Người Đàn Ông Đến Từ Bắc Kinh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 51 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
35

❊ ❊ ❊

Người phụ nữ đó tên là Hà, rất có thể là em gái của bà Hồng Quế. Bà Birgitta Roslin lập tức nhận thấy sự giống nhau đến ngạc nhiên khi lại gần người phụ nữ này: cùng dáng vẻ nghiêm túc, quý phái. Hà nói tiếng Anh rất chuẩn khi giới thiệu về mình, hệt như bà Hồng Quế.

– Tôi có một tin cho bà, nếu như tôi không làm phiền bà, cô ta nói.

– Ngày làm việc của tôi đã hết.

– Tôi không hiểu một câu nào trong phiên xử, Hà nói, nhưng tôi để ý thấy sự kính trọng dành cho bà.

– Trước đây ít tháng tôi cũng đã có mặt trong một phòng xử án ở Trung Quốc. Ở đó cũng có một nữ thẩm phán ngồi ghế chủ tọa, và bà ấy cũng nhận được sự kính trọng.

Birgitta Roslin hỏi Hà có muốn đến một tiệm cà phê hoặc một tiệm ăn không. Nhưng Hà chỉ về khu công viên gần đấy, nơi có nhiều ghế băng.

Hai người ngồi xuống. Một tốp mấy người già say rượu đang khật khưỡng đi lại ở gần đó, Roslin đã thấy họ nhiều lần. Bà còn nhớ lờ mờ đã có lần xử và kết án một người trong số họ, nhưng không nhớ vì sao. Đó là những cư dân quen thuộc của công viên này. Những người say rượu trong các công viên và những người làm vườn cô đơn cào lá rụng trên các nghĩa trang là trụ cột của xã hội Thụy Điển. Thử tượng tượng nếu không còn sự hiện diện của họ nữa, thì còn lại cái gì? Bà thường hay suy nghĩ về điều này.

Trong đám người say xỉn có một người da đen. Ngay cả ở đây, người ta lại thấy một xã hội đa văn hóa mới...

Birgitta mỉm cười.

– Mùa xuân đã đến, bà nói.

– Tôi đến đây để báo cho bà biết bà Hồng Quế đã chết.

Đây là điều Roslin hoàn toàn không ngờ tới. Một cú sốc giáng xuống bà. Và không phải là nỗi buồn thương, mà là một nỗi sợ hãi tức thì.

– Chuyện gì đã xảy ra vậy?

– Trong một chuyến đi châu Phi, chị ấy đã bị chết trong một vụ tai nạn ô tô. Em trai của chị ấy cũng có mặt ở đó. Nhưng anh ta không bị thương. Có thể anh ta không ngồi cùng xe. Tôi không biết rõ chi tiết.

Roslin im lặng trân trân nhìn Hà, để cho các câu nói lắng xuống, cố hiểu được chúng. Bóng tối bất ngờ đổ lên ngày mùa xuân đang tươi màu.

– Việc này xảy ra khi nào vậy?

– Cách đây hai tháng.

– Ở châu Phi sao?

– Chị Hồng Quế là thành viên của đoàn đại biểu Trung Quốc đi thăm Zimbabwe. Ông Kế, bộ trưởng Bộ Thương mại của chúng tôi là trưởng đoàn. Chuyến đi thăm của đoàn được xem như là một chuyến đi rất quan trọng. Tai nạn này xảy ra trong chuyến sang Mozambique.

Hai kẻ say rượu bỗng to tiếng cãi vã rồi lao vào đánh nhau.

– Chúng ta đi thôi, Roslin nói rồi đứng lên.

Bà đưa Hà vào một hiệu bánh ngọt ở gần đó, nơi vào lúc này họ là hai người khách duy nhất. Roslin đề nghị cô bán hàng vặn nhạc nhỏ lại.

Hà gọi một chai nước khoáng còn Roslin uống cà phê.

– Cô kể đi, Roslin đề nghị. Từng chi tiết mà cô biết, từ từ thôi. Tôi chỉ biết bà Hồng Quế có vài ngày nhưng với tôi, bà ấy đã như một người bạn. Còn bây giờ cô hãy cho tôi biết: cô là ai? Ai đã cử cô từ Bắc Kinh xa xôi đến đây? Và trước hết là: vì sao?

