng mọi giá phải kể lại câu chuyện này.
Họ đã chết trong sự tủi nhục cùng cực nhất, hắn nghĩ. Những triều đại vua chúa và quan lại Trung Hoa đã làm theo lời khuyên của Khổng Tử, đè nén dân dưới ách thống trị để họ không có cơ hội nổi loạn. Ba anh em cụ chạy trốn đến nơi họ nghĩ sẽ có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhưng người Mỹ đã đọa đày họ trên công trường xây dựng đường sắt. Đồng thời bọn người Anh với sự khinh miệt lạnh lùng đã tìm mọi cách làm cho người Trung Quốc nghiện nha phiến, thị trường Trung Quốc tràn ngập thuốc phiện. Đây là cách mình nhìn những lái buôn người Anh tàn nhẫn này: bọn buôn bán ma túy đứng bên góc phố bán ma túy cho những con người mà chúng khinh miệt, coi như là những sinh vật hạ đẳng. Cách đây không lâu, tranh biếm họa của châu Âu và của Mỹ vẽ người Trung Quốc là những con khỉ. Nhưng tranh biếm họa ấy đã nói lên sự thật. Chúng ta được sinh ra để làm nô lệ và để bị sỉ nhục. Chúng ta không phải là con người, mà là con vật.
Mỗi lần Nhã Như đi trên đường phố Luân Đôn, hắn thường nghĩ rằng rất nhiều ngôi nhà xung quanh hắn đã được xây dựng lên bằng tiền của một dân tộc bị biến thành nô lệ, bằng nỗ lực và nỗi đau của họ, bằng sống lưng bị đập vỡ của họ, bằng cái chết của họ.
Cụ Sáng đã viết gì? Rằng họ đã xây dựng tuyến đường sắt chạy qua các hoang mạc của Mỹ với những chiếc xương sườn của người Trung Quốc thay cho thanh tà vẹt. Cũng như những tiếng kêu, nỗi đau của người nô lệ đổ vào những cây cầu sắt bắc qua sông Thames hoặc vào trong những bức tường dày của các tòa nhà khổng lồ ở khu tài chính cũ của Luân Đôn.
Nhã Như ngủ thiếp đi khi đang theo dòng suy nghĩ. Lúc thức dậy, hắn đi ra phòng khách toàn đồ gỗ Trung Quốc. Trên mặt chiếc bàn kê trước chiếc sofa đỏ thẫm có một chiếc túi vải lụa màu xanh nhạt. Hắn mở miệng túi sau khi đã trải sẵn một mảnh giấy trắng trên mặt bàn. Sau đó hắn dốc từ trong túi vải ra một ít bột thủy tinh rất mịn. Đây là một phương pháp giết người rất cổ: người ta trộn thứ bột thủy tinh hầu như không nhìn thấy này vào một đĩa xúp hoặc một cốc trà. Ai uống thứ này vào người sẽ không còn cách cứu chữa. Những mảnh thủy tinh cực kỳ nhỏ này sẽ cứa đứt ruột người đó. Thời xa xưa người ta gọi nó bằng cái tên “Thần chết vô hình”, vì cái chết xuất hiện bất ngờ, không giải thích nổi.
Câu chuyện mà cụ Sáng đã bắt đầu sẽ tìm thấy cái kết với loại bột này. Nhã Như thận trọng đổ bột thủy tinh vào lại chiếc túi vải lụa, rồi thắt chặt miệng túi. Sau đó hắn tắt hết đèn trong căn hộ, chỉ để lại một ngọn đèn có chao màu đỏ có hình con rồng được thêu bằng những sợi kim tuyến. Hắn ngồi lên chiếc ghế gỗ ngày xưa thuộc sở hữu của một đại địa chủ giàu có vùng Sơn Đông. Hắn hít thở sâu và chìm vào trạng thái yên lặng giúp hắn có thể suy nghĩ sáng suốt nhất.
