Khi Sáng tỉnh dậy, anh chỉ thấy xung quanh mình bóng tối mịt mùng. Anh không thể nào cựa quậy được. Anh quờ quạng thấy các thanh tre của chiếc cũi mà anh đang bị nhốt trong đó, người gập làm đôi. Phải chăng Phàn đã bắt được anh, nhốt anh vào đây rồi đưa về quê?
Nhưng có một cái gì đó không phải là như vậy. Chiếc cũi lắc lư, nhưng không phải như là nó đang được khiêng đi. Anh lắng nghe trong bóng tối và tin rằng đó là tiếng nước vỗ bập bềnh. Anh hiểu ra mình đang ở trên một khoang tàu. Nhưng còn Quốc Sĩ đâu? Anh không nhìn thấy gì trong bóng tối, cố cất tiếng gọi, nhưng chỉ phát ra được tiếng phều phào yếu ớt, người ta đã nhét giẻ vào mồm anh. Anh gần như phát hoảng. Anh ngồi trong một chiếc cũi chật tới mức không duỗi chân tay ra được. Anh tìm cách huých lưng cho các thanh tre bung ra tìm đường thoát.
Bỗng nhiên có ánh sáng quanh anh. Có ai đó đã kéo bỏ tấm vải buồm phủ trên chiếc cũi tre. Lúc quay đầu lại, anh nhìn thấy cửa khoang tàu phía trên, nhìn thấy một khoảng trời xanh và một đám mây trắng lẻ loi. Người đàn ông đang cúi xuống gần chiếc cũi có một vết sẹo dài trên mặt, mớ tóc cáu bẩn được buộc túm lại phía sau gáy. Gã nhổ nước bọt, thò tay vào trong cũi lôi miếng giẻ nhét trong mồm anh ra.
– Bây giờ thì mày có thể gào lên được rồi đấy, gã nhăn nhở. Ở đây, giữa biển sẽ chẳng có ai nghe thấy mày đâu.
Gã thủy thủ nói tiếng địa phương nên hầu như Sáng không hiểu được.
– Tôi đang ở đâu? Anh hỏi. Quốc Sĩ đâu?
Gã thủy thủ nhún vai:
– Chẳng còn lâu nữa, chúng ta sẽ xa hẳn đất liền, lúc đó chúng tao sẽ cho mày ra khỏi cũi, tha hồ mà đi chào hỏi các bạn đồng hành may mắn của mày. Trước đây, chúng mày tên là gì cũng mặc xác. Khi nào đến nơi, chúng mày sẽ có tên mới.
– Chúng tôi được đưa đi đâu?
– Tới thiên đường.
Gã thủy thủ cười vang, trèo lên cửa khoang tàu rồi biến mất. Sáng quay đầu nhìn mọi phía. Chỗ nào cũng thấy có cũi tre giống như cái cũi nhốt anh. Tất cả đều được phủ bạt. Cảm giác cô đơn khủng khiếp xâm chiếm tâm hồn anh. Vũ và Quốc Sĩ đã biến mất. Chỉ còn lại mình anh, như một con thú bị nhốt trong cũi đang đến với cái nơi mà chẳng có ai quan tâm đến tên của nó.
Sau này, Sáng nhớ lại những giờ phút đó như là một tiết mục giữ thăng bằng trên miệng vực, ranh giới giữa cái sống và cái chết vô cùng mỏng manh. Anh hoàn toàn chẳng còn gì để mà phải sống, nhưng lại không thể tự sát được.
Anh không thể nói tình cảnh ấy kéo dài trong bao lâu. Cuối cùng đám thủy thủ cũng leo xuống hầm tàu qua khoang cửa. Chúng dỡ những tấm bạt, mở cửa cũi, quát tháo người bị nhốt trong đó mau đứng dậy. Các khớp xương của Sáng cứng đơ, nhưng cuối cùng anh cũng đứng dậy được.
Anh nhìn thấy Quốc Sĩ bị một thủy thủ lôi mạnh ra khỏi cũi. Anh đi cà nhắc đến chỗ Sĩ trên hai chân còn tê dại, cứng đơ và bị quất mấy roi, trước khi giải thích được là mình chỉ muốn đến giúp anh trai.