Hà lắc đầu.

– Tôi từ đến Luân Đôn. Chị Hồng Quế có rất nhiều bạn bè lúc này đang thương tiếc chị ấy. Chị Mã Lý, người cùng có mặt ở châu Phi với chị Hồng Quế, đã báo cho tôi biết tin buồn này. Chị ấy cũng đề nghị tôi liên lạc với bà.

– Mã Lý ư?

– Một người bạn gái của chị Quế.

– Cô bắt đầu lại từ đầu đi, Roslin đề nghị. Tôi vẫn còn chưa thể nào tin được vào tai mình.

– Không một ai trong chúng ta tin được điều đó. Tuy nhiên nó đã xảy ra. Chị Mã Lý đã viết thư kể cho tôi mọi chuyện.

Birgitta Roslin chờ Hà kể tiếp. Bỗng bà có cảm giác rằng khoảng lặng này là có hàm ý. Hà đã tạo ra một khoảng bí mật quanh hai người.

– Các nguồn tin rất khác nhau, Hà nói. Theo những gì chị Mã Lý viết cho tôi, cái chết của chị Quế xem ra như là một vụ sắp đặt.

– Bà ấy nghe được từ ai?

– Từ Nhã Như, em trai của chị Quế. Theo anh ta cho biết, chị Quế muốn đi sâu vào trong rừng để được nhìn thấy những con thú hoang dã. Có thể người lái xe đã phóng quá tốc độ. Chiếc xe bị lật và chị Quế chết ngay tại chỗ. Chiếc xe bùng cháy vì xăng chảy ra.

Roslin lắc đầu. Đơn giản là bà không thể hình dung ra được là bà Hồng Quế đã chết, là nạn nhân của một vụ tai nạn ô tô tầm thường như vậy.

– Một vài ngày trước khi chết, chị Quế đã có một cuộc nói chuyện rất dài với chị Mã Lý, Hà nói tiếp, về chuyện gì thì tôi không được biết. Chị Mã Lý không tiết lộ những bí mật của bạn bè. Nhưng chị Quế đã yêu cầu chị ấy một việc rõ ràng: nếu có chuyện gì xảy ra với chị ấy, phải báo cho bà biết.

– Tại sao lại là tôi? Tôi chỉ vừa mới biết bà ấy.

– Tôi không biết gì về chuyện này.

– Nhưng hẳn Mã Lý đã giải thích cho cô?

– Chị Quế muốn bà biết rằng tôi sống tại Luân Đôn, phòng trường hợp có lúc nào đó bà cần đến sự giúp đỡ của tôi.

Birgitta Roslin nhận thấy nỗi sợ của mình đang tăng lên. Sự trùng hợp thật đáng lo ngại, bà nghĩ. Mình bị trấn lột ở Bắc Kinh, Hồng Quế là nạn nhân của một vụ tai nạn ở châu Phi. Hai sự kiện này có cái gì đó liên quan với nhau.

Đặc biệt, lời nhắn nhủ ấy khiến bà khiếp hãi: Nếu có khi nào cần đến sự giúp đỡ, chị nên biết rằng ở Luân Đôn có một người phụ nữ tên là Hà.

– Nhưng tôi không hiểu những điều cô nói. Cô đến đây chỉ là để cảnh báo tôi? Chuyện gì có thể xảy ra?

– Chị Mã Lý không nói chi tiết.

– Nhưng những gì được viết trong thư đã đủ để cô phải đến đây sao? Cô biết tôi ở đâu. Cô biết làm thế nào để gặp được tôi. Chính xác thì Mã Lý đã viết những gì?

– Chị Quế đã kể cho chị Mã Lý nghe về một nữ thẩm phán người Thụy Điển, bà Roslin, một người bạn lâu năm của chị ấy. Chị ấy đã kể về vụ trấn lột đáng tiếc và cuộc điều tra tỉ mỉ của cảnh sát.

– Có thật bà ấy đã nói vậy không?