Hắn cần tới một tiếng đồng hồ để quyết định xem mình sẽ viết chương cuối cùng như thế nào khi giết chết Roslin, người đàn bà rất có thể đã cung cấp cho chị Quế những điều bí mật có thể gây hại cho hắn. Những bí mật đó rất có thể đã được chị Quế tiếp tục nói cho người khác mà hắn không được biết. Sau khi đã đi đến quyết định, hắn ấn ngón tay lên một nút bấm trên mặt bàn. Vài phút sau hắn nghe thấy tiếng bà Lăng bắt đầu chuẩn bị bữa ăn tối cho hắn.
Trước đây bà Lăng làm công việc dọn dẹp văn phòng của hắn ở Bắc Kinh. Rất nhiều đêm hắn quan sát những động tác lặng lẽ của bà, người phụ nữ cần mẫn nhất trong số những người làm lao công trong tòa nhà.
Vào một tối, hắn hỏi bà sống thế nào. Khi nghe bà nói ngoài công việc lau chùi vệ sinh văn phòng, bà còn biết làm các bữa tiệc truyền thống cho các đám ma chay cưới hỏi, hắn đã đề nghị bà nấu cho hắn một bữa ăn vào tối hôm sau. Sau đó hắn đã nhận bà làm đầu bếp, trả bà một mức lương mà chưa bao giờ bà dám mơ tới. Con trai của bà di cư sang Luân Đôn, nên Nhã Như cũng đưa bà sang đó để nấu ăn cho hắn, mỗi khi hắn đến đây.
Tối đó bà nấu cho hắn nhiều món khác nhau. Không cần phải hỏi nhưng bà hiểu rõ hắn muốn gì. Bà đặt một ấm trà lên máy hâm nóng.
– Còn bữa điểm tâm sáng mai? Bà hỏi trước khi ra khỏi phòng.
– Không cần. Tôi tự làm lấy. Nhưng bữa tối bà nhớ làm cho tôi món cá nhé.
Nhã Như đi ngủ sớm. Từ khi rời Bắc Kinh, hắn chưa được ngủ liền mạch một giấc dài. Chuyến đi sang châu Âu, rồi chuyện tàu xe phức tạp đến thành phố nhỏ nằm ở miền Bắc Thụy Điển, rồi sau đó lại phải xuống Helsingborg, nơi hắn đột nhập vào căn nhà của Birgitta Roslin và đã nhìn thấy một mảnh giấy bên cạnh máy điện thoại, trên đó có những chữ cái được viết ra một cách dứt khoát “Luân Đôn”. Hắn nói với viên phi công lập tức xin giấy phép bay. Hắn đoán Birgitta Roslin sẽ tìm gặp Hà ở Luân Đôn. Và đúng như dự đoán, hắn đã nhìn thấy bà đến ngôi nhà đó, do dự một lúc rồi tạt vào tiệm cà phê bên kia đường.
Hắn ghi lại một vài chi tiết vào sổ nhật ký, tắt đèn và một lúc sau đã chìm vào giấc ngủ.
Ngày hôm sau bầu trời Luân Đôn phủ đầy những đám mây nặng nề. Nhã Như thức dậy như thường lệ vào lúc năm giờ sáng, nghe thời sự Trung Quốc qua làn sóng ngắn radio. Hắn tìm hiểu thông tin về những biến động chứng khoán trên máy tính, tiến hành các cuộc trao đổi với hai giám đốc trong công ty về các dự án đang tiến hành, rồi sau đó tự làm bữa ăn sáng đơn giản, chủ yếu là hoa quả.
Hắn rời căn hộ lúc bảy giờ, đút vào túi áo chiếc túi lụa nhỏ. Kế hoạch của hắn có một ẩn số: hắn không biết Birgitta Roslin ăn bữa sáng vào lúc mấy giờ. Nếu như khi hắn đến khách sạn mà Roslin đã ăn sáng rồi, thì buộc hắn phải lùi việc này sang sáng hôm sau.