Họ bị xua lên boong tàu rồi bị xích với nhau. Đám thủy thủ đều nói với nhau bằng thổ ngữ mà Sáng không hiểu được, tất cả đều cầm dao, kiếm trong tay canh gác họ. Sợi dây xích quá nặng khiến Quốc Sĩ vất vả lắm mới đứng vững được. Sáng nhìn thấy một vết thương nặng trên trán Quốc Sĩ. Một gã thủy thủ dùng mũi kiếm đẩy anh đi.
– Anh tôi bị đau, Sáng nói. Nhưng không lâu nữa sẽ khỏi.
– Hy vọng là mày nói đúng. Hãy cố mà chăm sóc cho anh mày khỏe lại. Nếu không chúng tao sẽ quăng cả hai xuống biển.
Sáng cúi gập người xuống. Rồi anh giúp Sĩ đến ngồi trong bóng râm của một cuộn dây chão.
– Có em ở đây, Sáng nói. Em sẽ giúp anh.
Quốc Sĩ nhìn em mình với hai con mắt còn chảy máu:
– Vũ đâu rồi?
– Nó còn ngủ. Mọi việc sẽ tốt cả thôi.
Quốc Sĩ lại rơi vào tình trạng nửa tỉnh nửa mê. Sáng thận trọng nhìn quanh. Con tàu với những cánh buồm no gió được cột chặt vào ba cột buồm lớn chạy phăng phăng. Sáng không thấy nơi đâu là đất liền. Nhờ vào vị trí mặt trời nên anh nhận ra con tàu đang chạy về hướng Đông.
Những người đàn ông bị xích với nhau đều ở trần, gầy gò như Sáng. Anh đưa mắt tìm Vũ, nhưng tuyệt nhiên không thấy đâu cả. Anh hiểu rằng Vũ đã chết thật và nằm lại ở Quảng Châu. Mỗi một đợt sóng bị con tàu xé rách, Vũ lại càng nằm lại xa hơn ở phía sau anh em Sáng.
Sáng nhìn người bạn đường cùng cảnh ngộ ngồi bên cạnh. Một bên mắt của anh ta sưng vù và một vết thương sâu hoắm ở trán do bị chém bởi một con dao hoặc một lưỡi kiếm. Sáng không biết liệu có được phép nói chuyện với nhau không hay là bị cấm. Nhưng anh thấy mấy người bị xích chung trong dây xích dài đang thì thầm nói chuyện với nhau.
– Tôi là Sáng, anh khẽ nói. Chúng tôi bị tấn công trong đêm. Sau đó thì tôi không biết thêm gì nữa cho tới khi tỉnh lại ở trên tàu.
– Còn tôi là Lưu.
– Chuyện gì đã xảy ra với anh vậy, anh Lưu?
– Tôi chơi cờ bạc mất hết cả tài sản, quần áo, đồ nghề. Tôi là thợ mộc. Tôi không trả được nợ, nên họ đã bắt tôi. Tôi tìm cách thoát thân nên bị họ đánh. Lúc mở được mắt ra đã thấy mình ở trên tàu.
– Anh có biết chúng ta bị chở đi đâu không?
Lưu nhổ nước bọt, thận trọng giơ bàn tay bị xích sờ vào bên mắt bị thương:
– Khi nhìn quanh, tôi đã có câu trả lời. Chúng ta đang trên đường sang châu Mỹ, hay đúng hơn là địa ngục. Nếu thoát được, tôi sẽ nhảy xuống biển.
– Anh có thể bơi trở lại được à?
– Anh đúng là ngốc. Tôi sẽ chết đuối.
– Nhưng như thế anh sẽ chẳng được chôn cất.
– Tôi sẽ chặt đứt một ngón tay của mình, nhờ một ai đó cầm nó về Trung Hoa và chôn ở đó. Tôi vẫn còn một ít tiền để thuê người làm việc đó. Tôi không mất hết cả xác dưới biển.
Câu chuyện bị gián đoạn khi một gã thủy thủ gõ kẻng. Người ta ra lệnh cho họ ngồi xuống và mỗi người nhận được một bát cơm. Sáng lay Sĩ dậy và bón cơm cho anh rồi sau đó mới ăn suất ăn của mình. Bát cơm họ nhận được đã có mùi thiu.
