Người Đàn Ông Đến Từ Bắc Kinh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 40 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
8

❊ ❊ ❊

Roslin cố không nghĩ đến những người chết. Thay vì thế, bà hình dung đến hình ảnh mơ hồ của mẹ trong ngôi nhà này. Một phụ nữ trẻ với ước vọng được đi đây đi đó, ước vọng mà mẹ không thể chia sẻ cùng ai, hầu như cũng không dám tự thú nhận với chính mình mà lương tâm không dằn vặt đối với cha mẹ nuôi chất phác có tấm lòng nhân từ và rất sùng đạo của mình.

Bà đứng ở lối vào và lắng nghe. Trong những ngôi nhà bỏ không, có một sự tĩnh mịch rất riêng, bà thầm nghĩ. Có người nào đó đã rời khỏi đây và đem theo hết thảy mọi tiếng động. Ngay cả đến tiếng đồng hồ tích tắc.

Bà đi vào phòng khách. Những mùi lạ phả vào mặt bà, mùi bàn ghế, mùi tranh thảm treo tường, mùi những chiếc bình hoa sứ nhạt màu được để chen chúc giữa các chậu hoa cảnh trên giá. Bà đưa ngón tay nắn đất trong chậu hoa, rồi đi vào bếp, tìm một chiếc bình tưới nước cho tất cả những chậu hoa và cây cảnh. Đây là một việc bà có thể làm được cho những người chết. Xong việc, bà ngồi xuống ghế và nhìn quanh phòng. Có bao nhiêu thứ đã có từ thời mẹ bà sống ở đây? Mọi thứ đều đã cũ kỹ, đồ đạc cũng già đi cùng với người đã sử dụng chúng.

Sàn nhà, nơi họ nằm chết, vẫn còn phủ những tấm nilon. Bà bước lên cầu thang dẫn lên tầng trên. Trên chiếc giường trong phòng ngủ rộng, chăn gối vẫn bề bộn. Một chiếc dép đi trong nhà thò ra khỏi gầm giường. Còn chiếc nữa nằm ở chỗ nào, bà không nhìn thấy. Ở tầng này còn có hai phòng nữa. Trong căn phòng nằm ở bên trái, giấy dán tường được vẽ những con thú dễ thương. Bà lờ mờ nhớ lại đã có lần mẹ bà nhắc tới giấy dán tường này. Trong phòng có một chiếc giường, một chiếc tủ nhỏ, một chiếc ghế tựa và một chồng thảm xếp sát tường. Bà mở tủ quần áo, thành tủ được dán báo lót. Bà đọc được thời gian phát hành là năm 1969. Thời điểm ấy, mẹ bà đã rời khỏi ngôi nhà này được hơn hai mươi năm.

Bà ngồi lên chiếc ghế gần cửa sổ. Lúc này trời đã gần tối, những quả đồi phủ cây cối ở phía bên kia hồ đã biến mất. Ở bìa rừng có một cảnh sát đang đi đi lại lại, một đồng nghiệp rọi đèn pin lên người anh ta. Anh ta nhiều lần dừng lại, cúi xuống như tìm kiếm một cái gì đó.

Birgitta Roslin có cảm giác kỳ lạ là đang đến rất gần bên mẹ. Chỗ này, mẹ đã ngồi - ở đây, ở chỗ này, trong một căn phòng, trong một thời gian khác. Có ai đó đã cắt khấc vào bệ cửa sổ. Có lẽ đó là mẹ khi đếm lùi ngày được rời khỏi đây?

Bà đứng dậy đi xuống tầng dưới. Bên cạnh bếp là một phòng có một chiếc giường, một đôi nạng dựng dựa vào tường và một chiếc xe lăn kiểu cổ. Dưới chân bàn đầu giường là một chiếc bô tiểu tiện bằng sứ. Căn phòng gây ấn tượng từ lâu đã không được dùng đến.

Bà quay trở lại phòng khách với bước chân lặng lẽ như sợ sẽ làm phiền nó. Ngăn kéo của bàn viết được kéo ra nửa chừng. Một ngăn chứa đầy khăn trải bàn và giấy lau miệng, còn ngăn khác đầy những cuộn len màu sẫm. Trong ngăn kéo thứ ba, ngăn dưới cùng, là hàng bó thư và những cuốn sổ ghi chép bìa nâu. Bà cầm lên một cuốn và mở ra. Bên trong không thấy đề tên. Nó được viết chật kín bằng nét chữ viết tay thanh mảnh. Bà lấy cặp kính đọc sách từ túi xách tay ra, đến bên cửa sổ để có thể dễ dàng đọc những dòng chữ nhỏ li ti. Cuốn sổ đã cũ, những câu được viết trong đó nghe cũng rất cổ. Ai đó đã viết nhật ký. Những gì được viết ra có liên quan đến đầu tàu, toa tàu và những đường ray tàu hỏa.

