Người Đàn Ông Đến Từ Bắc Kinh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 40 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2

❊ ❊ ❊

Khi thức dậy, Karsten Höglin nhớ mình đã mơ thấy một bức ảnh. Ông nằm trên giường và thấy giấc mơ đó từ từ quay trở lại như thể âm bản của giấc mơ đã gửi đến cho ông một bản sao vào tiềm thức vậy. Ông biết bức ảnh này. Đó là bức ảnh trắng đen chụp một người đàn ông ngồi trên chiếc giường sắt cũ kỹ, trên tường có treo một khẩu súng săn, và bên cạnh chân ông là một chiếc bô tiểu tiện vào ban đêm. Lần đầu tiên nhìn thấy bức ảnh này, ông đã thấy xúc động bởi nụ cười buồn bã của ông lão ấy. Ở ông lão có cái gì đó như là sợ sệt, lo âu và chờ đợi. Mãi sau này Karsten mới biết được điều gì ẩn náu phía sau tấm ảnh. Trước khi tấm ảnh được chụp một vài năm, ông lão đã vô tình bắn chết đứa con trai duy nhất của mình trong một lần đi săn vịt trời. Khẩu súng săn được treo lên tường từ dạo ấy, còn ông lão dần giam mình trong cô quạnh.

Trong hàng ngàn tấm ảnh và các phim âm bản, thì đây là tấm ảnh mà Karsten Höglin tự nhủ mình sẽ không bao giờ quên được và thầm mong giá như tự mình chụp được nó.

Đồng hồ để trên bàn chỉ bảy giờ ba mươi phút. Thông thường Karsten Höglin thức dậy rất sớm. Nhưng đêm qua ông ngủ không được ngon giấc, phần vì tấm đệm giường đã quá cũ kỹ. Ông định sẽ khiếu nại khi thanh toán tiền trọ rời khỏi đây.

Hôm nay là ngày thứ chín và cũng là ngày cuối cùng trong chuyến đi chụp ảnh tư liệu của ông về những làng mạc bị bỏ hoang và các địa danh có nguy cơ giảm dân số, nhờ được một tổ chức đài thọ kinh phí. Bây giờ Karsten Höglin đang có mặt ở Hudiksvall và chỉ còn phải chụp ảnh một ngôi làng nữa là xong việc. Việc Höglin chọn chính ngôi làng này để chụp là do một ông lão, khi đọc được dự án của ông, đã viết thư kể cho ông nghe về ngôi làng mình sống. Bức thư gây ấn tượng với Höglin tới mức ông đã quyết định sẽ kết thúc chuyến đi chụp ảnh ở ngôi làng đó.

Höglin đứng dậy, kéo rèm cửa sổ sang hai bên. Đêm qua tuyết rơi, bầu trời xám xịt, không ánh nắng. Phía dưới đường một phụ nữ ních chặt quần áo ấm lặng lẽ đạp xe qua. Höglin nhìn theo người đó và thầm hỏi hôm nay bao nhiêu độ. Âm năm độ, có thể âm bảy độ. Không hơn.

Ông mặc quần áo và đi thang máy xuống dưới nhà. Xe của ông đỗ ở sân sau khách sạn. Nơi đó rất an toàn. Tuy vậy ông vẫn cầm theo chiếc túi đựng máy ảnh lên phòng. Sẽ là cơn ác mộng tồi tệ nhất, nếu như vào một ngày nào đó ông đứng trước xe của mình và phát hiện ra chiếc túi đựng máy ảnh biến mất.

Bên quầy lễ tân là một cô gái trẻ, chưa đến đôi mươi. Ông nhận thấy cô gái trang điểm cẩu thả, nên từ bỏ ý định phàn nàn về chuyện chăn đệm. Dù gì ông cũng chẳng bao giờ quay lại khách sạn này nữa.

Trong phòng ăn điểm tâm chỉ có một vài người khách đang chúi đầu vào mấy tờ báo. Ông do dự một hồi lâu và rất muốn được lôi máy ảnh ra ghi lại hình ảnh căn phòng tĩnh lặng này. Nó đem đến cho ông ấn tượng về một nước Thụy Điển đã luôn là như thế. Những con người trầm mặc, chúi đầu vào mấy tờ báo và tách cà phê, ai cũng chỉ bận tâm với suy nghĩ, số phận của riêng mình.

Ông từ bỏ ý định chụp ảnh, rót cà phê cho mình, chọn hai chiếc bánh mì kẹp và một quả trứng luộc. Ông ăn nhanh vì không còn báo để đọc và cũng không thích phải ngồi ăn một mình mà không có gì để đọc.

Bên ngoài trời lạnh hơn là ông tưởng. Ông kiễng chân nhìn vào chiếc nhiệt kế bên cửa sổ của quầy lễ tân. Âm mười một độ. Thêm nữa, tuyết lại rơi, nhiệt độ sẽ còn tụt xuống nữa, ông nghĩ vậy. Cho đến lúc này mùa đông còn quá dễ chịu. Bây giờ cái lạnh mà chúng ta chờ đợi lâu nay đã đến.

