Sáng mơ thấy mỗi một thanh tà vẹt trên đường tàu, nằm dưới những thanh ray màu đen là xương sườn của một con người, có thể là của chính anh. Anh cảm thấy lồng ngực của mình xẹp xuống đến nỗi anh không còn không khí để thở nữa. Anh cố rũ bỏ cái trọng lượng đang đè lên mình, nhưng uổng công.
Sáng mở mắt. Trong lúc ngủ, Quốc Sĩ đã đè lên người anh để giữ hơi ấm. Sáng nhẹ nhàng đẩy anh mình sang bên và đắp chiếc chăn bông lên người Quốc Sĩ. Anh ngồi dậy, xoa bóp hai cẳng chân cứng đờ của mình và bỏ thêm củi vào đống lửa.
Anh hơ hai bàn tay lên ngọn lửa. Đây đã là đêm thứ ba từ khi hai anh em chạy trốn khỏi dãy núi, khỏi cai JA. Và cai Vương. Anh không quên những lời lão Vương dùng để đe dọa những ai dám bỏ trốn.
Hiện giờ, họ vẫn chưa thấy có người đuổi theo. Có thể tay cai thợ cho rằng họ quá ngu ngốc nên chẳng nghĩ nổi chuyện cưỡi ngựa bỏ trốn.
Tuy vậy anh em họ cũng đang gặp khó khăn lớn. Hôm qua, một trong hai con ngựa đã khụy ngã. Đó là con ngựa Sáng cưỡi, một con ngựa lùn của người da đỏ, dẻo dai chẳng kém gì con ngựa khoang mà Quốc Sĩ cưỡi. Bất ngờ, con ngựa của anh bị vấp và ngã lăn ra. Có lẽ nó đã chết trước khi chạm đất. Sáng hoàn toàn không biết gì về ngựa, anh nghĩ rằng trái tim của ngựa bỗng nhiên ngừng đập, cũng giống như con người vậy.
Họ bỏ con ngựa nằm lại, sau khi đã cắt một mảng thịt lớn ở lưng nó. Để đánh lừa những kẻ đuổi theo, họ rẽ xuống hướng Nam. Sáng đi sau Quốc Sĩ hàng trăm mét liền, kéo theo một cành cây để xóa dấu vết.
Buổi tối họ dựng lều, nướng thịt ăn cho kỳ no. Số thịt còn lại, theo ước tính của Sáng còn đủ cho ba ngày nữa.
Sáng không biết họ đang ở đâu, còn cách biển và thành phố với nhiều tàu thuyền bao xa nữa. Cho đến giờ, họ hẳn đã bỏ xa dãy núi, nhưng ấy là lúc còn có hai con ngựa. Với chỉ một con ngựa, không thể chở được cả hai người, thì quãng đường họ qua chắc ngắn hơn rất nhiều.
Sáng ôm chặt lấy Quốc Sĩ để giữ ấm. Có tiếng tru cô đơn từ đêm tối vọng đến chỗ họ, có thể tiếng tru đó là của một con cáo hoặc một con chó hoang.
Anh choàng dậy bởi một tiếng nổ gần như xé rách đầu anh. Tai trái của anh đau dữ dội. Anh mở mắt, nhìn thấy ngay một khuôn mặt mà anh hy vọng sẽ không bao giờ nhìn thấy nữa. Trời còn tối, nhưng vẫn nhận ra được ánh bình minh chớm hửng trên dãy Sierra Nevada. JA. đứng đó với khẩu súng trong tay, nòng vẫn còn bốc khói. Hắn đã bắn một phát ngay sát tai Sáng.
Không chỉ có một mình JA. Đứng bên cạnh hắn là Brown và một vài người da đỏ tay giữ xích đám chó săn. JA. đưa khẩu súng trường cho Brown và rút ra khẩu súng ngắn. Hắn tì sát súng vào đầu Sáng. Rồi hắn chếch nòng sang bên cạnh, bắn một phát sát ngay bên tai phải của anh. Sáng ngã vật ra đất. Khi nhỏm dậy anh thấy JA. đang quát tháo gì đó mà anh không nghe được. Trong đầu anh có tiếng gì lùng bùng như sấm. Sau đó JA. lại gí khẩu súng vào đầu Quốc Sĩ. Sáng nhìn thấy nỗi hoảng sợ trên mặt anh mình, nhưng không biết phải làm gì vào lúc này. Hai tiếng súng nổ bên tai Quốc Sĩ. Sáng nhìn thấy những giọt nước mắt đau đớn trong mắt anh mình.