– Tuy cơm thiu, nhưng nó vẫn giữ được mạng sống của chúng ta, Lưu nói. Nếu chết, chúng ta chẳng còn giá trị gì nữa. Chúng ta giống như những con lợn được người ta cho ăn trước khi đưa đến lò mổ.
Sáng nhìn Lưu kinh hãi:
– Họ sẽ giết thịt chúng ta ư? Do đâu mà anh biết được những chuyện như vậy?
– Cả đời tôi đã được nghe đủ chuyện nên biết cái gì đang chờ chúng ta. Sẽ có người đứng bên bến cảng mua chúng ta. Một là chúng ta sẽ bị đưa đến những hầm mỏ hoặc sẽ bị đưa đến một vùng sa mạc xa tít tắp ở ngoài kia, nơi chúng ta phải đặt sắt lên đất cho những chiếc máy có nước sôi trong bụng kéo những toa tàu có bánh lớn chạy đi. Nhưng hỏi thế đủ rồi. Dù sao thì anh cũng quá ngốc, khó mà hiểu được.
Lưu quay người rồi nằm xuống ngủ. Sáng cảm thấy bị xúc phạm. Giá như anh còn tự do, Lưu sẽ không bao giờ dám nói với anh như vậy.
Buổi tối gió đã yếu đi. Những cánh buồm không đủ gió rủ xuống. Mỗi người lại nhận được một bát cơm đã chớm mốc, một muỗng nước uống và một chiếc bánh mì khô cứng gần như không nhai được nữa. Sau đó họ thay nhau ngồi xổm trên mạn tàu để đại tiểu tiện. Sáng phải giữ chặt lấy Quốc Sĩ để anh không bị sợi dây xích nặng nề kéo lộn qua mạn tàu, kéo theo những người khác rơi xuống biển.
Một thủy thủ mặc đồng phục màu đen, da trắng như người đàn ông mà Sáng đã nhìn thấy ở Quảng Châu trong chiếc kiệu, cho phép Quốc Sĩ và Sáng được ngủ trên boong tàu. Hai anh em họ bị xích vào cột buồm, trong khi đó những người còn lại ngủ dưới hầm tàu, nắp hầm được khóa lại.
Sáng ngồi tựa lưng vào cột buồm, nhìn những gã thủy thủ đang ngồi bên lò than đun nước và hút thuốc bằng những chiếc tẩu to. Con tàu trườn trên mặt biển sau những con sóng lừng, kêu cót két. Thỉnh thoảng lại có một thủy thủ đến bên Sáng và Quốc Sĩ kiểm tra xem họ có tìm cách trốn không.
– Chúng ta phải đi mất bao lâu? Sáng hỏi.
Gã thủy thủ ngồi xổm xuống, rít tẩu thuốc phả ra mùi ngòn ngọt.
– Cái này thì người ta không bao giờ biết được, gã trả lời. Thuận lợi thì bảy tuần, xấu nhất thì mất ba tháng. Nếu ngược gió. Nếu trên tàu có ma quỷ.
Sáng không biết chắc một tuần là bao nhiêu ngày. Và một tháng? Sáng chưa hề học tính toán như vậy. Ở làng, người ta sống theo lần mặt trời lặn rồi mọc, theo mùa. Nhưng Sáng có cảm giác rằng gã thủy thủ muốn nói chuyến hải hành này sẽ rất dài.
Con tàu nằm im một vài ngày vì lặng gió, buồm được hạ xuống. Đám thủy thủ tỏ ra sốt ruột, dễ cáu kỉnh và thường vô cớ đánh đập những người bị xiềng xích. Quốc Sĩ dần dần bình phục, thỉnh thoảng anh còn hỏi được xem chuyện gì đã xảy ra.
Mỗi sáng cũng như mỗi tối, Sáng đều đưa mắt tìm đất liền. Nhưng chỉ thấy biển mênh mông vô tận và những cánh chim lẻ loi bay quanh con tàu rồi biến mất.