Höglin để hành lý xuống hàng ghế sau, cho xe nổ máy, cạo tuyết trên kính chắn gió. Trên ghế cạnh lái có tấm bản đồ giao thông. Trước tiên, ông đi theo đường chính về hướng Nam và sẽ rẽ về hướng Sörforsa ở đoạn Iggesund. Sau đó sẽ có hai khả năng, từ hồ nước đi theo hướng Đông hoặc hướng Tây qua Storsjön hoặc Lägsjön. Đến trạm xăng lối vào Hudiksvall, người ta cho ông biết đường đi theo hướng Đông rất xấu. Tuy vậy, ông vẫn cho xe chạy theo đường này vì sẽ nhanh hơn. Lúc này trời sáng đẹp, ông đã có thể hình dung ra những ống khói vươn thẳng lên trời.

Vì rẽ nhầm đường về hướng Nam tới Näcksjö, nên phải mất bốn mươi phút sau, ông mới tới được Hesjövallen.

Hesjövallen nằm trong một thung lũng nhỏ bên hồ nước mà Karsten Höglin không nhớ tên. Có thể là Hesjö? Khu rừng rậm vươn tới tận rìa làng nằm trên sườn dốc chạy xuống hồ, hai bên có đường ô tô chạy lên mạn Härjedalen.

Karsten cho xe dừng lại ở lối vào làng và ra khỏi xe. Lớp mây bao phủ dần tan đi, ánh sáng chói lòa. Ông đưa mắt nhìn quanh. Những ngôi nhà nằm đó, rất yên ắng. Ông nghe có tiếng động cơ xe hơi trên đường quốc lộ từ xa vọng đến.

Ông cảm thấy hơi bối rối, nín thở như mọi lần, khi không biết rõ mình đang nhìn thấy thứ gì.

Rồi ông nhận ra, những ống khói lạnh lẽo, không một làn khói mà ông hy vọng sẽ có để mang lại hiệu ứng tốt cho những tấm ảnh của mình. Ông từ từ lướt ánh mắt lên những ngôi nhà nằm ở hai bên đường. Có ai đó đã dọn tuyết, ông nghĩ vậy. Nhưng lại không thấy một người nào thức dậy nấu nướng và đốt lò sưởi. Ông nghĩ đến bức thư của ông lão đã kể cho mình nghe về ngôi làng này. Trong bức thư nói nhiều đến những ống khói và những ngôi nhà nằm sát bên nhau ngây ngô như những đứa trẻ truyền đi những tín hiệu khói.

Ông thở dài. Người ta viết thư, nhưng lại viết những điều không thật, mà chỉ viết về cái họ tin rằng người khác muốn đọc. Bây giờ ông có thể chụp những ống khói lạnh lẽo. Hoặc là ông bỏ đi luôn? Chẳng ai ép buộc ông phải chụp ảnh ngôi làng Hesjövallen và cư dân của nó. Ông đã có đủ ảnh về Thụy Điển, một đất nước đang dần biến mất, về những chốn thâm sơn cùng cốc, những làng mạc hẻo lánh đôi khi được người Đức hoặc người Đan Mạch cứu vớt bằng cách sửa sang những trại ấp này thành những ngôi nhà nghỉ hè, hoặc đơn giản là để chúng tàn tạ dần cho tới khi bị đất nuốt mất.

Ông quyết định rời khỏi đây và chui vào xe. Nhưng bàn tay ông còn do dự vặn chìa khóa cho xe nổ máy. Một khi đã đến được tận chỗ này, thì ít ra, ông cũng nên chụp lấy một vài tấm ảnh chân dung của dân làng. Karsten Höglin vẫn luôn rình kiếm những khuôn mặt, nhất là khuôn mặt của người già. Ông nuôi dưỡng một kế hoạch bí mật là trước khi vĩnh viễn gác máy sẽ xuất bản một cuốn sách ảnh chân dung phụ nữ. Những tấm ảnh của ông sẽ phác họa cái vẻ đẹp mà người ta chỉ có thể tìm thấy trên khuôn mặt những người phụ nữ đã rất già. Những bà lão mà cuộc sống của họ với bao nhiêu nhọc nhằn đã được chạm khắc vào làn da, như những lớp nham kết tầng trong vách đá.

Ông lại ra khỏi xe, kéo chiếc mũ lông trùm kín tai, với tay cầm chiếc máy Leica M18 đã theo ông cả chục năm trời rồi đi đến ngôi nhà gần nhất. Ở đây cả thảy có khoảng gần chục nóc nhà, phần lớn có màu đỏ, một vài nhà làm thêm lối vào có mái che. Ông chỉ nhìn thấy một ngôi nhà duy nhất còn mới, nếu như ông xem nó như là mới, vì nó được xây dựng từ những năm 1950. Ông dừng lại trước cổng vườn, giơ máy ảnh lên chụp.

Tấm biển cho ông biết gia đình Andren sống ở đây. Ông chụp liền mấy pô, chỉnh lại ống kính và độ sáng, chọn các góc chụp khác nhau. Trời vẫn còn u ám, ông nghĩ vậy. Đoán chừng ảnh sẽ không được nét, sẽ bị mờ, nhưng cũng không có gì chắc chắn. Làm nhà nhiếp ảnh có nghĩa là đôi khi phát hiện ra được những điều bất ngờ.

Karsten Höglin thường làm việc thuần túy theo trực giác. Điều này không có nghĩa là ông không thèm để ý đến việc đo độ sáng, một khi cần thiết. Nhưng đôi khi ông cũng thành công, thu được những kết quả bất ngờ, vì ông đã không thể xác định được chính xác độ sáng, ứng biến là một phần công việc của ông. Một lần ở Oskarhamn ông đã nhìn thấy một chiếc thuyền buồm với cánh buồm no gió trên một vịnh nhỏ. Hôm đó là một ngày đẹp trời, nắng rực rỡ. Trước khi bấm máy, ông chợt có ý tưởng hà hơi vào ống kính. Khi rửa ảnh, con thuyền ma quái như đang lướt nhẹ từ trong sương mù ra. Ngày ấy bức ảnh này đã đem đến cho ông một giải thưởng đặc biệt.