Cuộc bỏ trốn đã kết thúc. Brown tròng sợi dây thòng lọng vào cổ họ sau khi đã trói chặt tay họ ra phía sau lưng. Sau đó là bắt đầu con đường trở lại. Sáng biết từ nay Quốc Sĩ và anh sẽ phải làm những công việc nguy hiểm nhất, nếu như lão Vương không treo cổ họ. Không một ai động lòng trắc ẩn với anh em họ. Kẻ nào bỏ trốn mà bị bắt lại sẽ thuộc vào lớp thợ thấp hèn nhất trên công trường. Họ đã mất nốt chút phẩm cách còn sót lại. Họ hoàn toàn không còn gì hơn là lao động cho đến lúc chết.
Đêm đầu tiên khi họ dựng lều trên đường trở về, Sáng và Quốc Sĩ vẫn chưa nghe được. Họ như bị điếc, đầu cứ ong ong cực kỳ khó chịu. Sáng tìm ánh mắt của Quốc Sĩ để khích lệ anh. Nhưng hai mắt của Quốc Sĩ đã “chết”. Sáng hiểu mình phải vận hết sức lực để giữ anh ấy lại với cuộc sống. Anh sẽ không bao giờ có thể tha thứ cho mình, nếu như để cho anh mình chết. Anh vẫn còn cảm giác tội lỗi về cái chết của Vũ.
Sau khi họ về đến Sierra Nevada, JA. để những người bỏ trốn bị bắt lại đứng trước đám thợ thuyền. Trên cổ họ vẫn còn lại những chiếc thòng lọng, tay vẫn bị trói quặt sau lưng. Sáng đưa mắt tìm lão Vương nhưng không thấy. Vì cả hai vẫn còn bị điếc, nên họ chỉ có thể đoán J. A. đã nói gì đó trong khi vẫn nghễu nghện trên lưng ngựa. Khi nói xong, trước mặt toàn thể khán giả, hắn xuống ngựa và đá thẳng vào mặt hai anh em Sáng. Sáng không còn đứng vững được nữa. Anh ngã xuống và trong giây lát có cảm giác sẽ không bao giờ còn có thể đứng lên được nữa.
Tuy nhiên, cuối cùng anh vẫn làm được. Một lần nữa.
Sau cuộc bỏ trốn không thành, mọi chuyện diễn ra như Sáng đã đoán trước. Họ không bị treo cổ. Nhưng mỗi khi phải dùng đến thuốc nổ để phá những tảng đá ngoan cố, anh và Quốc Sĩ lại phải ngồi vào trong “Sọt chết”, như đám thợ Trung Hoa đã đặt tên cho nó, để người ta kéo lên cao. Một tháng sau hai anh em Sáng vẫn chưa nghe lại được. Dần dần Sáng tin rằng mình sẽ phải sống nốt phần còn lại của cuộc đời với tiếng lào xào ầm ì trong tai. Nếu ai đó muốn gì ở anh, người đó phải nói rất to.
Mùa hè khô nóng và dài lê thê đã tới. Sáng sáng họ vác cuốc xẻng đi làm hoặc chuẩn bị những chiếc sọt đựng thuốc nổ. Với những vất vả khó nhọc vô hạn, họ đã vào sâu được trong núi, xẻ được những tảng đá cứng, không chịu nhân nhượng lấy một milimet. Và Sáng không bao giờ biết liệu mình có sống sót được qua ngày không.
Sáng căm thù JA. Và mối căm hờn ấy lại tăng lên mỗi ngày. Điều tồi tệ nhất không phải sự ác độc của hắn, cũng không phải việc hai anh em bị buộc phải ngồi vào những chiếc sọt nguy hiểm chết người. Điều khơi dậy mối căm thù trong Sáng đó là khi anh em họ bị đẩy ra đứng trước những người thợ khác, thòng lọng vẫn tròng trên cổ, và bị xem như những con vật.