Hắn đi đến quảng trường Trafalgar, đứng lại một lúc nghe người đàn ông chơi đại vĩ cầm trên đường phố. Hắn ném vài đồng tiền xu vào chiếc mũ, rồi tiếp tục đi. Hắn rẽ vào đường Irving rồi từ từ đi về phía khách sạn.
Hôm nay đứng ở quầy lễ tân là một người đàn ông mà hắn chưa gặp lần nào. Hắn đến bên quầy lấy một tấm thiếp của khách sạn, và tranh thủ liếc nhìn ngăn tủ nhưng không thấy tờ giấy trắng ấy nữa.
Cánh cửa vào phòng ăn điểm tâm để ngỏ. Hắn lập tức nhận ra Birgitta Roslin. Bà ngồi bên chiếc bàn gần cửa sổ và hình như cũng vừa mới bắt đầu ăn sáng, vì lúc này tách cà phê mới được đem đến.
Nhã Như nín thở suy nghĩ. Rồi hắn quyết định không chờ nữa. Sáng hôm nay câu chuyện của cụ Sáng sẽ kết thúc. Hắn cởi áo măng tô, quay sang người bồi bàn nói rằng mình không phải là khách trọ của khách sạn, nhưng muốn được ăn sáng ở đây và thanh toán tiền mặt. Anh bồi là người Hàn Quốc. Anh ta dẫn Nhã Như đến chiếc bàn kê chéo phía sau bàn mà bà Roslin đang ngồi ăn sáng.
Nhã Như đưa mắt nhìn phòng ăn. Bên bức tường gần chỗ bàn hắn là một lối thoát hiểm. Khi đứng dậy đi lấy một tờ báo, hắn muốn chắc chắn là cánh cửa này không bị khóa. Hắn quay lại bàn mình, gọi trà và chờ đợi. Còn nhiều bàn trống, nhưng Nhã Như đã thấy còn rất ít chìa khóa treo trên bảng, chứng tỏ khách sạn đang có nhiều khách trọ.
Hắn lấy điện thoại di động cùng tấm thiếp của khách sạn ra rồi bấm số và chờ đợi. Khi người trực lễ tân nhấc máy, Nhã Như bảo mình có tin nhắn quan trọng cho một bà khách tên là Birgitta Roslin.
– Tôi sẽ nối máy lên phòng bà ấy.
– Có lẽ bà ấy đã có mặt ở phòng ăn sáng của khách sạn. Bà ấy luôn ăn sáng vào giờ này. Ông làm ơn mời bà ấy đến bên máy được không.
– Tôi sẽ đến bảo với bà ấy.
Nhã Như giữ điện thoại di động trong tay cho tới lúc nhìn thấy người đàn ông trực lễ tân bước vào phòng ăn. Hắn tắt máy, nhét nó vào túi áo, và lấy ra chiếc túi vải lụa màu xanh nhạt. Lúc bà Roslin đứng dậy đi theo người đàn ông ra quầy lễ tân, Nhã Như đi đến bên bàn của bà. Hắn nhặt tờ báo của bà lên và nhìn quanh như thể muốn tin chắc rằng người khách ngồi ở đây thật sự đã đi rồi. Hắn chờ cho tới khi người bồi rót cà phê thêm cho khách ở bàn bên cạnh xong, mắt không rời khỏi khung cửa dẫn ra quầy lễ tân. Khi người bồi quay đi, hắn nhanh nhẹn mở túi dốc bột thủy tinh vào cốc cà phê của bà Roslin.
Roslin quay lại phòng ăn. Lúc này Nhã Như đã trở về bàn của mình.