Sau đó bà phát hiện thấy một từ khiến bà giật mình: Nevada. Bà nín thở. Có cái gì đó bỗng nhiên như đang thay đổi, ngôi nhà bỏ không và câm lặng đã trao cho bà một thông báo. Bà cố đọc những dòng chữ được viết ra trong cuốn sổ, nhưng cửa nhà mở ra. Bà để lại quyển sổ vào ngăn kéo và đóng lại. Vivi Sundberg bước vào phòng:

– Tôi đoán là bà đã thấy những xác chết từng nằm ở chỗ nào, bà nói. Vì vậy mà tôi không cần phải chỉ cho bà nữa.

Birgitta Roslin gật đầu.

– Ban đêm chúng tôi khóa cửa nhà. Cho nên đáng tiếc là đã đến lúc bà phải rời khỏi đây.

– Bà đã tìm được người nhà của ông bà cụ này chưa?

– Tôi cũng đang định nói với bà chuyện đó. Xem ra, ông bà Brita và August Andrén không có con riêng, cũng không có họ hàng thân thích, ngoại trừ những người cùng sống trong làng này và cũng đã bị giết. Ngày mai chúng tôi sẽ đưa tên họ vào danh sách tên nạn nhân được công khai.

– Sau đó thì sao?

– Về điều này bà cũng nên suy nghĩ đến, vì kể ra bà cũng là họ hàng của họ.

– Tôi không có họ hàng với họ. Nhưng dù sao tôi cũng thấy mình có liên quan.

Cả hai cùng rời khỏi ngôi nhà. Vivi Sundberg treo chùm chìa khóa vào một cái đinh móc ở ngoài cửa.

– Chúng tôi không nghĩ có ai đó sẽ lẻn được vào nhà. Vào thời điểm này, ngôi làng được bảo vệ chẳng kém gì gia đình hoàng gia.

Hai người chia tay nhau trên đường làng. Những ngọn đèn pha sáng chói rọi lên những ngôi nhà. Birgitta Roslin lại có cảm giác đang đứng trên sân khấu.

– Ngày mai bà trở về nhà phải không? Vivi Sundberg hỏi.

– Có lẽ thế. Bà đã suy nghĩ về những gì tôi kể chưa?

– Trong cuộc họp sáng mai tôi sẽ trình bày những thông tin bà cung cấp, rồi nó sẽ được xử lý như mọi thông tin khác.

– Nhưng chắc chắn bà cũng thống nhất với tôi rằng có thể tin được, thậm chí rất có thể tin được, là có một mối liên quan giữa hai vụ án.

– Còn quá sớm để trả lời câu hỏi đó. Nhưng tôi tin bây giờ tốt nhất là bà không nên bận tâm về vấn đề này nữa.

Birgitta Roslin nhìn theo Vivi Sundberg ngồi vào xe rồi phóng đi. Bà ấy không tin mình, bà tự nói thành tiếng với chính mình trong bóng tối. Bà ấy không tin mình, và tất nhiên mình hiểu được điều đó.

Nhưng đồng thời điều đó lại làm cho bà bực bội. Nếu cũng là cảnh sát, bà sẽ ưu tiên xem xét thông tin cho biết về mối liên quan với một sự việc tương tự, ngay cả khi sự việc đó lại xảy ra ở một địa lục khác.

Bà định sẽ nói chuyện với công tố viên phụ trách điều tra sơ bộ. Anh ta sẽ hiểu ra quan sát của bà quan trọng đến mức nào.

Bà phóng rất nhanh về Delsbo và vẫn chưa thấy hết tức giận lúc về tới khách sạn. Những người làm quảng cáo tổ chức một bữa tiệc linh đình trong phòng ăn của khách sạn, còn bà lại phải ngồi ăn một mình bên quầy bar vắng bóng người. Bà gọi món ăn và một cốc rượu vang.

Sau bữa ăn, bà lên phòng mình. Nỗi bực bội của bà cũng lắng xuống. Bà uống một viên sắt và nghĩ đến cuốn nhật ký mà mình mới chỉ được giở lướt qua. Đáng lẽ bà nên kể cho Vivi Sundberg biết phát hiện của mình, nhưng không rõ vì lý do nào mà bà lại không làm việc đó. Có nguy cơ cuốn nhật ký đó cũng sẽ trở thành một chi tiết vô nghĩa trong tài liệu điều tra phong phú của cảnh sát.

Là thẩm phán, bà đánh giá cao những cảnh sát tinh ý. Họ là những người có khả năng đặc biệt, phát hiện ra được những mắt xích quan trọng trong một tài liệu mà những người khác thấy lộn xộn và rối rắm.

Vậy Vivi Sundberg thuộc tip cảnh sát nào? Một phụ nữ to béo, trung tuổi, hình như không có khả năng lĩnh hội nhanh một cách đặc biệt.

Nhưng lập tức Birgitta Roslin lại thấy hối hận về ý nghĩ ấy của mình. Như vậy thật là bất công, bởi lẽ bà chưa biết gì về Vivi Sundberg.