Ông không bao giờ quên được chiếc ống kính nhòe hơi nước của mình.

Cánh cổng như bị kẹt, ông phải cố sức mới đẩy được nó mở ra. Trên lớp tuyết mới không thấy có dấu chân người, vẫn không có lấy một tiếng động, ông thầm nghĩ, thậm chí không có lấy một con chó phát hiện ra mình. Dường như bỗng nhiên tất cả đã biến mất. Một ngôi làng ma.

Ông bước lên bậc tam cấp, giơ tay gõ cửa và chờ đợi, gõ thêm một lần nữa. Không có tiếng chó sủa, không có tiếng mèo kêu, hoàn toàn im ắng. Lúc này ông đã thấy lo lắng. Có cái gì đó rõ ràng là không ổn. Ông lại gõ cửa thêm một lần nữa, lần này mạnh hơn và lâu hơn. Rồi ông thử vặn tay nắm cửa. Đã khóa. Người già hay lo sợ, ông nghĩ vậy. Họ khóa mình ở trong nhà, vì họ sợ, tất cả những gì mà họ đọc được trên báo có thể xảy ra với họ.

Ông đập mạnh lên cửa, nhưng không thấy có ai phản ứng. Vậy nên ông nhủ thầm có lẽ ngôi nhà này bị bỏ hoang.

Ông đi qua cổng vườn sang nhà bên cạnh. Lúc này trời đã sáng hơn. Ngôi nhà này được quét vôi màu vàng. Cửa sổ nhiều chỗ bị bong ma tít, chắc chắn gió sẽ lùa vào nhà. Trước khi gõ cửa, ông vặn tay nắm xuống. Cửa này cũng khóa. Ông đấm mạnh lên cửa, nhưng cũng không thấy có người trả lời. Hình như trong ngôi nhà này cũng không có người ở.

Ông lại quyết định từ bỏ kế hoạch. Nếu bây giờ lên xe và phóng đi, ông sẽ có mặt tại nhà mình ở Pitea vào đầu giờ chiều. Bà Magda, vợ ông, chắc sẽ rất mừng. Bà thấy ông đã quá già cho những chuyến đi như thế này. Mặc dù mới bước vào tuổi sáu mươi ba nhưng ông đã có triệu chứng khởi phát của bệnh đau thắt ngực tuy chưa rõ ràng, bác sĩ đã khuyên ông chú ý giữ gìn sức khỏe.

Tuy nhiên, thay vì lên đường, ông lại đi vòng ra sau nhà, tìm cách mở cánh cửa ngách dẫn vào phòng giặt quần áo. Cánh cửa này cũng bị khóa. Ông đến bên cửa sổ, kiễng chân nhìn vào bên trong. Qua kẽ rèm cửa, ông nhìn thấy một chiếc ti vi ở giữa phòng. Ông đi tiếp sang cửa sổ bên cạnh, vẫn là chiếc ti vi, vẫn là cùng một phòng ấy. Trên tường là một tấm thảm thêu hình Chúa Jesus. Giữa lúc ông định bỏ đi thì lại nhìn thấy một cái gì đó nằm trên sàn nhà. Thoạt đầu ông ngỡ đó là một cuộn len. Nhưng rồi, ông nhận ra đó là một chiếc bít tất len lồng vào một bàn chân. Ông lui lại cách cửa sổ một bước. Tim ông đập mạnh. Liệu ông nhìn có đúng không? Có thật đó là một bàn chân? Ông trở lại bên ô cửa sổ đầu tiên, nhưng không nhìn được nhiều thứ lắm. Rồi ông lại đến bên cửa sổ thứ hai. Lúc này thì ông đã chắc chắn. Đó là một bàn chân. Một bàn chân bất động. Ông không biết đó là bàn chân của đàn ông hay đàn bà. Có lẽ bàn chân đó là của người ngồi trên một chiếc ghế bành. Nhưng cũng có thể người đó nằm trên sàn nhà.

Ông gõ mạnh vào kính cửa sổ. Hoàn toàn không thấy động tĩnh gì. Ông lấy điện thoại di động từ trong túi ra và bấm số của trung tâm cứu hộ. Sóng quá yếu không thể liên lạc được. Ông chạy sang nhà thứ ba và gõ cửa. Nhưng cũng không thấy có người ra mở cửa. Ông thầm hỏi, liệu có phải mình đang ở trong một cơn ác mộng. Bên cạnh cửa có một tấm lưới sắt chùi giày. Ông cầm nó lên làm đòn bẩy tì vào ổ khóa và nạy cánh cửa ra. Ý nghĩ duy nhất của ông khi làm việc này là tìm được một chiếc điện thoại. Lúc lao vào được trong nhà, ông hiểu ra rằng cảnh tượng tương tự đang đợi mình, nhưng đã quá muộn: một xác chết. Một bà cụ già nằm trên sàn bếp. Đầu bà bị cắt gần lìa khỏi cổ. Bên cạnh bà là xác một con chó bị chém đứt đôi.

Karsten Höglin thét lên rồi quay đầu bỏ chạy khỏi ngôi nhà. Từ hành lang ông nhìn thấy trên sàn phòng khách một người đàn ông nằm giữa chiếc bàn và chiếc ghế sofa màu đỏ có dải trang trí màu trắng. Người đàn ông trần truồng, lưng đẫm máu.