– Em sẽ giết chết thằng đó, Sáng nói. Em sẽ không rời khỏi dãy núi này trước khi giết được hắn. Em sẽ giết hắn, hắn và tất cả những kẻ như hắn.
– Điều đó có nghĩa là chúng ta cũng phải chết, Quốc Sĩ nói. Người ta sẽ treo cổ chúng ta. Giết một cai thợ người da trắng, điều đó có nghĩa là tự choàng thòng lọng vào cổ mình.
Sáng vẫn ngoan cố:
– Em sẽ giết chết thằng đó khi thời điểm đến. Trước đó thì không.
Cái nóng của mùa hè ngày càng tăng lên. Bây giờ họ phải làm việc từ sáng sớm cho đến tối dưới ánh mặt trời như thiêu như đốt. Ngày càng dài ra thì công việc của họ lại càng thêm nặng nhọc. Một vài thợ đã bị say nắng, những người khác thì chết vì kiệt sức. Nhưng hình như luôn có thêm người Trung Hoa đến đây thế vào chỗ những người đã chết.
Họ đến trên những đoàn xe dài vô tận. Lần nào cũng vậy, vừa mới đến, họ đã phải đứng trước lán trại trả lời hàng loạt câu hỏi: Họ đến từ đâu? Con tàu nào đã đưa họ vượt biển? Những người cũ ở đây thèm khát được biết tin tức mới từ Trung Hoa. Vào một đêm, Sáng choàng tỉnh giấc bởi một tiếng la to, tiếp theo là những tiếng nói vui vẻ tuôn ra như thác đổ. Khi ra khỏi lều, anh nhìn thấy một người đàn ông cứ lấy tay đập lên đầu, lên ngực, lên hai cánh tay của một người mới đến, thì ra anh ta đã tìm được em họ của mình.
Như vậy là vẫn có khả năng gia đình được đoàn tụ, Sáng thầm nghĩ.
Sáng lại thấy buồn khi nghĩ đến Vũ. Nó sẽ chẳng bao giờ chui ra khỏi một chiếc xe ngựa, dang rộng hai tay chạy về phía anh và Quốc Sĩ.
Thính giác của họ dần phục hồi. Tối tối, hai anh em họ lại nói chuyện với nhau, nói rất nhiều, như thể họ còn ít thời gian cho tới khi một người trong họ hoặc có thể là cả hai phải chết.
Trong những tháng hè ấy, JA. bị sốt nên không xuất hiện. Vào một buổi sáng, Brown đến chỗ họ nói rằng chừng nào cai thợ không có mặt ở đây, chừng đó anh em Sáng không phải là những người duy nhất phải ngồi vào “sọt chết” kéo lên cao gắn mìn nữa. Anh ta không giải thích vì sao lại tránh cho anh em Sáng việc đó. Có thể là vì Brown cũng bị J. A. đối xử trịch thượng như đối với những người Trung Hoa. Sáng bắt đầu thận trọng gần gũi với Brown. Anh chú ý để không gây ấn tượng vụ lợi trong chuyện này và cũng tránh để những người khác bị chọc giận. Những người nghèo, vì bị đối xử tệ bạc, không hào phóng với ai cả: mọi người ai cũng phải nghĩ đến mình trước tiên, ở đây không có công lý, chỉ có một nỗi đau mà mỗi người đều gắng hết sức tìm cách làm nó dịu đi.
Sáng thấy ngạc nhiên về việc những người có màu da đỏ như đồng, tóc đen dài, thường được trang điểm với những chiếc lông chim, có điều gì tương tự như anh. Họ có thể là anh em của nhau, mặc dù biển rộng ngăn cách họ. Họ có cùng đường nét khuôn mặt, cùng đôi mắt xếch. Nhưng trong đầu họ nghĩ gì, anh hoàn toàn không biết.
Một tối anh hỏi Brown về chuyện đó. Brown cũng biết một ít tiếng Trung Quốc.
– Người da đỏ căm thù chúng tôi, Brown nói. Cũng ngang với các anh căm thù bọn tôi. Đó là điểm giống nhau duy nhất mà tôi thấy được.
– Nhưng họ lại giám sát chúng tôi.