Đúng lúc đó, kính cửa sổ vỡ tung thành nhiều mảnh nhỏ, tiếng nổ khô khốc của một viên đạn hòa với tiếng thủy tinh vỡ. Nhã Như chẳng kịp tự nhủ rằng có gì đó không ổn đã xảy ra. Viên đạn bắn trúng vào thái dương bên phải, phá vỡ một mảng đầu khiến Nhã Như chết ngay tại chỗ, ngã gục lên mặt bàn làm chiếc bình hoa rơi xuống nền nhà vỡ tan.
Birgitta Roslin đứng sững lại như những người khách khác đang có mặt trong phòng ăn, các cô phục vụ và anh bồi đang cầm chiếc bát đựng trứng luộc trên tay. Có ai đó thét lên phá tan bầu không khí yên lặng. Birgitta Roslin trân trân nhìn xác người chết nằm vắt trên mặt bàn trải khăn trắng. Bà vẫn chưa biết việc này có liên quan đến mình. Trong cơn hoảng hốt, bà thoáng cho rằng Luân Đôn bị khủng bố tấn công.
Rồi bà thấy như có người nắm lấy cánh tay mình. Bà tìm cách hất ra và quay đầu lại.
Hà đang đứng bên bà.
– Đừng hỏi gì cả, Hà nói nhỏ. Bà hãy đi với tôi. Chúng ta không thể ở lại đây.
Hà đẩy bà Roslin đi ra sảnh.
– Bà đưa chìa khóa phòng cho tôi, Hà nói tiếp. Tôi lên phòng thu dọn đồ đạc của bà, trong lúc bà thanh toán tiền trọ.
– Chuyện gì xảy ra vậy?
– Bà đừng hỏi nữa. Bà hãy làm những gì tôi bảo.
Hà bóp chặt cánh tay của bà đến mức bà thấy đau. Lúc này trong sảnh đã trở nên rất lộn xộn, mọi người vừa kêu thét vừa chạy đi chạy lại không biết phải làm gì.
– Bà phải thanh toán tiền trọ bằng được, Hà nói. Chúng ta phải rời khỏi đây ngay.
Birgitta Roslin đã hiểu. Không phải là hiểu chuyện gì đã xảy ra, mà hiểu điều Hà nói. Bà đứng bên quầy lễ tân, to tiếng với người trực lúc này đang hết sức lúng túng, bảo anh ta rằng bà muốn thanh toán. Hà biến mất trong thang máy, mười phút sau đã quay xuống chỗ Birgitta Roslin cùng với chiếc túi du lịch. Lúc này cảnh sát và nhóm cấp cứu đã có mặt ở sảnh.
Birgitta Roslin đã thanh toán xong.
– Bây giờ chúng ta bình tĩnh đi ra ngoài. Nếu có ai định giữ bà lại, bà nói là mình phải ra sân bay ngay.
Hai người len qua cửa ra ngoài đường mà không bị ai giữ lại. Birgitta Roslin dừng lại nhìn khách sạn một lần nữa. Hà lại kéo tay bà.
– Bà đừng quay nhìn lại nữa. Bà hãy đi bình thường. Chúng ta sẽ nói chuyện với nhau sau.
Hai người về tới nhà của Hà, đi lên căn hộ của cô ở tầng hai. Tại đó có một thanh niên chừng hai mươi tuổi đang ngồi chờ. Cậu ta trông xanh xao và lo lắng nói gì đó với Hà. Cậu ta có vẻ bị sốc. Bà Roslin để ý thấy Hà tìm cách làm cho cậu ta bình tĩnh lại. Hà dẫn cậu ta sang phòng bên cạnh trong khi vẫn nói chuyện với cậu ta. Lúc hai người quay lại, bà Roslin thấy cậu thanh niên mang theo một bọc thuôn dài và biến ra khỏi cửa. Hà đến đứng bên cửa sổ nhìn xuống dưới đường. Bà Birgitta Roslin gieo mình xuống chiếc ghế bành. Mãi tới lúc này bà mới ý thức được rõ là người đàn ông bị bắn ấy đã ngã gục lên chiếc bàn ngay cạnh bàn mình.