Mỗi ngày qua đi, Sáng lại khía một vạch vào cột buồm nơi anh và Quốc Sĩ bị xích. Thời tiết thay đổi đột ngột, khi Sáng khía được vạch thứ mười chín, con tàu rơi vào một trận bão lớn. Suốt trong thời gian mưa bão, hai anh em họ vẫn bị xích bên cột buồm, mặc dù có những con sóng lớn tràn qua người họ, sập xuống đầu họ. Sức mạnh của biển khơi dữ dội đến mức Sáng tin rằng con tàu sẽ bị đánh vỡ tan tành. Trong những ngày bão, đồ ăn của họ chỉ là mấy miếng bánh quy do một thủy thủ phải buộc dây thừng quanh bụng, đem đến cho hai anh em. Họ nghe thấy tiếng kêu gào khiếp sợ của những người khác dưới hầm tàu.
Cơn bão kéo dài suốt ba ngày, rồi gió giảm dần và cuối cùng nó đã ngủ yên. Họ hoàn toàn bất động đúng một ngày một đêm, rồi gió lại nổi làm cho đám thủy thủ phấn chấn hẳn lên. Những cánh buồm lại căng phồng và những người đàn ông bị xích lại được trèo lên boong qua cửa hầm tàu.
Sáng hiểu ra rằng họ sẽ có nhiều cơ hội sống sót hơn nếu được phép ở lại trên boong. Anh nói với Quốc Sĩ hãy làm ra vẻ vẫn còn sốt nhẹ mỗi khi có tay thủy thủ nào hoặc gã thuyền trưởng da trắng đến xem tình trạng của anh ra sao. Sáng đảm bảo với họ rằng anh trai mình đang dần bình phục nhưng vẫn chưa hoàn toàn khỏe mạnh.
Một vài ngày sau trận bão, đám thủy thủ phát hiện thấy một hành khách đi lậu. Chúng tức giận gào thét lôi người đó ra khỏi chỗ ẩn náu ở dưới hầm tàu. Ở trên boong, nỗi tức giận của chúng bỗng chuyển sang phấn khích khi biết đó là một phụ nữ trẻ ăn mặc giả trai. Nếu như viên thuyền trưởng không can thiệp và không rút súng ra ngăn bọn thủy thủ lại thì chắc chắn đám người ấy đã lăn xả vào cô gái. Ông ta ra lệnh trói cô gái vào cột buồm cùng với anh em Sáng. Kẻ nào động đến cô ta sẽ phải ăn đòn hằng ngày trong suốt cuộc hành trình.
Cô gái còn rất trẻ, cùng lắm chỉ mới khoảng mười tám, mười chín tuổi. Mãi tới tận tối, khi trên tàu đã im lặng, chỉ còn lại một người bẻ lái, một người đứng trên đài quan sát và một vài người canh gác, Sáng mới thì thầm hỏi tên cô. Cô trả lời anh với ánh mắt mệt mỏi và tiếng nói hầu như không nghe được. Tên cô là Tôn Na. Sáng không nói gì, đưa cho cô gái chiếc chăn cũ kỹ của Quốc Sĩ. Cô gái nằm xuống, kéo chăn phủ kín người từ đầu tới chân.
Ngày hôm sau, viên thuyền trưởng cùng với một phiên dịch đến chỗ cô và chất vấn cô. Cô nói tiếng địa phương nghe rất giống tiếng ở quê anh em Sáng. Cô nói khẽ tới mức mà hầu như không ai hiểu được cô nói gì. Nhưng dù sao Sáng cũng biết được rằng cha mẹ cô đã qua đời và một người họ hàng của cô dọa gả cô cho một điền chủ đáng sợ thường xuyên đánh đập, ngược đãi những người vợ trẻ của hắn. Do vậy Tôn Na đã trốn đến Quảng Châu, ở đó, cô đã lẻn lên tàu này để đến châu Mỹ, nơi chị gái cô sống.
– Chúng tôi sẽ để cô sống, viên thuyền trưởng nói. Tôi không quan tâm đến việc cô có chị gái hay không. Nhưng ở châu Mỹ đang rất thiếu phụ nữ Trung Hoa.
Ông ta lấy từ trong túi ra một đồng tiền bạc, tung nó từ tay này sang tay kia.
– Cô sẽ là một khoản thu nhập thêm của tôi trong chuyến đi này. Điều này có ý nghĩa thế nào, cô chắc chắn không hiểu được. Nhưng thế càng tốt.