– Chúng tôi cho họ ăn. Giao súng cho họ. Chúng tôi để họ đứng cao hơn các anh một nấc. Và còn một bậc nữa trên những người da đen. Họ tin rằng họ có quyền lực. Nhưng thực ra họ cũng là nô lệ, giống như tất cả những người khác.
– Tất cả?
Brown nhún vai. Sáng không nhận được câu trả lời cho câu hỏi cuối cùng.
Họ ngồi trong bóng tối. Thỉnh thoảng đốm lửa trên tẩu thuốc của họ lại lập lòe chiếu sáng khuôn mặt họ. Brown đã cho Sáng một chiếc tẩu cũ của mình và cả thuốc sợi nữa. Sáng cảnh giác. Anh vẫn còn chưa biết Brown muốn nhận lại ở mình cái gì. Có thể anh ta chỉ cần có người để chuyện trò, phá vỡ nỗi cô đơn khủng khiếp trên hoang mạc, giữa lúc anh ta không còn người cai thợ để nói chuyện nữa.
Cuối cùng Sáng cũng đánh bạo hỏi về J. A.
Người đàn ông này là ai, người đã không đầu hàng cho tới khi tìm lại được hai anh em họ, đã làm hỏng thính giác của họ? Người đàn ông tìm thấy niềm vui trong việc hành hạ người khác này là ai?
– Đây là những chuyện tôi nghe được, Brown vừa nói vừa cắn chặt tẩu thuốc. Có phải là thật hay không thì tôi không biết. Nhưng vào một ngày anh ta xuất hiện ở chỗ những người giàu có ở San Francisco, những người đầu tư tiền của vào tuyến đường sắt này. Họ tuyển dụng anh ta làm bảo vệ. Để săn đuổi những người chạy trốn, anh ta đã có sáng kiến hay khi dùng đám chó và người da đỏ. Vì vậy mà anh ta được làm cai thợ. Nhưng đôi khi, như trong trường hợp của hai người, anh ta lại tự đi săn đuổi. Người ta nói J. A. bắt lại được tất cả những ai bỏ trốn, trừ những người bị chết ngoài hoang mạc. Anh ta chặt tay những người đã chết này và lột mảng da đầu của họ, như những người da đỏ vẫn làm, để chứng minh rằng mình đã tìm thấy họ. Nhiều người coi khả năng của anh ta là siêu nhiên. Người da đỏ tin rằng anh ta có thể nhìn thấy trong đêm tối. Chính vì vậy mà họ đặt cho anh ta cái biệt danh “Râu dài nhìn thấy trong đêm”.
Sáng suy nghĩ rất lâu về những lời Brown nói.
– Giọng anh ta không giống giọng anh. Nghe khác lắm. Anh ta đến từ đâu vậy?
– Tôi không biết chính xác. Từ một nơi nào đó ở châu Âu. Theo như người ta kể thì là từ một nước nằm tít ở phía Bắc. Có thể đó là Thụy Điển, nhưng tôi không chắc lắm.
– Anh ta không bao giờ kể về chuyện đó sao?
– Không bao giờ. Chuyện về cái đất nước nằm tít ở phía Bắc ấy có thể chỉ là bịa.
– Anh ta là người Anh à?
Brown lắc đầu.
– Người đàn ông này đến từ địa ngục. Và một ngày nào đó, anh ta sẽ hẳn sẽ quay lại nơi ấy.
Sáng muốn hỏi thêm nữa. Nhưng Brown càu nhàu.
– Không nói nhiều về anh ta nữa. Chẳng bao lâu nữa anh ta sẽ quay trở lại. Anh ta đã cắt cơn sốt và cũng không còn bị đi ngoài nữa. Khi anh ta lại có mặt ở đây, tôi hoàn toàn không thể làm gì để chống lại việc các anh phải nhảy múa với thần chết trong những chiếc sọt đó.
Mấy ngày sau, JA. quay trở lại. Hắn xanh xao và gầy gò hơn, nhưng đồng thời cũng tàn ác hơn. Ngay ngày đầu tiên, hắn đã đánh hai người Trung Hoa làm chung với Quốc Sĩ và Sáng cho tới lúc họ ngất xỉu, chỉ vì họ không chào hắn đủ lễ phép khi hắn cưỡi ngựa đến. Hắn không hài lòng với tiến độ của công việc trong thời gian hắn bị ốm. Brown bị hắn quở trách, và JA. đã gầm lên, lập tức hắn đòi hỏi mọi người làm thêm, đặc biệt là những người làm việc trên núi. Ai không tuân lệnh của hắn sẽ bị phạt không cho ăn uống và bị đuổi ra hoang mạc.