Bà lên giường nằm, bật vô tuyến và nghe tiếng rung của những cây guitar bass vọng lên từ phòng ăn, nơi cuộc liên hoan đang vào lúc sôi nổi.

Tiếng chuông điện thoại đánh thức bà dậy. Bà nhìn đồng hồ và nhận ra mình đã ngủ được hơn một tiếng đồng hồ. Người gọi điện thoại đến là Staffan:

– Thực ra em đang ở đâu vậy?

– Ở Delsbo.

– Anh không biết Delsbo nằm ở chỗ nào cả.

– Phía Tây Hudiksvall.

Bà kể lại cho chồng nghe về chuyến đi đến làng Hesjövallen. Bà nghe có tiếng nhạc Jazz như làm nền cho cuộc nói chuyện của hai người. Ông ấy thấy thoải mái khi được ở một mình, bà thầm nghĩ. Lúc này, ông có thể nghe nhạc Jazz trong yên tĩnh, dòng nhạc mà mình không thích.

– Bây giờ mọi việc sẽ thế nào? Ông hỏi khi thấy bà im lặng.

– Ngày mai em mới quyết định được. Em vẫn chưa quen có nhiều thời gian rảnh rỗi như thế này. Bây giờ thì anh lại có thể tiếp tục nghe nhạc Jazz rồi đấy.

– Đó là Charlie Mingus.

– Ai cơ?

– Em muốn nói rằng mình không biết Charlie Mingus là ai, có phải không?

– Đôi khi em thấy, hình như tất cả các nhạc sĩ nhạc Jazz đều có chung một cái tên thì phải.

– Bây giờ em xúc phạm đến anh rồi đấy.

– Em không có ý ấy.

– Em có hoàn toàn chắc vậy không?

– Anh nói vậy nghĩa là sao?

– Anh chỉ muốn nói về căn bản em coi thường âm nhạc mà anh thích nghe.

– Vì sao em lại phải coi thường chúng chứ?

– Điều này thì chỉ tự em biết.

Cuộc nói chuyện kết thúc bất ngờ. Ông dập mạnh ống nghe. Thái độ này khiến bà tức giận. Bà gọi lại, nhưng ông không nhấc máy. Cuối cùng, bà cũng buông chiếc máy di động. Bà hồi tưởng lại những suy nghĩ của mình khi ở trên chuyến phà vào cái hôm đi sang Oresund. Không chỉ có riêng mình mệt mỏi, bà nghĩ. Ông ấy chắc chắn cũng thấy mình sống lạnh nhạt, lơ đãng như mình thấy ở ông ấy. Cả mình lẫn ông ấy đều không biết làm thế nào để thoát ra khỏi tình trạng sống mòn này. Nhưng làm sao có thể tìm thấy một lối thoát khi mà chúng ta không thể nói chuyện được với nhau mà không cãi vã gay gắt?

Mình có thể viết một bài hát về chủ đề này, bà nghĩ. Hai con người làm tổn thương lẫn nhau.

Trong ý nghĩ, bà lập ra một danh mục các từ có âm vần với từ “vết thương”: tai ương, đáng thương, chán chường, vấn vương, nửa đường... Có thể viết được một bài hát từ những từ ấy, nhưng làm thế nào để nó không tầm thường, nhạt nhẽo đây?

Rồi bà chuẩn bị đi ngủ. Nhưng cũng phải mất một hồi lâu bà mới thiếp đi. Gần sáng bà thức dậy vì ở đâu đó có tiếng đập cửa. Bà nằm trong bóng tối và nhớ lại giấc mơ đêm qua của mình. Bà đã có mặt trong ngôi nhà của Brita và August Andrén. Bà nói chuyện với họ, hai người ngồi trên chiếc ghế sofa màu đỏ thẫm, còn bà thì đứng bên cạnh. Bỗng nhiên bà nhận ra mình đang trần truồng. Bà tìm cách che người lại và bỏ đi, nhưng không thể nào làm được. Hai chân bà như bị liệt. Lúc nhìn xuống, bà thấy hai bàn chân mình dính chặt vào nền nhà.

Đến đó thì bà thức dậy. Bà lắng tai nghe trong bóng tối.

Những tiếng lè nhè say rượu đến gần rồi biến mất. Bà nhìn vào đồng hồ. Năm giờ kém mười lăm. Còn lâu trời mới hửng sáng. Bà nằm ngay ngắn và tìm cách ngủ tiếp thì một ý nghĩ chợt đến trong đầu.

Chiếc chìa khóa được móc vào một cái đinh. Bà ngồi dậy trên giường. Đương nhiên điều này bị cấm và cũng không thể lấy được quyển sổ nằm trong ngăn kéo. Nhưng cũng không thể chờ tới khi một cảnh sát nào đó tình cờ quan tâm đến việc này.

Bà đứng dậy và đến bên cửa sổ. Vắng vẻ và yên tĩnh. Mình có thể làm được việc này, bà nghĩ. Trong trường hợp thuận lợi, mình sẽ góp phần để vụ điều tra này không bị sa lầy như vụ điều tra kém cỏi của cảnh sát liên quan đến thủ tướng Olof Palme. Nhưng mình sẽ phạm pháp bởi việc làm tự ý này và có thể một công tố viên hay bắt bẻ nào đó sẽ buộc mình tội làm cản trở công tác điều tra.