– Tôi trích dẫn bức thư. Từng câu từng chữ một. Ngoài ra chị Quế còn nói đến một tấm ảnh mà bà đã cho chị ấy xem.

Roslin rùng mình.

– Thật vậy không? Một tấm ảnh? Bà ấy còn nói thêm gì nữa không?

– Một người đàn ông Trung Quốc mà bà cho rằng có liên quan đến sự kiện ở Thụy Điển.

– Bà ấy có nói gì về người đàn ông đó không?

– Chị Quế lo lắng. Chị ấy đã phát hiện ra điều gì đó.

– Điều gì?

– Tôi không biết.

Roslin ngồi im lặng. Bà cố hiểu thông điệp của Hồng Quế. Đó chỉ có thể là một tiếng kêu cảnh báo từ thế giới bên kia. Hồng Quế e sợ sẽ có chuyện gì đó xảy ra với mình? Hoặc là bà ấy biết Birgitta đang gặp nguy hiểm? Hồng Quế đã tìm ra người đàn ông trong ảnh là ai? Nhưng tại sao bà ấy không nói ra?

Birgitta càng lúc càng thấy lo lắng. Hà im lặng nhìn bà, chờ đợi.

– Tôi còn một câu hỏi nữa mà cô cần phải trả lời tôi. Cô là ai?

– Tôi sinh sống ở Luân Đôn từ đầu những năm 1990. Đầu tiên tôi đến đó với chức bí thư ở sứ quán. Sau này tôi được đề bạt làm trưởng phòng thương vụ Anh-Trung. Hiện nay tôi là cố vấn độc lập cho các công ty của Trung Quốc muốn thiết lập cơ sở ở Anh. Nhưng không chỉ ở đó. Tôi cũng đảm nhận việc xây dựng một trung tâm hội nghị lớn gần một thành phố Thụy Điển có tên là Kalmar. Công việc đã đưa tôi đi khắp châu Âu.

– Do đâu mà cô quen biết bà Hồng Quế?

Câu trả lời của Hà không làm cho Birgitta Roslin ngạc nhiên.

– Chúng tôi có họ hàng với nhau. Chị em họ. Chúng tôi biết rõ nhau từ hồi còn nhỏ. Mặc dù chị Quế lớn hơn tôi mười tuổi.

Birgitta Roslin nghĩ đến câu Hồng Quế nói: họ là những người bạn lâu năm. Trong đó ẩn chứa một thông điệp. Điều đó có nghĩa là tình bạn ngắn ngủi của họ đã khá sâu sắc, đã có thể đặt niềm tin nơi nhau, hoặc thậm chí còn cần thiết phải thế?

– Trong thư đã viết những gì về tôi?

– Chị Quế muốn báo cho bà biết càng sớm càng tốt.

– Rồi sao nữa?

– Như tôi đã nói. Bà cần phải biết rằng có tôi ở đây, nếu có chuyện gì xảy ra.

– Tôi hoàn toàn không hiểu. Chuyện gì có thể xảy ra?

– Tôi không biết.

Bà Birgitta bỗng cảnh giác. Cho đến lúc này Hà tỏ ra chân thật. Nhưng cô ấy lại lảng tránh câu hỏi này. Cô ấy biết nhiều hơn những điều cô ấy đã nói ra, Roslin thầm nghĩ.

– Trung Quốc là một đất nước rộng lớn, Roslin nói. Dưới con mắt quan sát của một người phương Tây không sành sỏi, họ sẽ dễ dàng thấy chỗ nào cũng thật bí hiểm. Tôi cũng không ngoại lệ. Chuyện với bà Hồng Quế cũng vậy. Tôi không bao giờ hiểu hết được ý của bà ấy.