Cũng ngay trong ngày quay trở lại công trường, JA. lại bắt anh em Sáng ngồi vào sọt. Họ không còn mong chờ gì ở sự giúp đỡ của Brown nữa.
Họ đánh giáp lá cà với ngọn núi: nổ mìn, xẻ đá, san đất, đầm cát cho chắc để đặt đường ray. Họ đã chiến thắng ngọn núi từng mét, từng mét một bằng vào những nỗ lực vô hạn. Họ trông thấy ở đằng xa, đầu tàu đang nhả khói. Nó chở tà vẹt, thanh ray và các nhóm công nhân đến công trường. Không lâu nữa, đoàn tàu sẽ tới chân núi này. Anh em Sáng thường nói chuyện với nhau rằng đoàn tàu giống như một con mãnh thú thở phì phì sau gáy mình, sẵn sàng xé xác mình. Nhưng hai anh em không bao giờ tự hỏi họ còn cầm cự được bao lâu nữa trên những chiếc “sọt tử thần”. Cái chết sẽ đến khi người ta nói về nó. Bằng cách câm lặng như vậy, họ sẽ luôn giữ được khoảng cách với cái chết.
Mùa thu dần sang. Đầu tàu càng lúc càng tiến lại gần hơn, JA. càng ngày càng hay say rượu hơn. Những lúc đó hắn đánh bất cứ ai hắn gặp trên đường. Đôi khi hắn say tới mức ngủ gục trên lưng ngựa. Tuy hắn ngủ, nhưng mọi người vẫn sợ hắn.
Đôi khi Sáng mơ thấy trong đêm ngọn núi tự liền lại. Vào buổi sáng khi mọi người thức dậy, họ phát hiện ra mình đang đứng trước bức tường đá còn nguyên vẹn, nơi mà mọi việc chỉ mới bắt đầu. Nhưng ngọn núi dần dần bị khuất phục. Họ đục, khoét, đánh mìn về hướng Đông, từng mét một, trong lúc gã cai thợ luôn canh chừng sau lưng.
Vào một buổi sáng, hai anh em họ nhìn thấy một ông lão người Trung Hoa bình thản leo lên một tảng đá cao rồi buông mình xuống. Sáng sẽ không bao giờ quên ông lão đã kết thúc cuộc sống của mình với phẩm cách như thế nào.
Cái chết luôn luôn kề cận. Một người đàn ông đập nát đầu mình bằng lưỡi cuốc, một người khác đơn giản là đi ra hoang mạc rồi biến mất. Gã cai thợ cho người da đỏ cùng chó săn đuổi theo, nhưng không bao giờ tìm được người đó. Chúng chỉ có thể phát hiện được những người bỏ trốn chứ không thể tìm được những người đi vào hoang mạc để chết.
Vào một ngày, Brown cho triệu tập mọi người làm việc ở đoạn đường được đặt tên là “Cổng địa ngục” lại. Họ phải đứng thành hàng. Khi JA. cưỡi ngựa đến, hắn tỉnh táo và ăn mặc sạch sẽ. Thường thì ở hắn bốc mùi mồ hôi và mùi nước tiểu. Hắn ngồi trên mình ngựa, không thét lác mà từ tốn nói:
– Hôm nay, chúng ta có khách tới thăm. Một vài quý ngài, những người đầu tư vốn cho hỏa xa, muốn tới xem liệu công việc có đạt đúng tiến độ không. Ta muốn các ngươi hôm nay làm việc khẩn trương hơn mọi ngày. Nếu vui vẻ hò reo hoặc ca hát thì càng tốt. Nếu ai được hỏi chuyện, người đó phải trả lời lịch sự và nói mọi thứ ở đây đều ổn. Công việc ổn, ăn uống ổn, lều lán ổn, thậm chí ta cũng ổn. Ai xử sự khác, người đó hãy coi chừng, địa ngục sẽ chờ đợi khi các quý ông đó rời khỏi đây, điều này ta hứa với các người đấy.