Tệ hơn nữa là tối qua bà đã uống rượu vang. Là một thẩm phán mà lại uống rượu lái xe rồi bị bắt thì sẽ là thảm họa. Bà tính lại thời gian kể từ khi ăn bữa tối. Nồng độ cồn hẳn đã giảm xuống. Nhưng bà không dám chắc chắn.

Mình không được phép làm việc này, bà nghĩ. Ngay cả khi cảnh sát bảo vệ ngôi làng đó còn đang ngủ. Mình không thể làm điều đó được.

Vậy mà không hiểu sao bà vẫn mặc quần áo rồi rời khỏi phòng. Hành lang vắng vẻ. Một vài người dự tiệc về vẫn còn đang làm ồn trong phòng họ. Bà như thoảng nghe thấy có tiếng bước chân.

Quầy lễ tân không có người. Nhưng bà thoáng thấy lưng của một phụ nữ tóc vàng phía sau quầy.

Ngồi vào trong xe bà lại thấy do dự. Nhưng sức cám dỗ quá mạnh - bà muốn được đọc cuốn nhật ký đó.

Không thấy có chiếc ô tô nào chạy ngược chiều. Một lần bà phải thắng phanh khi tưởng phía sau đống tuyết được ủi sang hai bên đường có một con tuần lộc. Nhưng đó chỉ là mớ rễ chùm của một thân cây bị bật gốc.

Lúc lên tới con dốc cuối cùng dẫn xuống làng, bà cho xe dừng lại, tắt đèn. Bà lấy chiếc đèn pin để trong cốp xe rồi thận trọng đi dọc theo con đường, thỉnh thoảng lại dừng bước, lắng nghe. Một cơn gió nhẹ xào xạc trong tán cây. Khi lên đến đỉnh đồi bà nhìn thấy hai ngọn đèn pha chói sáng, một chiếc xe cảnh sat đỗ trước ngôi nhà nằm sát bìa rừng. Bà có thể tiếp cận ngôi nhà của Brita và August mà không ai nhìn thấy. Bà che ánh sáng ngọn đèn pin, đi qua sân nhà hàng xóm để đến được phía sau ngôi nhà. Trong chiếc xe cảnh sát vẫn không thấy có động tĩnh gì. Bà đưa tay lần tìm chìa khóa nhà.

Khi bước vào trong hành lang, bà thấy rùng mình. Bà lấy từ trong túi áo khoác ra một chiếc túi nilon, thận trọng mở ngăn kéo bàn.

Bỗng nhiên đèn pin của bà tắt ngấm. Bà lắc lắc cho nó sáng lại, nhưng không được, tuy vậy, bà vẫn lấy những bức thư và những cuốn sổ nhật ký nhét vào chiếc túi nhựa. Một bọc thư tuột khỏi tay bà, làm bà phải quờ tay lên sàn nhà lạnh băng để tìm lại nó.

Rồi bà vội vàng trở lại xe. Người phụ nữ trực bên quầy lễ tân ngạc nhiên khi thấy bà từ bên ngoài đi vào khách sạn.

Bà chỉ muốn được đọc ngay những thứ vừa đem về, nhưng rồi lại quyết định ngủ thêm hai tiếng nữa. Bà thức dậy vào lúc chín giờ sáng, đi xuống quầy lễ tân mượn một chiếc kính lúp rồi ngồi xuống bên chiếc bàn mà bà đã kéo đến sát bên cửa sổ trong phòng mình. Những người làm quảng cáo kết thúc hội nghị, bắt đầu lục tục lên đường, chui vào những chiếc xe con, hoặc xe bus của họ. Bà treo tấm biển “Đề nghị không làm phiền” vào quả đấm cửa ở bên ngoài và bắt đầu đọc mấy quyển sổ. Công việc tiến triển rất chậm, có những từ, thậm chí cả câu, không thể luận ra được.

Bà cũng nhanh chóng nhận ra đằng sau chữ viết tắt JA. ẩn náu một người đàn ông. Tại sao ông ta không xưng là “tôi” một khi nói về bản thân mình mà lại phải dùng các chữ đầu của tên họ. Ông ta là ai, thoạt đầu bà còn chưa rõ, nhưng rồi bà nhớ đến bức thư thứ hai mà bà tìm thấy trong số giấy tờ của mẹ. Jan August Andrén. Hẳn là ông ta. Ông ta là cai thợ của một công trường xây dựng đường sắt khổng lồ đang từ từ vượt qua sa mạc Nevada vươn tới miền Đông, ông ta tả rất tỉ mỉ và cầu kỳ về trách nhiệm của mình. JA. kể về những thanh tà vẹt, những thanh ray và ông ta đã phải sẵn sàng cúi đầu trước những người đàn ông thuộc giai tầng trên, những người đã khiến ông ta sợ hãi với quyền lực của họ. Ông ta tả về những bệnh tật đã tấn công mình, trong đó có đợt sốt dai dẳng đã làm ông ta mất sức lao động trong một thời gian dài.