Bà nhìn cô Hà lúc này đã rời khỏi cửa sổ. Trông cô cũng rất xanh xao. Bà thấy người cô run lên bần bật.
– Có chuyện gì xảy ra vậy? Bà hỏi.
– Đáng lẽ ra người chết phải là bà, Hà nói. Anh ta muốn giết bà. Tôi phải nói ra điều đó.
Bà Roslin lắc đầu.
– Cô nên nói rõ ràng một chút. Nếu không tôi chẳng hiểu gì cả.
– Người đàn ông bị giết ấy là Nhã Như. Em trai của chị Hồng Quế. Anh ta đang tìm cách giết bà. Đến phút cuối cùng chúng tôi đã chặn được anh ta.
– “Chúng tôi” là ai vậy?
– Bà đã có thể bị giết chết, chỉ vì đã không đưa cho tôi đúng tên khách sạn bà ở. Vì sao bà phải làm như vậy? Bà không tin tôi sao? Chẳng lẽ bà lại rối trí tới mức không thể phân biệt được ai là bạn ai là thù sao?
Bà Roslin giơ cao hai tay.
– Cô nói nhanh quá, tôi không theo kịp. Em trai của bà Hồng Quế? Tại sao anh ta lại phải giết tôi chứ?
– Vì bà biết quá nhiều về sự kiện xảy ra ở đất nước bà. Tất cả những người bị giết ấy. Hẳn Nhã Như là kẻ đứng sau chuyện đó. Dù thế nào thì chị Quế cũng phỏng đoán như thế.
– Nhưng tại sao?
– Tôi không thể trả lời được. Vì tôi không biết.
Bà Roslin ngồi im lặng ở đó. Lúc Hà định nói tiếp, bà giơ tay cản lại.
– Ban nãy cô đã nói “chúng tôi”, có phải cậu thanh niên vừa đi khỏi đây mang theo một cái bọc không? Một khẩu súng à?
– Đúng. Tôi đã bảo Sáng chú ý đến bà. Nhưng ở cái khách sạn mà bà nói với tôi, không có tên bà. Chính Sáng đã nhận thấy có một khách sạn ngay cạnh đó. Chúng tôi đã nhìn thấy bà qua cửa sổ. Khi Nhã Như đến gần bàn của bà, chúng tôi hiểu ra rằng anh ta muốn giết bà. Vậy là Sáng đã lấy súng ra và nhả đạn. Việc diễn ra quá nhanh nên không một ai trên đường kịp hiểu. Phần nhiều người ta nghĩ đó là tiếng ống xả xe mô tô. Sáng đã giấu khẩu súng dưới áo măng tô.
– Sáng ư?
– Con trai của chị Hồng Quế. Chị ấy đã bảo nó sang gặp tôi.
– Tại sao?
– Chị Hồng Quế không chỉ lo lắng cho mạng sống của mình và của bà. Chị ấy cũng lo lắng cho cả cậu con trai. Sáng tin rằng Nhã Như đã cho người giết chị Hồng Quế. Nó đã sẵn sàng trả thù.
Birgitta Roslin thấy sợ. Cảm giác của bà ngày càng rõ nét hơn, đau đớn hơn: giờ bà đã biết chuyện gì đã xảy ra. Chính là cái điều mà trước kia bà đã linh cảm thấy, nhưng rồi lại rũ bỏ nó, vì thấy nó không hợp lý: chính một sự kiện trong quá khứ đã gây ra vụ tàn sát ở Hesjövallen.
Bà đưa tay nắm lấy cánh tay Hà, nước mắt lưng tròng.
– Giờ thì mọi chuyện đã kết thúc rồi chứ?
– Tôi tin là thế. Bà có thể trở về nhà. Nhã Như đã chết. Tất cả đã dừng lại. Cả bà và tôi đều không biết chuyện gì sẽ xảy ra tiếp sau. Nhưng bất luận thế nào bà cũng không còn liên quan đến chuyện này nữa.