– Trung Quốc không bí hiểm hơn bất cứ nước nào trên thế giới. Đó chỉ là một chuyện hoang đường do người phương Tây nghĩ ra. Người châu Âu không bao giờ công nhận rằng họ không hiểu chúng tôi nghĩ như thế nào. Ngay cả việc chúng tôi đã có rất nhiều phát kiến mang tính quyết định trước họ, họ cũng không chấp nhận. Thuốc súng, la bàn, kỹ thuật in ấn, tất cả những thứ này đều khởi thủy từ Trung Quốc. Ngay cả trong nghệ thuật đo lường thời gian, người châu Âu cũng không phải là người đầu tiên nghĩ ra. Hàng ngàn năm trước khi họ bắt đầu chế tạo ra đồng hồ cơ học, chúng tôi đã có đồng hồ nước, đồng hồ cát. Họ không bao giờ bỏ qua cho chúng tôi chuyện này. Chính vì lẽ đó mà họ nói chúng tôi là lạ lùng và bí hiểm.

– Cô gặp bà Quế lần cuối khi nào?

– Cách đây bốn năm. Chị ấy tới Luân Đôn. Chúng tôi đã ở cùng nhau vài tối. Khi ấy là mùa hè. Chị Quế rất thích những cuộc dạo chơi trên Hampstead Heath và đã hỏi tôi cặn kẽ xem người Anh đánh giá như thế nào về sự phát triển ở Trung Quốc. Những câu hỏi của chị ấy rất khẩn khoản và tỏ ra sốt ruột khi những câu trả lời của tôi không rõ ràng. Ngoài ra chị ấy rất thích xem chơi cricket.

– Vì sao?

– Chị ấy không nói ra. Chị ấy có những sở thích khiến người ta bất ngờ.

– Tôi không có hứng thú đặc biệt đối với thể thao. Nhưng với tôi, cricket đúng là một môn khó hiểu, tôi không tài nào hiểu nổi tại sao đội này hoặc đội kia lại thắng.

– Tôi cho rằng niềm ham thích ngây ngô của chị ấy đối với môn cricket xuất phát từ việc chị ấy mong muốn hiểu người Anh bằng cách nghiên cứu môn thể thao quốc gia của họ. Chị Quế là một người rất độc đáo.

Hà nhìn đồng hồ đeo tay.

– Chiều nay tôi phải bay từ Copenhagen về Luân Đôn.

Birgitta Roslin còn do dự, nhưng rồi cũng đưa ra câu hỏi đã dần rõ nét trong mình.

– Không lẽ đêm hôm qua cô đã có mặt ở nhà tôi? Trong phòng làm việc của tôi?

Hà hình như không hiểu câu hỏi của bà Roslin. Bà nhắc lại một lần nữa. Hà lắc đầu vẻ sững sờ.

– Tôi ngủ ở khách sạn. Vì sao tôi lại phải đột nhập vào nhà của bà như một tên trộm?

– Tôi chỉ hỏi vậy thôi. Tôi bị đánh thức bởi một tiếng động.

– Nhưng không có ai vào nhà chứ?

– Tôi không biết.

– Có bị mất thứ gì không?

– Tôi chỉ nhận thấy giấy tờ của mình bị đảo lộn.

– Không, Hà nói. Không phải tôi.

– Cô đến đây một mình à?

– Không ai biết tôi đi Thụy Điển. Kể cả chồng và các con tôi. Họ nghĩ là tôi ở Brussels, như thường lệ.

Hà lấy từ trong túi xách tay ra một tấm danh thiếp, đặt nó xuống trước mặt bà Roslin. Tấm danh thiếp in đầy đủ tên của cô. Hà Mai Vân, địa chỉ và số điện thoại.

– Nhà cô nằm ở khu nào?

– Ở khu phố Tàu. Vào mùa hè đường phố ồn ào suốt đêm. Nhưng tuy vậy tôi vẫn thích sống ở đó. Đó là một Trung Quốc nhỏ giữa lòng Luân Đôn.

Birgitta Roslin cất tấm danh thiếp vào túi. Bà cùng đi với Hà ra ga và lo để cô lên đúng tàu.

– Chồng tôi làm nghề soát vé tàu, bà nói. Còn chồng cô làm gì?

– Anh ấy làm bồi bàn. Cũng chính vì thế mà chúng tôi sống ở phố Tàu. Chúng tôi sống ngay phía trên nhà hàng nơi anh ấy làm việc.

Birgitta Roslin nhìn theo đoàn tàu biến mất trong đường hầm.