Mấy tiếng đồng hồ sau, những người khách ấy đã đến trên một chiếc xe đóng kín với một đội kỵ binh có vũ trang tháp tùng. Đó là ba người đàn ông mặc comple màu đen, đội mũ cao. Họ thận trọng bước trên mặt đường gồ ghề. Theo sau mỗi người là một người da đen cầm ô che nắng cho họ. Sáng và Quốc Sĩ đã ở trong sọt và đang gài thuốc nổ ở trên cao khi những người đàn ông đó xuất hiện. Họ vào chỗ ẩn nấp trước cả khi anh em Sáng châm thuốc nổ rồi thét to để người ta hạ dây xuống.
Sau khi những tảng đá bị công phá, một trong ba người mặc comple đen đi đến chỗ Sáng và muốn nói chuyện với anh. Bên cạnh ông ta là một người Trung Hoa làm phiên dịch. Sáng nhìn vào đôi mắt màu xanh và khuôn mặt nhân từ của ông ta. Người đàn ông lần lượt đặt các câu hỏi mà không cao giọng lấy một lần:
– Anh tên là gì? Anh ở đây được bao lâu rồi?
– Tôi tên là Sáng. Ở đây đã được một năm.
– Công việc của anh thật là nguy hiểm.
– Tôi làm theo mệnh lệnh.
Người đàn ông gật đầu. Rồi ông ta lấy từ trong túi ra vài đồng xu và đưa chúng cho Sáng.
– Anh chia cho người đàn ông kia một nửa.
– Đó là anh trai của tôi, tên là Quốc Sĩ.
Người đàn ông tỏ ra băn khoăn một lúc.
– Anh trai của anh?
– Vâng.
– Cùng làm công việc nguy hiểm như anh?
– Vâng.
Ông ta gật đầu vẻ nghĩ ngợi và đưa thêm cho Sáng một vài đồng xu nữa. Rồi ông ta quay người đi khỏi. Sáng nghĩ rằng trong khoảng thời gian ngắn ngủi người đàn ông mặc đồ đen hỏi chuyện anh, anh đã thực sự tồn tại. Còn lúc này, anh lại trở lại là một người Trung Hoa vô danh với cái cuốc trong tay.
Khi chiếc xe chở ba người đàn ông đã đi khuất, JA. nhảy từ trên ngựa xuống bảo Sáng đưa cho mình số tiền xu mà anh vừa nhận được.
– Đô la vàng, hắn nói. Mày muốn làm gì với nó?
Hắn nhét những đồng xu này vào túi áo rồi nhảy lên ngựa.
– Giá như trước đây mày không bỏ trốn, có lẽ tao đã để cho mày giữ lại những đồng tiền này.
Trong Sáng bừng cháy nỗi căm hận mà anh gần như không thể kiểm soát được. Có lẽ rồi cuối cùng anh sẽ tự làm cho mình và gã cai thợ nổ tung trong không khí chăng?
Họ tiếp tục làm việc trong dãy núi. Thu đã sang hẳn, ban đêm trời lạnh hơn. Rồi, điều mà Sáng lo sợ nhất đã xảy ra. Quốc Sĩ bị ốm. Vào một buổi sáng, Quốc Sĩ thức dậy với một cơn đau bụng dữ dội, vội vã lao ra khỏi lán và vẫn còn kịp tụt quần xuống trước khi phân lỏng tóe ra.
Cánh thợ cùng lán sợ bị lây bệnh nên để anh một mình trong căn lều nhỏ. Sáng đem nước đến cho Quốc Sĩ. Ông già da đen có tên là Hoss đắp một chiếc khăn ướt lên trán anh và lau sạch đống phân lỏng rỉ ra từ đít. Hoss đã ở bên nhiều người bệnh đến nỗi dường như chẳng bệnh gì có thể lây sang ông được nữa. Ông chỉ còn lại một cánh tay từ khi suýt bị một tảng đá đè chết. Với bàn tay còn lại, ông đắp khăn ướt lên trán Quốc Sĩ và chờ cho đến khi anh chết.
Bất ngờ gã cai thợ xuất hiện trước cửa lều. Gã ghê tởm quan sát người đàn ông nằm ở đó trong đống phân lỏng.