Karsten Höglin chỉ có một ý nghĩ: bỏ chạy. Ông đánh rơi chiếc máy ảnh trong lúc bỏ chạy, nhưng cũng không dừng lại nhặt nó lên. Một nỗi sợ hãi trỗi dậy trong ông, một bàn tay vô hình có thể đang đuổi theo phía sau lưng ông và đâm chết ông. Ông vội vàng chui vào xe, nổ máy, quay đầu xe và phóng đi.

Khi ra tới được đường chính, ông mới cho xe dừng lại, ngón tay run run bấm số gọi trung tâm cứu hộ. Giữa lúc áp máy điện thoại di động vào tai, ông thấy đau nhói ở ngực. Như thể có ai đó đuổi kịp ông, đâm vào người ông một nhát dao.

Có tiếng người trong điện thoại nói với ông. Nhưng ông không thể trả lời được. Ông đau đến mức cổ họng chỉ còn phát ra được tiếng khò khè.

– Tôi không nghe được gì cả, giọng một phụ nữ nói.

Ông lại cố thêm một lần nữa. Nhưng vẫn chỉ là tiếng khò khè. Ông hiểu mình sẽ chết.

– Ngài có thể nói to hơn được không? Người phụ nữ hỏi. Tôi không hiểu ngài nói gì?

Ông cố hết sức để thốt ra được mấy từ.

– Tôi chết mất, ông thở khò khè. Lạy Chúa, tôi chết mất. Cô hãy giúp tôi.

– Ngài đang ở đâu?

Nhưng người phụ nữ trực cấp cứu không nhận được câu trả lời. Karsten Höglin đang đến với bóng tối bao la. Trong nỗ lực tuyệt vọng mong thoát khỏi cơn đau đớn cùng cực, giống như người chết đuối cố tìm cách ngoi lên mặt nước, ông đạp mạnh lên chân ga. Chiếc xe lao vọt sang luồng ngược chiều. Chiếc xe tải nhỏ chở bàn ghế văn phòng trên đường chạy về Hudiksvall không kịp tránh xe của ông. Người lái chiếc xe tải vội xuống xem thiệt hại thế nào và nhận thấy Höglin đang nằm ôm lấy vô lăng.

Tài xế xe tải là người Bosnia chỉ bập bẹ nói được tiếng Thụy Điển, cất giọng hỏi:

– Ông có sao không?

– Ngôi làng..., Karsten Höglin khò khè nói. Hesjövallen.

Sau câu đó ông không còn nói được nữa. Khi cảnh sát và xe cứu thương đến nơi, thì Höglin đã chết vì nhồi máu cơ tim.

Thoạt đầu mọi chuyện cứ rối tung rối mù cả lên. Vì không hiểu chuyện gì đã xảy ra, vì sao người lái chiếc xe Volvo bỗng nhiên lại bị nhồi máu cơ tim. Mãi tới khi Karsten Höglin đã được đưa đi và một chiếc xe cứu hộ đến kéo chiếc xe tải chở bàn ghế, một viên cảnh sát mới tập trung cố gắng lắng nghe người đàn ông Bosnia đang tìm cách giải thích. Viên cảnh sát có tên Erik Huddén không hề hứng thú nói chuyện với mấy tay người nước ngoài chỉ trọ trẹ mấy từ tiếng Thụy Điển. Dường như những gì họ kể ra sẽ bị mất đi ý nghĩa bởi không đủ khả năng diễn tả. Đương nhiên, trước tiên, Huddén đề nghị người lái xe tải phải thở vào một chiếc ống nhỏ. Người lái xe không uống rượu, máy đo chỉ màu xanh và bằng lái xe của anh ta là bằng nghiêm chỉnh.

– Ông ấy muốn nói điều gì đó, người lái xe tải nói.

– Cái gì? Viên cảnh sát gắt gỏng hỏi.

– Cái gì như Hero. Có lẽ là tên làng.

Erik Huddén sốt ruột lắc đầu, anh ta xuất thân vùng này.

– Ở cái xó này không có nơi nào tên là Hero.

– Có thể đã nghe không đúng. Hình như tên có âm “s”? Hình như là Hesjö.

– Hesjövallen?

– Đúng, đúng. Ông ta nói như vậy.

– Ông ta nói vậy có nghĩa gì?

– Tôi không biết. Ông ta đã chết.

Erik Huddén nhét cuốn sổ ghi chép vào cặp. Anh ta không hề ghi lại những gì người lái xe tải vừa nói ra. Sau khi chiếc xe cảnh sát chở gã tài xế về đồn để tiếp tục lấy lời khai, Erik Huddén lên xe, quay trở về Hudiksvall cùng với Leif Ytterström, đồng nghiệp của mình, ngồi trước tay lái.

– Chúng ta chạy qua Hesjövallen xem sao. Huddén bỗng nhiên đề nghị.

– Tại sao? Có tin báo à?

– Mình chỉ muốn kiểm tra một chút.

Trong hai người, Erik Huddén lớn tuổi hơn. Anh nổi tiếng là người kiệm lời và cứng đầu. Leif Ytterström cho xe rẽ vào đường đi Sörforsa. Khi đến Hesjövallen, Huddén bảo Leif chạy chầm chậm qua làng. Anh vẫn chưa nói cho đồng nghiệp biết vì sao họ lại phải đi vòng đường này.