Bà trở về nhà và lúc sửa soạn bữa tối mới nhận ra mình mệt mỏi chừng nào. Bà muốn xem chương trình thời sự, nhưng đã ngủ thiếp đi trước vô tuyến khi nằm trên sofa. Chuông điện thoại đánh thức bà dậy. Đó là Staffan gọi về từ Funchal. Đường dây không tốt, Staffan phải nói rất to để át đi tiếng lạo xạo trong máy. Dù sao thì bà cũng hiểu được mọi chuyện ở chỗ ông đều ổn và cả nhà rất vui. Cuộc điện thoại bỗng nhiên bị cắt. Bà chờ ông gọi lại, nhưng không thấy. Bà lại nằm xuống sofa. Cái chết của Hồng Quế dường như rất phi thực với bà, bà khó mà tin nổi. Và có gì đó không ổn trong câu chuyện mà Hà kể.

Bà bắt đầu thấy tiếc là đã không hỏi thêm. Có lẽ vì sau phiên tòa bà đã quá kiệt sức nên đơn giản là không làm được việc đó. Còn lúc này thì đã quá muộn. Hà đang trên đường trở về khu phố Tàu ở Anh quốc.

Birgitta Roslin thắp một cây nến tưởng nhớ Hồng Quế và tìm trên giá sách tấm bản đồ Luân Đôn. Tiệm ăn ấy nằm kề quảng trường Leicester. Đã có lần bà với Staffan ngồi trong một công viên nhỏ ở đó quan sát mọi người. Đó là một ngày cuối thu, hai vợ chồng bà đã có chuyến du lịch không chuẩn bị trước, một kỷ niệm vô giá.

Bà lên giường đi ngủ sớm vì ngày mai có phiên xử. Vụ người phụ nữ ngược đãi mẹ đẻ, không phức tạp như vụ bốn người Việt Nam. Nhưng bà cũng không cho phép mình mệt mỏi khi ngồi vào chiếc ghế thẩm phán. Lòng tự trọng không cho phép bà làm như vậy. Để chắc chắn không nằm thức trắng, bà uống nửa viên thuốc ngủ trước khi tắt đèn.

Vụ xử ngày hôm sau xem ra còn đơn giản hơn dự kiến. Bị cáo bỗng nhiên thay đổi lời khai và đã không quanh co mà thú nhận tất cả những điều công tố viên đưa ra để buộc tội. Bên bào chữa cũng hoàn toàn không đưa ra những tình tiết bất ngờ nào khiến phiên tòa phải kéo dài vô ích, cho nên đến bốn giờ kém mười lăm phút bà Roslin đã kết thúc phiên xử và ấn định ngày tuyên án vào cuối tháng.

Lúc trở về phòng làm việc, bà nhấc ống nghe và quay số điện thoại của sở cảnh sát Hudiksvall mà không hề tính trước.

Dường như bà nhận ra giọng cô gái trẻ trực tổng đài. Giọng nói ấy lúc này không còn cáu kỉnh như mùa đông trước.

– Tôi muốn được nói chuyện với bà Vivi Sundberg. Nếu như bà ấy có ở đó.

– Tôi vừa mới nhìn thấy bà ấy đi qua đây. Tôi được phép báo ai là người muốn gặp bà ấy?

– Nữ thẩm phán từ Helsingborg. Thế là đủ.

Bà Vivi Sundberg lập tức lên tiếng.

– Birgitta Roslin phải không? Đã lâu lắm rồi chúng ta không nói chuyện.

– Bỗng nhiên tôi muốn gọi cho bà.

– Những người Trung Quốc mới? Giả thuyết mới ư?

Birgitta Roslin nhận ra có chút mỉa mai trong giọng nói của Sundberg và thiếu chút nữa đã trả lời rằng mình có thể phù phép từ trong mũ ra được rất nhiều người Trung Quốc. Nhưng bà chỉ biện minh cho cú điện thoại của mình là vì tò mò mà thôi.