Thời kỳ ấy có thể nhận thấy qua chữ viết của ông ta, chúng bỗng nhiên trở nên run rẩy. JA. đã viết: “Sốt cao, thường nôn ra máu rất đau đớn”. Birgitta Roslin gần như có thể chia sẻ nỗi sợ chết hiển hiện trong những trang viết ấy. Vì JA. không ghi ngày tháng khi viết, nên bà cũng không biết ông ta bị ốm bao lâu. Vài trang sau bỗng ông ta lại viết một bản di chúc: “Herbert, người bạn tốt của tôi nhận được một đôi ủng và những thứ quần áo khác, ông Harrisson nhận được khẩu súng trường và khẩu súng ngắn với lời đề nghị thông báo cho họ hàng của tôi ở Thụy Điển biết rằng tôi đã qua đời. Tiền của tôi được dành cho linh mục ngành đường sắt, để ông có thể lo cho tôi một lễ an táng đàng hoàng với ít nhất là hai bài thánh vịnh. Tôi không nghĩ rằng cuộc đời của mình lại sớm kết thúc đến vậy. Chúa phù hộ tôi.”

Nhưng JA. không chết. Bất ngờ, không có đoạn chuyển tiếp, ông ta đã khỏe lại.

“Chúng tôi làm việc cực nhọc, và công việc tiến triển nhanh, vì khu vực này dễ làm. Ở đây có quá nhiều rắn lục lạc làm cho những người Hoa sợ hãi. Nhưng họ làm việc rất nhanh nhẹn, mặc dù họ khiến tôi không hài lòng.”

Lúc này hình như J. A. làm cai thợ cho một công ty có tên là “Central Pacific”, có nhiệm vụ xây dựng tuyến đường sắt chạy từ Thái Bình Dương đến điểm giao với tuyến đường xuất phát từ miền duyên hải phía Đông do một công ty cạnh tranh xây dựng cùng lúc. Ngôn ngữ của ông ta pha trộn cả tiếng Anh, ông ta phàn nàn rằng “cánh thợ rất lazy”, nếu như ông ta không nghiêm khắc giám sát họ. Ông ta đặc biệt không hài lòng với đám thợ người Ái Nhĩ Lan, vì họ uống quá nhiều rượu và buổi sáng thường không đến đúng giờ. Ông ta nhẩm tính cứ trong bốn người Ái Nhĩ Lan thì phải đuổi bớt một người, điều này cũng gây không ít khó khăn cho công việc. Còn tuyển dụng người da đỏ thì không thể, vì họ từ chối làm việc nặng nhọc như vậy. Còn người da đen thì đơn giản hơn, nhưng những người nô lệ này, một là bỏ trốn hoặc được trả tự do, hoàn toàn không muốn để bị ra lệnh. JA. Viết: “Ở đây cần có nhiều chàng trai Thụy Điển tráng kiện, thay vì những gã cu li người Hoa láu cá và những gã Ái Nhĩ Lan say rượu.”

Birgitta Roslin phải căng mắt ra mới đọc nổi những dòng chữ trong cuốn nhật ký. Thỉnh thoảng bà lại phải nằm lên giường một lúc và nhắm mắt lại. Rồi sau đó bà lại tiếp tục đọc một trong các bó thư. Lại là JA. Viết, lại là những con chữ hầu như không còn có thể đọc được nữa. Ông ta viết cho cha mẹ, kể cho họ nghe về cuộc sống của mình. Giữa những điều ông ta ghi trong nhật ký với những gì viết trong thư gửi về nhà có những trái ngược đến kỳ lạ. Giả sử những gì ông ta viết trong nhật ký là sự thật, thì ông ta đã nói dối trong những bức thư. Trong nhật ký ghi tiền lương mỗi tháng của ông ta là mười một đô la. Trong bức thư bà đọc đầu tiên, ông ta viết: “Các ông chủ của con đều tỏ ra hài lòng với con, nên con bây giờ được trả hai mươi lăm đô la một tháng, có lẽ tương đương với đồng lương của một viên thu thuế ở nhà mình bên ấy.” Ông ta khoe khoang, bà thầm nghĩ. JA. ở quá xa nên sẽ chẳng ai có thể kiểm chứng được những gì ông ta nói ra.

Bà tiếp tục đọc và phát hiện thấy những điều dối trá mới, càng lúc chúng càng đáng ngạc nhiên hơn. Bỗng nhiên ông ta đính hôn với một người làm bếp tên là Laura “đến từ một gia đình khá giả ở New York”. Căn cứ vào ngày tháng đề trong thư thì thấy cũng chính thời gian này ông ta đang nằm trên giường chờ chết và vô cùng sợ hãi viết di chúc. Có lẽ Laura đến với ông ta trong cơn mê sảng vì sốt cao.