– Bây giờ mày muốn chết hay chưa? Hắn hỏi.
Quốc Sĩ tìm cách ngồi dậy, nhưng anh không còn đủ sức.
– Tao cần căn lều này, JA. tiếp tục nói. Tại sao bọn người Trung Quốc chúng mày luôn dành nhiều thời gian cho cái chết vậy?
Buổi tối ông già Hoss kể lại cho Sáng những gì gã cai thợ đã nói. Họ đứng trước cửa lều, bên trong người ốm vẫn nằm và đang mê sảng. Quốc Sĩ sợ hãi la lên, anh ấy nhìn thấy có ai đó từ hoang mạc đến với mình. Hoss tìm cách làm cho Sĩ bình tĩnh lại. Ông đã chứng kiến nhiều cảnh hấp hối nên biết rằng đây là sự hoang tưởng thường thấy ở những người sắp lìa đời. Một lữ khách từ hoang mạc đến để đón nhận người chết. Người đó có thể là người bố, hoặc một vị thần, hoặc một người bạn hoặc có thể là người vợ.
Ông lão Hoss ngồi bên một người Trung Quốc mà chưa một lần biết tên anh ta. Ông cũng không quan tâm đến cái tên đó. Ai chết, người đó không cần tên.
Sáng tuyệt vọng chờ đợi.
Ngày đã trở nên ngắn hơn. Mùa thu đang trôi qua. Không lâu nữa, mùa đông sẽ tới.
Nhưng Quốc Sĩ đã khỏe lại như nhờ một phép lạ. Nó diễn ra rất chậm, Hoss và Sáng không dám tin, nhưng vào một buổi sáng Quốc Sĩ đã ngồi dậy được. Thần chết đã rời bỏ thể xác anh mà không đem theo nó đi.
Vào khoảnh khắc ấy, Sáng quyết tâm một ngày nào đó phải quay trở lại Trung Quốc. Ở đó, dù gì cũng là nhà của họ, chứ không phải trong hoang mạc ở đây.
Họ sẽ bền lòng bên dãy núi này cho tới khi hoàn thành xong cái hợp đồng nô lệ và được tự do, để đi đến bất kỳ đâu mà họ muốn. Họ sẽ chịu đựng hết thảy những trò hành hạ mà gã cai thợ JA. Và những cai thợ khác dành cho họ. Ngay cả lão Vương cũng không thể tiêu diệt được ý định này.
Sáng hoàn toàn không thể chống lại được bệnh tật và tai nạn lao động. Tuy vậy, trong những năm qua anh đã bảo vệ cho Quốc Sĩ. Nếu lần này thần chết đã tha cho Sĩ, chắc thần sẽ không làm thế một lần nữa.
Họ tiếp tục cuốc đất, nổ mìn để mở đường hầm qua núi. Họ đã nhìn thấy những người thợ như mình bị thứ thuốc nổ hiểm ác xé nát thành từng mảnh như thế nào, nhìn thấy những người đã tự sát hoặc bị bệnh tật quật ngã ra sao. Bệnh tật luôn theo sát họ, những người thợ xây dựng đường sắt và cái bóng của JA. luôn treo lơ lửng trên người họ giống như một quả đấm phủ đầu đe dọa của người khổng lồ. Vào một ngày hắn đã bắn chết một người thợ vì anh này làm cụt hứng của hắn, sau đó hắn lại cưỡng chế những thợ ốm yếu, bệnh tật tiếp tục làm những công việc nguy hiểm nhất chỉ để nhanh chóng đẩy họ đến với cái chết.
Sáng lảng tránh, dè dặt mỗi khi thấy JA. ở gần. Lòng căm thù của anh đối với hắn đã cho anh sức mạnh để chịu đựng. Anh sẽ không bao giờ tha thứ cho cái thái độ khinh miệt của JA. khi Quốc Sĩ đang cố chống trả lại cái chết.
Sau khoảng hai năm không thấy lão Vương đến nữa. Một hôm, Sáng tình cờ nghe được tin đồn đâu như lão bị một người đàn ông bắn chết trong lúc chơi bài vì cho rằng lão đã gian lận. Sự thật như thế nào, Sáng không bao giờ được biết. Nhưng lão Vương đã không đến chỗ họ nữa. Nửa năm sau, Sáng mới tin rằng chuyện đó là có thật.