– Chúng tôi vẫn cho rằng thủ phạm chính là người đàn ông đáng tiếc thay đã tự sát ấy, Vivi Sundberg nói. Ngay cả khi ông ta đã chết, cuộc điều tra vẫn được tiếp tục. Chúng tôi không thể kết án được người đã chết, nhưng ít nhất chúng tôi cũng cố tìm cách giải thích cho những người đang sống rằng chuyện gì đã xảy ra và nhất là tại sao.

– Các vị sẽ làm được điều đó?

– Hãy còn quá sớm để trả lời điều đó.

– Các vị có hướng điều tra mới sao?

– Tôi không thể nói gì về điều ấy.

– Không có nghi phạm nào khác sao? Không có cách giải thích nào khả dĩ à?

– Về điều này tôi cũng không thể nói được. Chúng tôi vẫn đang trong quá trình điều tra rất khó khăn với nhiều tình tiết phức tạp.

– Nhưng bà vẫn tin rằng đó là người đàn ông mà bà đã bắt giam chứ? Và người đó thật sự có lý do để giết chết mười chín người?

– Xem ra là như vậy. Tôi có thể nói cho bà biết, chúng tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ đáng kể của các nhà chuyên môn. Các nhà tội phạm học, tâm lý học, và chưa phải đã hết, cả những cảnh sát hình sự giàu kinh nghiệm nhất và các kỹ thuật viên mà đất nước chúng ta có.

– Còn đứa bé? Bà Roslin nói. Nó đã chết, nhưng ban đầu không nằm trong kế hoạch. Bà giải thích điều này như thế nào?

– Chúng tôi vẫn chưa có lời giải thích rõ ràng. Nhưng đương nhiên chúng tôi hình dung được mọi chuyện đã xảy ra như thế nào.

– Có một điều tôi vẫn tự hỏi mình, bà Roslin tiếp tục. Trong số những người bị giết, có ai xem ra quan trọng hơn những nạn nhân khác không?

– Ý bà là gì?

– Có ai đó bị đối xử đặc biệt dã man hơn? Hoặc có thể là người bị giết trước tiên? Hoặc có thể là sau cùng?

– Đó cũng là những câu hỏi mà tôi không trả lời được.

– Bà chỉ cần nói xem những câu hỏi của tôi có khiến bà bất ngờ không?

– Không.

– Bà có lời giải thích nào về dải lụa đỏ không?

– Không.

– Tôi đã sang Trung Quốc, bà Roslin nói. Tôi đã đến Vạn Lý Trường Thành. Và tôi đã bị tấn công, phải trải qua một ngày vất vả với cảnh sát.

– Vậy sao? Bà có bị thương không?

– Không. Tôi chỉ sợ thôi. Nhưng tôi đã nhận lại được chiếc túi xách bị cướp.

– Dù sao bà cũng đã gặp may.

– Phải. Tôi đã gặp may. Cảm ơn bà đã dành thời gian cho tôi.

Sau khi kết thúc cuộc điện thoại, Birgitta Roslin còn ngồi lại một hồi lâu trong phòng làm việc. Bà không hề nghi ngờ, các chuyên gia được triệu tập cho cuộc điều tra sẽ phản ứng khi họ tìm thấy dù chỉ là một dấu hiệu rất nhỏ cho biết cuộc điều tra đã rơi vào ngõ cụt.

Buổi chiều tối bà đi dạo khá lâu và sau đó dành mấy tiếng đồng hồ để xem các tạp chí mới xuất bản về các loại rượu vang vừa được nhập cảng. Bà ghi lại tên mấy loại vang đỏ của Ý mà bà muốn đặt mua. Sau đó bà xem trong vô tuyến một bộ phim cũ mà trước kia Staffan và bà đã có lần xem. Jane Fonda đóng vai gái điếm, màu sắc nhợt nhạt, lạt lẽo, cốt truyện kiểu cách và bà phải bật cười vì cách ăn mặc kỳ cục theo mốt thời bấy giờ, đặc biệt là đôi giày đế dày, như cục gạch.