Người đàn ông mà Birgitta Roslin cố tìm cách mường tượng ra cứ trườn mất như một con lươn. Càng lúc bà càng thiếu kiên nhẫn, đến mức bà chỉ lướt qua những trang nhật ký và những bức thư.

Sau nhiều tiếng đồng hồ ngồi bên những trang viết rất khó đọc, bà bắt gặp một tờ giấy được kẹp giữa những trang nhật ký. Đó là một phiếu trả lương, chứng thực rằng vào tháng Tư năm 1864, Jan August Andrén nhận được một khoản lương mười một đô la. Lúc này bà mới biết rằng đây chính là người đàn ông đã viết bức thư kẹp trong số giấy tờ của mẹ bà để lại.

Bà đứng dậy đi đến bên cửa sổ. Một người đàn ông đang xúc tuyết. Trước kia đã có một người đàn ông từ Hesjövallen di cư đi, dưới cái tên là Jan August Andrén, bà thầm nghĩ. Ông ta đến Nevada làm công nhân xây dựng đường sắt, rồi trở thành cai thợ, ông ta không ưa cả người Ái Nhĩ Lan lẫn đám người Hoa dưới quyền chỉ huy của mình. Người vợ chưa cưới mà ông ta tưởng tượng ra có thể chỉ là một trong “những người đàn bà lang chạ lảng vảng quanh công trường xây dựng đường sắt” như ông ta đã viết ở những đoạn khác trong cuốn nhật ký. Họ lây truyền các bệnh hoa liễu trong đám thợ. Đám đĩ điếm lần theo bước tiến của các công trường xây dựng đường sắt thường gây ra những chuyện lộn xộn và phức tạp. Không những chỉ chuyện phải thải hồi những người bị mắc bệnh, mà còn có những trận ẩu đả thường xuyên bùng nổ do tranh giành phụ nữ.

Đến phân nửa cuốn nhật ký, JA. kể lại một người Ái Nhĩ Lan tên là O’Connor đã bị kết án tử hình vì giết một người thợ Tô Cách Lan. Hai gã đó say rượu và đánh lộn nhau vì một người đàn bà. O’Connor bị treo cổ, vị thẩm phán từ nơi khác đến đã đồng ý không thi hành án trong thành phố, mà tiến hành trên một quả đồi gần nơi đang có công trường xây dựng đường sắt. Jan August Andrén viết: “Tôi thấy việc này rất tốt, mọi người đều sẽ thấy rượu và dao sẽ dẫn họ tới đâu.”

Ông ta tả rất tỉ mỉ về cái chết của người thợ Ái Nhĩ Lan. “Đó là một chàng trai còn rất trẻ, gần như chưa có lông tơ mép.”

Đó là một buổi sáng sớm. Việc thi hành án được diễn ra ngay trước khi bắt đầu ca sáng. Ngay cả một vụ hành quyết cũng không được khiến một thanh tà vẹt, một thanh ray bị rải muộn. Các cai thợ đã nhận được lệnh, tất cả thợ thuyền đều phải có mặt trong buổi hành quyết. Gió lạnh buốt. Jan August Andrén buộc một chiếc khăn che kín mồm, mũi khi đi vòng quanh các lán trại và kiểm tra xem thợ của mình đã ra khỏi lều đi đến bãi hành quyết chưa. Giá treo cổ được dựng trên một chồng tà vẹt mới được quét hắc ín. O’Connor chết là người ta sẽ ngay lập tức tháo tà vẹt xuống để rải. Các thừa tác viên của tòa án mang theo vũ khí giải tử tù đến bãi hành quyết. Một vị cha cố cũng có mặt. Jan August Andrén tả cảnh tượng: “Một tiếng rì rầm nổi lên trong đám người. Thoạt đầu, người ta có thể tưởng rằng tiếng ồn ào kia là hướng vào gã đao phủ. Rồi sau đó người ta cho rằng đó là tiếng thở phào nhẹ nhõm của mỗi kẻ đang có mặt ở đây vì mình không phải ở vào vị trí của người sắp bị treo cổ. Khi ấy tôi thầm nhủ rằng rất nhiều người trong số họ căm thù công việc hằng ngày thì lúc này đây lại cảm thấy mê đi với ý nghĩ rằng vẫn sẽ được tiếp tục khiêng vác những thanh ray, vẫn còn được xúc đá dăm, đặt các thanh tà vẹt lên đường tàu.”

Trong phần miêu tả tỉ mỉ vụ hành quyết, Jan August Andrén giống như là một phóng viên tư pháp, Birgitta Roslin thầm nghĩ. Nhưng có phải ông ta viết cho chính mình hay viết lại cho hậu thế vô danh. Nếu không phải vậy, có lẽ ông ta đã không sử dụng cách diễn đạt “cảm thấy mê đi”.