– Trông hoang vắng quá. Ytterström nói khi từ từ bỏ lại những ngôi nhà ở phía sau.

– Chạy quay lại đi, Erik nói. Cũng từ từ như vừa rồi.

Rồi anh bảo Leif cho xe dừng lại. Có gì đó nằm dưới lớp tuyết gần một ngôi nhà khiến anh chú ý. Anh xuống xe, tiến lại gần vật đó. Bất ngờ anh đứng lại, rút súng ra. Leif vội vàng ra khỏi xe và cũng rút súng.

– Gì vậy?

Erik không trả lời. Anh thận trọng tiến về phía trước. Rồi lại dừng lại và cúi về phía trước như bị đau ngực. Mặt Erik trắng bệch khi quay trở lại xe.

– Có người chết nằm ở đó. Bị đâm nát. Không toàn thây.

– Anh nói cái gì vậy?

– Mất một cẳng chân.

Cả hai đứng im lặng. Trân trân nhìn nhau. Erik vào xe ngồi và liên lạc với Vivi Sundberg, người mà anh biết hôm nay có ca trực. Sundberg lập tức trả lời.

– Erik đây. Tôi đang ở Hesjövallen.

– Phía Nam Sörforsa à?

– Phía Tây thì đúng hơn. Nhưng cũng có thể tôi nhầm.

– Có chuyện gì vậy?

– Tôi không biết. Có một xác chết nằm trong tuyết, bị mất một chân.

– Nói lại xem nào!

– Một người đàn ông bị chết. Trong tuyết. Xem ra ông ta bị đâm chết. Một cẳng chân bị mất.

Hai người họ rất hiểu nhau. Vivi Sundberg biết Erik Huddén không bao giờ phóng đại, tuy vậy, những gì anh kể nghe không thể tin được.

– Chúng tôi đến ngay, Vivi Sundberg nói.

– Hãy gọi điện cho bên khoa học hình sự nữa.

– Ai đang ở chỗ anh đấy?

– Leif Ytterström.

Sundberg ngẫm nghĩ.

– Có cách giải thích khả dĩ nào về sự việc xảy ra ở đó không?

Trong đời mình, tôi chưa bao giờ nhìn thấy một cảnh tượng như thế.

Erik biết Vivi sẽ hiểu điều đó. Anh làm cảnh sát đã khá lâu và anh đã từng đối mặt với tất cả những điều khủng khiếp có thể tưởng tượng ra được.

Ba mươi lăm phút sau họ mới nghe có tiếng còi hụ từ phía xa. Erik Huddén đã tìm cách thuyết phục Leif Ytterström tới hỏi hàng xóm sống ở quanh đó. Nhưng Leif không chịu cùng đi với anh mà cứ khăng khăng chờ lực lượng tăng cường. Erik cũng không muốn một mình đi sang các nhà lân cận, nên cũng ở lại trong xe với đồng nghiệp. Họ chờ đợi trong im lặng.

Vivi Sundberg bước ra khỏi chiếc xe đầu tiên đến hiện trường. Đó là một phụ nữ trạc ngũ tuần, to lớn. Ai quen biết Sundberg, đều biết rằng, dù với cân nặng như vậy, nhưng không những bà có sức khỏe mà còn có cả sự kiên trì, dẻo dai. Cách đây chỉ một vài tháng bà đã đuổi theo và tóm được hai tên trộm tuổi mới đôi mươi. Chúng đã cười chế nhạo bà khi bắt đầu bỏ chạy. Sau vài trăm mét, khi bà còng tay chúng, chúng không còn cười nữa.

Vivi Sundberg có mái tóc màu đỏ. Mỗi năm bà đến cửa hàng làm đầu của con gái mình bốn lần để nhuộm tóc.

Bà sinh ra tại một làng nhỏ gần Harmanger. Ở đó bà đã chăm sóc, phụng dưỡng bố mẹ mình cho đến khi hai cụ qua đời vì tuổi già. Sau đó bà tiếp tục theo học rồi một vài năm sau thì xin vào trường cảnh sát và đã được chấp nhận, điều này khiến bà vô cùng ngạc nhiên. Thực ra, không ai có thể giải thích được tại sao người ta lại nhận bà vào trường cảnh sát với thân hình nặng nề đến như vậy. Nhưng cũng không thấy có ai hỏi về việc này và tự bà cũng hoàn toàn không nói gì cả. Vivi Sundberg rất thận trọng với đường, nhưng lại không kìm được.

Bà đã hai lần kết hôn. Lần thứ nhất với một công nhân đến từ Iggesund và có một con gái với nhau, tên là Elin. Chồng bà đã qua đời trong một vụ tai nạn lao động. Một vài năm sau bà lại tái hôn với một người thợ ống nước đến từ Hudiksvall. Cuộc hôn nhân lần thứ hai của bà kéo dài chưa đầy hai tháng. Chồng bà qua đời trong một vụ tai nạn xảy ra trên đoạn đường đóng băng giữa Delsbo và Bjuraker. Từ đó bà ở vậy không lấy ai nữa. Nhưng các đồng nghiệp đồn rằng bà có một người tình hiện đang sống trên một hòn đảo ở Hy Lạp. Một năm hai lần bà đến nghỉ phép ở đó. Nhưng không một ai biết tin đồn ấy chính xác tới mức nào.