– Làm sao tôi có thể tiếp tục sống với tất cả những chuyện này mà không thực sự hiểu rõ?
– Tôi sẽ tìm cách giúp bà.
– Thế còn Sáng?
– Chắc chắn cảnh sát sẽ tìm nhân chứng, họ sẽ nói rằng một người Trung Quốc bắn chết một người Trung Quốc. Nhưng sẽ không ai có thể nhận ra Sáng.
– Cậu ấy đã cứu mạng tôi.
– Và có thể là cả mạng của nó nữa, vì Nhã Như đã chết.
– Nhưng người đàn ông, em trai của bà Hồng Quế, là ai mà ai cũng sợ anh ta?
Hà lắc đầu.
– Tôi không biết liệu mình có thể trả lời được câu hỏi này không. Đứng trên nhiều phương diện, anh ta là đại diện cho một đất nước Trung Hoa mới mà cả chị Hồng Quế cả chị Mã Lý cả tôi cả Sáng đều không muốn. Hiện nhiều xung đột lớn đang xoay quanh tương lai của đất nước chúng tôi. Không một ai biết ngày mai sẽ như thế nào. Mọi thứ chưa đâu vào đâu cả. Vậy nên ai cũng làm điều mà mình cho là đúng.
– Như giết chết Nhã Như?
– Đó là việc cần thiết.
Birgitta Roslin đi vào bếp uống một cốc nước. Lúc đặt cốc nước xuống, bà biết đã đến lúc phải trở về nhà. Tất cả những cái gì còn chưa rõ có thể chờ đợi. Lúc này bà muốn trở về, rời khỏi Luân Đôn, rời xa chuyện đã xảy ra.
Hà tiễn bà đến sân bay Heathrow. Sau bốn tiếng chờ đợi cuối cùng bà cũng đã có thể lên chuyến bay đến Copenhagen. Hà muốn ở lại chờ cho đến khi máy bay cất cánh, nhưng bà Roslin bảo cô cứ yên tâm đi về.
Khi về đến Helsingborg, bà mở một chai rượu vang rồi uống cạn trong đêm hôm đó. Bà ngủ gần như suốt cả ngày hôm sau. Bà thức dậy khi nghe có tiếng chuông điện thoại. Đó là Staffan gọi về báo chuyến du ngoạn bằng thuyền buồm của họ đã kết thúc. Bà Roslin không tự chủ được nữa, bật khóc nức nở.
– Sao vậy? Có chuyện gì xảy ra vậy?
– Không có chuyện gì cả, em chỉ mệt thôi.
– Bố con anh về nhà nhé?
– Đừng. Hoàn toàn không có chuyện gì cả. Nếu anh muốn giúp em, thì chỉ cần anh tin những điều em nói là không có chuyện gì xảy ra cả. Hãy kể cho em nghe về chuyến du ngoạn thuyền buồm.
Họ nói chuyện với nhau rất lâu. Bà nài ông hãy kể thật chi tiết về chuyến du ngoạn, kế hoạch của họ cho buổi tối hôm nay và ngày hôm sau. Trước khi gác máy, bà đã làm cho ông yên tâm.
Bản thân bà cũng thấy bình tâm trở lại.
Ngày hôm sau, bà đi làm. Hà cũng gọi điện cho bà.
– Không lâu nữa tôi sẽ có nhiều chuyện để kể cho bà, cô nói.
– Tôi hứa với cô là sẽ chú ý lắng nghe. Cậu Sáng thế nào?
– Nó bị sốc, sợ hãi, thương nhớ mẹ. Nhưng rất có nghị lực.
Sau khi kết thúc cuộc trò chuyện, bà vẫn ngồi lại bên chiếc bàn bếp.
Bà nhắm mắt.
Hình ảnh người đàn ông ngã gục trên chiếc bàn ở phòng ăn trong khách sạn cũng đã bắt đầu nhạt dần đi.