Câu chuyện được thuật lại mang màu sắc bi thảm, khủng khiếp. O’Connor lê chân bước như một kẻ mộng du, nhưng bất thình lình, khi đến chân giá treo cổ, cậu ta bừng tỉnh, bắt đầu gào thét và chiến đấu cho cuộc sống của mình. Tiếng rì rầm trong đám người có mặt tăng lên. Tất cả được Jan August Andrén miêu tả là một “cảnh tượng khủng khiếp khi phải nhìn thấy chàng trai này đấu tranh cho mạng sống mà anh ta biết rằng không lâu nữa mình sẽ mất. Chàng thanh niên giãy giụa, gào thét được dẫn đến bên sợi dây thừng và anh ta gầm lên cho tới lúc chiếc nắp hố dưới chân mình mở ra và xương sống cổ bị gãy.” Lúc này tiếng rì rầm của đám đông cũng im bặt, Jan August Andrén viết: “giống như là những người có mặt ở đây bị câm và cảm thấy như chính xương sống cổ của họ đã gãy.”

Ông ta tả thật chính xác, Birgitta Roslin nghĩ, một người đàn ông viết bằng cảm xúc thực của mình.

Giá treo cổ được tháo dỡ, xác chết và các thanh tà vẹt được chuyển đi các hướng khác nhau. Rồi xảy ra vụ đánh lộn giữa đám người Hoa với nhau. Ai cũng muốn giành được sợi dây thừng đã treo cổ O’Connor. Andrén viết: “Người Hoa không giống như chúng ta. Chúng bẩn thỉu, chỉ quần tụ với nhau, thốt ra những câu phù chú kỳ lạ, bày ra các trò trừ tà ma huyền bí. Hình như họ sẽ dùng sợi dây treo cổ để sắc một thứ thuốc nước.” Đây là lần đầu tiên ông ta đưa ra một ý kiến cá nhân: “Người Hoa không như chúng ta. Chúng bẩn thỉu.”

Chuông điện thoại reo. Đó là Vivi Sundberg.

– Tôi có làm bà thức giấc không?

– Không.

– Bà có thể xuống dưới này được không? Tôi đang ở bên quầy lễ tân.

– Có chuyện gì vậy?

– Lúc bà xuống đây, tôi sẽ nói cho bà biết.

Vivi Sundberg đứng chờ trước lò sưởi mở.

– Chúng ta ngồi vào chỗ kia, Vivi Sundberg nói và chỉ vào bộ bàn ghế kê ở góc phòng.

– Do đâu bà biết được tôi ở khách sạn này?

– Tôi đã hỏi.

Birgitta Roslin linh cảm thấy một điều hoàn toàn không tốt. Vivi Sundberg thận trọng, lạnh lùng. Bà đi thẳng vào vấn đề.

– Chúng tôi không mù và điếc lắm đâu, bà bắt đầu. Dù chúng tôi chỉ là những cảnh sát tỉnh lẻ. Chắc bà rõ tôi muốn nói đến điều gì?

– Không.

– Chúng tôi bị mất những thứ để trong ngăn kéo bàn của ngôi nhà mà tôi đã tạo điều kiện để bà vào được trong đó. Tôi đã đề nghị bà không động chạm vào bất kể một cái gì. Đêm hôm qua hẳn bà đã trở lại đó. Trong ngăn kéo mà bà đã lấy hết đi chứa những cuốn nhật ký và thư từ. Tôi chờ bà ở đây trong khi bà lên lấy chúng xuống. Tổng cộng là năm hay sáu cuốn nhật ký? Bao nhiêu bó thư? Bà hãy mang cả xuống đây. Sau đó tôi sẽ quên việc này. Và bà phải biết ơn tôi, vì tôi đã bỏ công đến đây.

Birgitta Roslin cảm thấy mặt mình đỏ lên. Bà bị tóm quả tang đang thò ngón tay vào hộp đựng bánh. Bà hoàn toàn không thể làm gì được nữa. Bà thẩm phán bị buộc tội.

Bà đứng dậy, đi lên phòng. Bà chần chừ định giữ lại cuốn nhật ký đang đọc giở. Nhưng bà không biết thật sự Vivi Sundberg đã biết được những gì. Việc Vivi Sundberg tỏ ra không biết chính xác có bao nhiêu cuốn nhật ký hoàn toàn không có ý nghĩa gì. Rất có thể đó là cách để kiểm tra sự thật thà của bà. Birgitta Roslin đã đem xuống tất cả những thứ bà đã lấy về. Vivi Sundberg nhét những bó thư và những cuốn nhật ký vào trong một chiếc túi giấy.

– Vì sao bà lại làm chuyện này? Bà hỏi.

– Tôi tò mò. Tôi chỉ có thể nói lời xin lỗi.

– Bà có giấu tôi điều gì không đấy?

– Tôi không có lý do giấu giếm.

Vivi Sundberg nhìn bà dò xét. Birgitta Roslin lại cảm thấy mặt mình đỏ lên. Sundberg đứng dậy. Mặc dù có thân hình nặng nề, nhưng bà vận động rất nhẹ nhàng.