Lão Vương đã chết.
Cuối cùng thì cái ngày ấy cũng đã đến, thời gian trả nợ của họ đã qua và họ đã có thể rời bỏ công trường xây dựng đường sắt như những người đàn ông tự do. Sáng đã dành những giờ đồng hồ ít ỏi mà anh không làm việc hoặc không ngủ để nghĩ cách trở về Quảng Châu. Dường như đó là việc đương nhiên nhất, lại đi về hướng Tây, trở về cái thành phố có bến cảng, nơi mà họ đã có lần đặt chân lên đất liền sau một chuyến vượt biển dài lê thê. Nhưng một vài tháng trước khi được trả tự do, Sáng được biết có một người da trắng tên là Samuel Acheson muốn đưa một đoàn xe về miền Đông. Ông ta cần một người vừa nấu ăn vừa giặt giũ quần áo cho mình và ông ta hứa trả tiền công. Ông Acheson có được một tài sản lớn nhờ đãi vàng ở sông Yukon. Bây giờ ông muốn đi xuyên qua lục địa, để đến thăm người em gái, người thân duy nhất của mình, hiện đang sống ở New York.
Ông Acheson sẵn sàng nhận Sáng và Quốc Sĩ. Họ sẽ không phải hối hận khi đi cùng ông. Ông Samuel Acheson đối xử với mọi người đàng hoàng không câu nệ màu da của họ.
Chuyến vượt châu lục, qua những bình nguyên vô tận cùng những dãy núi, kéo dài hơn là Sáng đã ước đoán. Ông Samuel Acheson hai lần bị ốm và phải nằm lại nhiều tháng trời. Hình như ông không bị đau ốm về thể xác, mà là về tinh thần. Ông buồn bực tới mức tự nhốt mình trong lều và chỉ ra khỏi đó khi cơn trầm uất đã qua. Mỗi ngày hai lần Sáng dọn bữa ăn cho ông ở trong lều và nhìn thấy ông nằm trên chiếc phản nhỏ, quay mặt vào trong.
Nhưng cả hai lần ông đều qua được. Ông đã khỏe lại và không còn sầu muộn nữa. Họ lại tiếp tục lên đường. Mặc dù có đủ điều kiện đi tàu hỏa, nhưng ông Samuel Acheson lại thích được đi trên chiếc xe không mấy thoải mái với những con bò đực uể oải kéo.
Vào các buổi tối trên thảo nguyên mênh mông, Sáng thường hay nhìn lên bầu trời sâu vô cùng tận. Anh tìm cha, tìm mẹ và Vũ, nhưng không thấy họ đâu cả.
Họ đã đến New York, ông Acheson gặp lại em gái của mình, anh em Sáng nhận được tiền công và đi tìm một chuyến tàu thủy đưa họ sang Anh. Sáng được biết đó là con đường duy nhất: từ New York không có tàu đến Quảng Châu hoặc Thượng Hải. Cuối cùng họ cũng kiếm được chỗ trên boong của một chiếc tàu thủy chạy về Liverpool.
Đó là tháng Ba năm 1867. Vào buổi sáng, khi họ rời New York, sương mù dày đặc buông trên bến cảng. Đây đó vang lên tiếng còi hụ báo sương mù. Sáng và Quốc Sĩ đứng bên lan can mạn tàu.
– Chúng ta đang trên đường về nhà, Quốc Sĩ nói.
– Đúng thế, Sáng trả lời. Bây giờ chúng ta sẽ về nhà.
Trong chiếc khăn buộc nút có chứa chút tài sản ít ỏi của mình, Sáng còn để cả ngón tay cái của Lưu được cuốn kỹ trong một miếng vải bông. Anh luôn có ý định hoàn thành nhiệm vụ cuối cùng ấy.
Sáng thường hay mơ đến JA. Ngay cả khi hai anh em đã bỏ lại phía sau mình ngọn núi ấy, nhưng JA. Vẫn tiếp tục ám ảnh họ.
Và Sáng biết hắn ta sẽ không bao giờ rời bỏ họ. Không bao giờ.