Vivi Sundberg là một cảnh sát bền bỉ. Bà có khả năng phân tích ngay cả khi chỉ dựa vào những dấu vết vô cùng nhỏ bé nhưng thường lại là những hướng điều tra duy nhất có được khi khởi đầu một cuộc điều tra hình sự.

Bà vừa đưa tay vuốt tóc vừa chăm chú nhìn Erik Huddén đang đứng trước mặt mình.

– Anh hãy chỉ cho tôi chỗ đó.

Họ cùng nhau đi tới chỗ xác chết. Vivi Sundberg nhăn mặt rồi ngồi xổm xuống.

– Bên pháp y đã đến chưa?

– Bà ấy đang trên đường đi.

– Bà?

– Một nữ bác sĩ hiện đang thế chỗ Hugo. Ông ấy sắp phải mổ khối u.

Trong một thoáng, tâm trí Vivi Sundberg xao nhãng khỏi xác người đẫm máu nằm trên tuyết trước mặt bà.

– Ông ấy bị ốm à?

– Ông ấy bị ung thư. Chị chưa biết chuyện đó sao?

– Chưa. Ung thư gì vậy?

– Ung thư dạ dày. Nhưng còn chưa di căn. Hiện nay bác sĩ Valentina Miir từ Uppsala đến thay ông ấy tạm thời.

– Và bà ấy đang trên đường đến đây?

Erik Huddén gọi với sang Leif đang đứng bên cạnh xe uống cà phê. Anh ta xác nhận nữ bác sĩ pháp y đang trên đường đến đây.

Vivi Sundberg bắt đầu xem xét tỉ mỉ xác chết. Mỗi khi một người bị sát hại nằm trước mặt bà thì cùng một cảm giác bất lực lại ùa đến xâm chiếm tâm hồn bà. Bà không thể đánh thức người chết trở về với cuộc sống, mà chỉ có thể, trong trường hợp may mắn nhất, giải thích được hoàn cảnh dẫn đến cái chết và tống kẻ phạm tội vào sau song sắt hoặc sau cánh cửa đóng kín của một trại tâm thần.

– Có một kẻ nào đó đã phát khùng, bà nói. Với một con dao to. Hoặc một lưỡi lê. Có thể là một thanh kiếm. Tôi thấy có ít nhất chín vết chém và hầu như tất cả đều trí mạng. Nhưng còn về cẳng chân thì tôi vẫn chưa thể nào hiểu được. Chúng ta đã biết được người đàn ông này là ai chưa?

– Chưa. Hình như tất cả nhà ở đây đều bỏ không thì phải.

Vivi Sundberg đứng dậy chăm chú nhìn xung quanh. Bà có cảm giác dường như mấy ngôi nhà đều dõi theo ánh mắt bà, vẻ đầy dò xét.

– Anh đã gõ cửa nhà họ chưa?

– Tôi muốn chờ mọi người đến. Có thể hung thủ vẫn còn ở đây.

– Anh đã hành động đúng.

Bà vẫy Leif sang chỗ mình.

– Chúng ta vào trong đó, bà nói với hai người. Chắc chắn ở đây có người, vì đây không phải là một ngôi làng bỏ hoang.

– Nhưng chẳng nhìn thấy người nào cả.

Vivi Sundberg lại quan sát những ngôi nhà, vườn tược và con đường phủ tuyết. Bà rút súng ra, đi tới ngôi nhà tiếp theo. Những người khác theo sau. Lúc này đã hơn mười một giờ trưa.

Những gì tiếp theo hẳn nên được ghi vào lịch sử ngành hình sự Thụy Điển, những gì mà ba cảnh sát phát hiện thấy chưa từng có tiền lệ. Họ đi từ nhà này sang nhà khác, súng lăm lăm trong tay. Vào nhà nào họ cũng gặp các xác chết, bên cạnh là những con chó, hoặc những con mèo bị chém đứt đôi, thậm chí họ còn thấy một con vẹt bị chém cụt đầu. Họ đếm được cả thảy mười chín xác chết, trừ một đứa bé mười hai tuổi, còn lại đều là những người già. Có những người bị giết khi đang còn ngủ trên giường, hoặc nằm trên sàn nhà, hoặc ngồi trên ghế bên bàn ăn trong bếp. Một bà già bị giết chết khi trong tay vẫn còn giữ chặt chiếc lược chải tóc, một người đàn ông với ấm pha cà phê trên bếp lò ở bên cạnh. Trong một ngôi nhà khác, họ phát hiện thấy hai xác chết bị trói chặt vào với nhau. Tất cả đều bị giết chết trong cảnh bạo lực điên khùng giống nhau, như là một trận bão lốc máu me nổi giận với những con người già cả vừa mới bắt đầu một ngày mới này. Vì người già ở nông thôn thường dậy sớm, nên Vivi Sundberg đoán rằng, vụ giết người đã xảy ra vào đêm qua hoặc sáng sớm nay.

Vivi Sundberg thấy như mình ngập ngụa trong máu, người lạnh toát, mặc dù đang run lên vì tức giận, cứ như thể bà đang quan sát những xác chết bị biến dạng qua một chiếc ống nhòm chứ không cần phải đến gần.

Ở đây còn có mùi. Chỉ vừa hết hơi ấm là các xác chết đã bốc ra một thứ mùi hăng hắc ngọt ngọt. Chừng nào còn phải ở lại bên trong nhà, Vivi Sundberg đều thở qua miệng. Khi ra đến bên ngoài giữa làn không khí trong lành, bà mới hít thở thật sâu. Mỗi lần bước qua ngưỡng cửa một ngôi nhà khác là lại giống như thể chuẩn bị bắt đầu một thử thách vượt quá sức người.