Bà đang thiu thiu ngủ thì điện thoại đổ chuông. Đồng hồ trên mặt tủ đầu giường chỉ mười hai giờ kém mười lăm. Tiếng chuông im bặt. Có lẽ là Staffan hoặc các con bà gọi vào máy di động. Bà lại tắt đèn. Điện thoại lại đổ chuông. Bà ngồi bật dậy, với tay nhấc điện thoại trên mặt bàn.

– Bà Birgitta Roslin phải không? Tôi lấy làm tiếc phải gọi điện cho bà vào giờ này. Bà vẫn nghe đấy chứ? Bà có nhận ra tôi không?

Bà biết giọng nói này, nhưng không nhớ là giọng của ai. Đó là một người đàn ông đã nhiều tuổi.

– Không, tôi không nhớ ra được.

– Sture Hermansson.

– Tôi biết ông à?

– Nói là biết thì hơi quá, nhưng cách đây một vài tháng ở Hudiksvall bà đã đến khách sạn của tôi, khách sạn Eden ấy mà.

– Vậy thì tôi nhớ ra rồi.

– Xin lỗi vì gọi cho bà muộn thế này.

– Không có gì. Tôi nghĩ ông có lý do của mình.

– Anh ta đã quay trở lại.

Ông Sture Hermansson hạ thấp giọng lúc nói câu cuối cùng. Bà hiểu ngay ra ông ấy định nói gì.

– Người đàn ông Trung Quốc?

– Chính xác là anh ta.

– Ông có chắc chắn không?

– Anh ta mới đến được một lúc; không đặt phòng trước. Tôi vừa mới trao chìa khóa phòng cho anh ta, hiện anh ta đang ở trong phòng số 12. Đúng như lần trước.

– Ông có chắc đó là anh ta không?

– Chính bà đã cầm cuộn băng. Nhưng tôi có cảm giác rằng chính là anh ta. Ít nhất thì người này vẫn sử dụng cái tên cũ.

Birgitta Roslin suy ngẫm xem mình phải làm gì. Tim bà đập thình thịch trong lồng ngực.

Ông Sture Hermansson làm gián đoạn dòng suy nghĩ của bà.

– À, còn một việc nữa.

– Việc gì vậy?

– Anh ta có hỏi về bà.

Birgitta Roslin nín thở. Nỗi sợ hãi đã giáng xuống với tất cả sức mạnh của nó.

– Không thể thế được.

– Tiếng Anh của tôi không khá. Nói thật, mãi một lúc tôi mới hiểu anh ta hỏi về ai. Một cái tên nghe như là Bilgitta Loslin.

– Ông đã trả lời anh ta thế nào?

– Rằng bà sống ở Helsingborg. Anh ta tỏ ra ngạc nhiên. Tôi cho rằng anh ta cứ tưởng bà cũng sống ở Hudiksvall.

– Ông còn nói thêm gì nữa không?

– Tôi đã cho anh ta địa chỉ cùng số điện thoại của bà, vì ngày đó bà đã để lại số và bảo tôi có gì xảy ra thì báo cho bà biết. Và lúc này thì tôi đã làm được việc đó.

Ông già chết tiệt, bà thầm nghĩ. Nỗi hoảng sợ trỗi dậy trong bà.

– Ông giúp tôi một việc, khi nào anh ta rời khách sạn, ông hãy gọi điện báo cho tôi biết ngay. Kể cả vào ban đêm. Nhớ gọi điện cho tôi.

– Tôi nghĩ là bà muốn tôi báo với anh ta rằng tôi đã liên lạc được với bà?

– Tốt hơn là nên tránh việc đó .

– Đồng ý. Vậy thì tôi sẽ không nói gì cả.

Cuộc nói chuyện kết thúc. Birgitta Roslin không hiểu chuyện gì đang xảy ra.

Hồng Quế đã chết. Nhưng người đàn ông với dải lụa đỏ đã quay lại.

òn trẻ, nếu ai đó bảo với bà rằng đến một ngày nào đó bà sẽ sưu tầm rượu vang, chắc chắn bà sẽ không tin. Bà không những phủ nhận khả năng này mà thậm chí còn phẫn nộ nữa. Trong thời gian học đại học ở Lund, bà cảm thấy gắn bó với nhóm cánh
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.