– Bà hãy để việc này cho cảnh sát chúng tôi giải quyết. Tôi không muốn để mọi người biết rằng đêm hôm qua bà đã đột nhập vào trong ngôi nhà đó. Chúng ta sẽ quên chuyện này. Bà trở về nhà mình, tôi lại tiếp tục với công việc ở đây.

– Tôi xin được tha lỗi.

– Bà đã làm điều đó rồi.

Vivi Sundberg biến mất qua khung cửa và bước lên chiếc xe cảnh sát đỗ ở bên ngoài. Birgitta Roslin lên phòng lấy áo khoác rồi đi dạo bên bờ hồ nước đóng băng. Gió lạnh thổi thành từng cơn. Bà cúi đầu, giấu cằm vào cổ áo. Một nữ thẩm phán đêm hôm lẻn vào một ngôi nhà, trong đó vừa mới có hai người già bị giết hại, và lấy đi những bó thư cùng những cuốn nhật ký, bà nghĩ và tự hỏi mình, liệu Vivi Sundberg có kể lại chuyện này cho các đồng nghiệp không hay bà ấy sẽ giữ kín cho mình.

Birgitta Roslin đi vòng quanh hồ một lượt, người nóng ran, đổ mồ hôi rồi trở về khách sạn. Sau khi đã tắm xong và thay quần áo, bà nghĩ lại tất cả những gì mới xảy ra.

Bà tìm cách ghi lại những suy nghĩ của mình, nhưng rồi lại vo tròn những tờ giấy đó, vứt chúng vào sọt đựng rác. Vậy là bà đã đến thăm ngôi nhà nơi mẹ bà lớn lên, đã nhìn thấy căn phòng của mẹ và biết bố mẹ nuôi của mẹ nằm trong số những người đã bị giết ở đây. Cũng đã đến lúc trở về nhà, bà thầm nghĩ.

Bà đi xuống quầy lễ tân báo sẽ rời đi vào hôm sau. Sau đó bà phóng xe tới Hudiksvall, tìm một hiệu sách, mua một cuốn viết về rượu vang. Bà do dự định vào lại quán ăn Trung Quốc hôm trước đã vào, nhưng thay vì thế bà lại chọn một quán ăn Ý. Bà ngồi lại rất lâu, giở xem qua mấy tờ báo, nhưng không còn để ý đến những gì viết về Hesjövallen nữa.

Điện thoại di động của bà đổ chuông. Bà nhìn vào màn hình và biết đó là Siv, một trong hai cô con gái sinh đôi.

– Mẹ đang ở đâu vậy?

– Ở Hälsingland. Mẹ đã chẳng nói cho con biết rồi sao?

– Nhưng mẹ làm gì ở Hälsingland mới được chứ?

– Đơn giản là mẹ muốn ngao du một chút. Thay đổi không khí ấy mà. Ngày mai mẹ về nhà.

Bà nghe rõ tiếng con gái thở dài.

– Ba và mẹ, hai người lại cãi nhau, phải không?

– Sao con lại nghĩ vậy?

– Sự việc càng ngày càng tồi tệ hơn. Về nhà là bọn con đã cảm thấy.

– Cái gì cơ?

– Chuyện của ba mẹ ấy. Ba đã nói chuyện đó với con.

– Ba con đã nói về việc của ba mẹ?

– So với mẹ, ba có lợi thế hơn. Ba có câu trả lời, khi người ta hỏi ba. Nhưng mẹ thì lại không làm thế. Mẹ nên nghĩ lại về điều này, con thấy vậy, nếu như bây giờ mẹ trở về nhà. Thôi, con phải dừng lại thôi. Thẻ của con sắp hết tiền rồi.

Cạch. Cuộc trao đổi kết thúc. Những điều con gái nói ra làm cho bà thấy đau đớn. Đồng thời bà cũng thấy đó là sự thật. Bà trách Staffan sống thu mình. Nhưng trong mối quan hệ với các con bà cũng xử sự y như vậy.

Bà quay về khách sạn, đọc cuốn sách vừa mua, ăn nhẹ vào bữa tối và đi ngủ sớm.

Tiếng chuông điện thoại làm bà thức trong bóng tối. Khi bà lên tiếng lại không thấy ai ở bên kia đầu dây. Trên màn hình không hiện số.

Một cảm giác không lành chợt đến bất thình lình với bà. Ai đã gọi điện cho bà?

Trước khi ngủ tiếp, bà xem lại cửa phòng đã được khóa cẩn thận chưa. Rồi bà nhìn ra ngoài qua cửa sổ. Đường xe ra vào khách sạn vắng tanh. Bà trở vào giường và nghĩ rằng ngày hôm sau sẽ làm một việc duy nhất phải lẽ.

Trở về.

òn trẻ, nếu ai đó bảo với bà rằng đến một ngày nào đó bà sẽ sưu tầm rượu vang, chắc chắn bà sẽ không tin. Bà không những phủ nhận khả năng này mà thậm chí còn phẫn nộ nữa. Trong thời gian học đại học ở Lund, bà cảm thấy gắn bó với nhóm cánh
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.