Tất cả những gì bà nhìn thấy trước mặt, hết thân thể này đến thân thể khác, đều cho thấy một sự điên cuồng giết chóc giống nhau, đều có những vết thương do một thứ vũ khí cầm tay được mài sắc lẹm gây ra. Danh sách mà bà thống kê lại sau đó và sẽ không cho ai biết là những ghi chép ngắn gọn nhưng chính xác những gì bà đã thấy:

Nhà số 1: Một ông già chết, quần áo ngủ bị xé rách, chân vẫn còn xỏ dép đi trong nhà, nằm ngửa người trên bậc cầu thang dẫn lên tầng trên. Đầu gần lìa khỏi cổ, ngón tay cái bên trái nằm cách thân mình khoảng một mét. Một bà già chết, mặc áo ngủ, bị rạch bụng, lòi ra một phần ruột, hàm răng bị đập vỡ.

Nhà số 2: Một đàn ông và một đàn bà chết, cả hai đều già, ít nhất cũng 80 tuổi. Thân thể trên giường ngủ đôi ở tầng trệt. Người vợ bị giết chết có thể do bị nhát chém từ vai trái qua ngực xuống tới hông phải trong lúc đang ngủ. Người chồng tìm cách chống đỡ bằng một chiếc búa nên đã bị chém đứt cánh tay và bị cắt cổ. Kỳ lạ, hai thân thể này được buộc lại với nhau. Tình trạng này cho thấy có thể người chồng bị trói vào với người vợ đã chết khi ông vẫn còn sống. Tất nhiên không có bằng chứng cho phỏng đoán này. Một đứa trẻ chết trong một phòng nhỏ. Có thể bị giết khi còn đang ngủ.

Nhà số 3: Một phụ nữ, độc thân, chết trên sàn bếp. Bên cạnh là xác một con chó không rõ nòi, bị chém đứt đôi. Dường như xương sống của người phụ nữ bị gãy nhiều chỗ.

Nhà số 4: Người đàn ông chết trong hành lang, trên người mặc quần dài và áo sơ mi, đi chân không. Hình như đã tìm cách chống trả. Thân mình bị chém gần đứt đôi ở phần bụng. Người đàn bà nhiều tuổi chết ngồi trong phòng bếp. Bị chém hai hoặc ba nhát vào đỉnh đầu.

Nhà số 7: Hai phụ nữ và một nam giới đều đã già, chết trong giường ở tầng trên. Ấn tượng: họ đang còn thức, ý thức được sự việc, nhưng không kịp phản ứng. Một con mèo bị đập chết trong bếp.

Nhà số 8: Một người đàn ông chết bên ngoài nhà. Một cẳng chân bị mất. Hai con chó bị chém đứt đầu. Người vợ chết nằm trên cầu thang, bị chặt nhỏ đến khó tả.

Nhà số 9: Bốn người chết trong phòng ở tầng trệt. Cởi trần, với những tách cà phê, đài bật. Gồm ba phụ nữ và một nam giới đều đã cao tuổi. Đầu của họ được để trên đùi.

Nhà số 10: Hai người, một đàn ông, một đàn bà rất già, chết trên giường. Không thể nói liệu họ có ý thức được chuyện gì đã xảy ra với mình hay không.

Đến phần cuối danh sách, Sundberg không còn đủ sức ghi lại tất cả các chi tiết. Nhưng dù thế nào bà cũng không thể quên được những gì đã nhìn thấy. Đó là một cái nhìn thẳng vào địa ngục.

Bà đánh số những ngôi nhà mà các nạn nhân đã được tìm thấy trong đó. Những ngôi nhà này không nằm nối tiếp nhau trong làng. Khi đến ngôi nhà số năm trong chuyến khám xét rùng rợn của mình, bà đã chạm tới được sự sống. Có tiếng nhạc từ trong nhà vọng ra. Leif Ytterström quả quyết đó là Jimi Hendrix. Vivi Sundberg biết rõ tay chơi ghi ta nổi tiếng ấy, trong khi Erik Huddén lại hoàn toàn không biết hai người họ đang nói về ai. Ca sĩ mà anh yêu thích nhất là Björn Skifs.

Trước khi bước vào nhà, họ còn gọi thêm hai cảnh sát nữa đến căng dây bảo vệ hiện trường. Họ thận trọng tiến gần đến cửa nhà, súng lăm lăm trong tay. Erik Huddén đập cửa. Cánh cửa được một người đàn ông cởi trần, tóc dài, mở ra. Ông ta giật mình khi nhìn thấy những khẩu súng chĩa vào mình. Vivi Sundberg hạ súng xuống khi thấy người đàn ông trước mặt không cầm vũ khí.

– Có một mình ông ở trong nhà thôi à?

– Có vợ tôi nữa, người đàn ông trả lời, giọng run run.

– Ngoài ra không còn ai nữa?

– Không. Có chuyện gì xảy ra vậy?

Vivi Sundberg nhét súng vào bao và ra hiệu cho hai cộng sự cùng làm như mình.

– Chúng ta vào trong nhà, bà nói với người đàn ông cởi trần đang run lên vì lạnh. Ông tên là gì?

– Tom.

– Họ?

– Hansson.

– Tốt. Chúng ta vào trong đi, ông Tom Hansson, để ông khỏi phải run lên vì lạnh.

Nhạc trong nhà được vặn to. Vivi Sundberg có cảm giác phòng nào cũng được gắn loa. Bà đi theo chủ nhà vào căn phòng bề bộn, nơi có một phụ nữ mặc áo ngủ ngồi thu lu trên ghế sofa. Người đàn ông vặn nhạc nhỏ lại rồi mặc áo vắt ở thành ghế. Tom Hansson và vợ ông ta trông có vẻ hơn Sundberg một vài tuổi. Cỡ chừng sáu mươi.

– Có chuyện gì vậy? Bà vợ sợ hãi hỏi.

Vivi Sundberg nhận ra chất giọng Stockholm không lẫn vào đâu được của bà ta. Có lẽ họ là những người muốn trốn tránh cảnh xô bồ, từ thời còn trẻ đã chuyển từ thành phố về nông thôn tìm kiếm một cuộc sống giản đơn. Bà quyết định vào việc ngay. Phát hiện khủng khiếp của bà cùng đồng nghiệp đã thúc giục bà phải cực kỳ khẩn trương. Sự việc thật sự rất đáng lo ngại, kẻ hoặc những kẻ đã bắt đầu vụ giết người khủng khiếp này rất có thể sẽ tiếp tục gây ra những vụ thảm sát tiếp theo.

– Một số hàng xóm của ông bà đã bị giết, Vivi Sundberg nói. Đêm qua, trong làng này đã xảy ra những việc khủng khiếp. Đây là một việc rất quan trọng, ông bà cần phải trả lời tất cả những câu hỏi của chúng tôi. Tên bà là gì?

– Ninni, người phụ nữ ngồi trên ghế sofa trả lời. Herman và Hilda có bị chết không?

– Họ sống ở đâu?

– Trong ngôi nhà nằm bên trái nhà này.

Vivi Sundberg gật đầu.

– Vậy thì họ đã chết. Bị giết chết. Nhưng không phải chỉ hai người đó. Có thể nói là đa số người sống trong làng này đã bị giết.

– Nếu đây là một trò đùa, thì nó không thành công lắm đâu, Tom Hansson nói.

Trong khoảnh khắc Vivi Sundberg mất tự chủ.

– Tôi không có thời gian mà lãng phí đâu. Tôi đặt câu hỏi, ông bà trả lời. Tôi biết rằng những điều tôi vừa nói nghe có vẻ khó hiểu nhưng đáng tiếc đó lại là sự thật, một sự thật khủng khiếp. Đêm qua ở đây thế nào? Ông bà có nghe thấy gì không?

Ông chồng ngồi xuống cạnh vợ trên ghế sofa.

– Chúng tôi ngủ.

– Ông bà hoàn toàn không nghe thấy gì sao?

Cả hai vợ chồng đều lắc đầu.

– Vừa xong hai ông bà cũng không để ý thấy cả làng đầy cảnh sát hay sao?

– Khi mở nhạc to, chúng tôi không nghe thấy gì ở bên ngoài.

– Ông bà nhìn thấy hàng xóm của mình lần cuối vào khi nào?

– Nếu là Herman và Hilda thì là hôm qua, bà Ninni nói. Chúng tôi gặp nhau khi dẫn chó ra ngoài.

– Ông bà cũng nuôi chó à?

Tom Hansson hất đầu về phía bếp.

– Nó tương đối già và lười biếng. Có người lạ vào nhà, nó cũng chẳng buồn đứng dậy.

– Đêm hôm qua nó không sủa lần nào à?

– Nó chẳng bao giờ sủa.

– Ông bà gặp hàng xóm của mình vào lúc mấy giờ?

– Khoảng ba giờ chiều. Nhưng chỉ gặp Hilda.

– Và mọi thứ vẫn bình thường chứ?

– Bà ấy bị đau lưng. Còn Herman có lẽ ngồi trong bếp giải ô chữ. Tôi không nhìn thấy ông ấy.

– Còn những người khác trong làng?

– Tất cả vẫn như thường. Ở đây chỉ toàn những người già cả. Trời lạnh là họ ở trong nhà. Chúng tôi thường gặp nhau nhiều hơn vào mùa xuân hoặc mùa hè.

– Ở đây có trẻ con không?

– Không. Không có đứa nào cả.

Vivi Sundberg im lặng và nghĩ đến đứa bé bị giết.

– Sự việc là thật như thế sao? Bà vợ hỏi.

Vivi Sundberg cảm thấy bà ta đang sợ.

– Thật thế. Điều tôi nói là sự thật. Có thể tất cả những người sống trong làng này đều đã chết. Trừ ông bà.

Erik Huddén đứng bên cửa sổ.

– Không hoàn toàn, anh nói.

– Anh nói gì?

– Không phải tất cả đều đã chết, vẫn có người trên đường. Vivi Sundberg chạy đến bên cửa sổ. Bà nhìn thấy điều vừa khiến người đồng nghiệp chú ý.

Một bà lão đứng trên đường, trên người khoác một chiếc áo choàng tắm, chân đi ủng cao su đen. Bà ta chắp hai bàn tay lại với nhau như đang cầu nguyện.

Vivi Sundberg nín thở. Bà lão đứng im, không hề động đậy.

òn trẻ, nếu ai đó bảo với bà rằng đến một ngày nào đó bà sẽ sưu tầm rượu vang, chắc chắn bà sẽ không tin. Bà không những phủ nhận khả năng này mà thậm chí còn phẫn nộ nữa. Trong thời gian học đại học ở Lund, bà cảm thấy gắn bó với nhóm cánh
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.