Tối hôm đó, Sáng lại tiếp tục hỏi cô. Cô kéo chiếc chăn bẩn trùm lên đầu và rất kiệm lời. Cô đến từ một làng có cái tên mà Sáng chưa bao giờ nghe tới. Nhưng khi cô tả lại phong cảnh và đặc biệt là màu nước con sông ở gần làng mình, anh hiểu ra ngay nó không cách xa ngôi làng Vân Hải của anh là mấy.
Con tàu vẫn tiếp tục chạy về hướng Đông. Sáng lại khía vào cột buồm khi một ngày trôi qua. Anh thấy những người đàn ông ban đêm phải ngủ dưới hầm tàu chật chội, ngột ngạt, sức khỏe ngày càng tồi tệ hơn. Đã có hai người trong số họ được đưa lên boong tàu, được quấn trong mảnh buồm cũ rồi bị quăng qua thành tàu xuống biển mà không có ai nói một lời nào hoặc cúi đầu trước biển cả đang đón nhận hai xác chết vào lòng nó. Cái chết có mệnh lệnh riêng của nó ở trên tàu. Nó ấn định các trận gió, các dòng chảy, những con sóng và ai sẽ được đưa lên boong từ hầm tàu bốc mùi hôi thối.
Một vài ngày sau, lại có thêm xác chết từ hầm tàu được đưa lên boong. Quốc Sĩ và Sáng không nhìn thấy ai là người đã bị quăng qua thành tàu. Nhưng một người trong đám thủy thủ đi đến chỗ họ bên cột buồm sau khi xác chết đã biến mất. Anh ta cầm trong tay một miếng giẻ được cuộn lại.
– Người đó muốn anh nhận cho cái này.
– Ai cơ?
– Tôi không biết tên người đó.
Sáng cầm lấy cuộn giẻ và mở nó ra. Bên trong là một ngón tay cái bị chặt đứt. Như vậy, người chết là Lưu. Khi cảm thấy thời gian của mình sắp kết thúc, anh ấy đã chặt đứt ngón tay cái của mình, trả tiền cho người thủy thủ này, nhờ anh ta trao nó cho Sáng.
Sáng cảm thấy vinh hạnh. Anh đã nhận được bằng chứng cao cả nhất của lòng tin. Lưu đã tin rằng đến một ngày nào đó Sáng sẽ lại trở về Trung Hoa.
Sáng nhìn ngón tay cái một lúc lâu, rồi anh bắt đầu lọc da và thịt của ngón tay cái đó bằng cách chà nó vào sợi dây xích quàng ở chân mình. Anh cố không để Quốc Sĩ nhìn thấy mình đang làm gì.
Phải mất hai ngày anh mới làm sạch được ngón tay cái đó. Sau đó anh rửa sạch nó trong một vũng nước mưa rồi giấu vào trong gấu áo. Anh sẽ thực hiện nhiệm vụ này kể cả khi gã thủy thủ đã ỉm số tiền mà chắc chắn Lưu cũng nhờ chuyển đến cho anh.
Hai ngày sau, lại có thêm một người chết. Nhưng lần này thân xác ấy không phải được đưa lên từ hầm tàu. Người chết không ai khác chính là vị thuyền trưởng. Sáng đã nghĩ nhiều đến đất nước nơi anh sẽ đến, đó cũng là nơi những người đàn ông da trắng nhợt kỳ lạ như người đàn ông này cư ngụ. Anh đã nhìn thấy người đàn ông này bỗng nhiên rùng mình như thể ông ta bị một nắm tay vô hình đánh trúng. Ông ta ngã xuống và không nhúc nhích nữa. Đám thủy thủ từ mọi phía ùa đến la hét, chửi rủa, nhưng uổng công. Ngày hôm sau, viên thuyền trưởng cũng bị quăng xuống biển. Nhưng ông ta được quấn trong một lá cờ có các đường sọc và những ngôi sao.
Cái chết của thuyền trưởng xảy ra đúng vào một đợt sóng yên biển lặng. Suốt nhiều ngày, không có lấy một cơn gió. Sự sốt ruột của thủy thủ dường như đã chuyển sang trạng thái lo sợ và bất an. Một vài thủy thủ cho rằng ác quỷ đã quật chết thuyền trưởng và khiến các trận gió ngủ yên. Trên tàu lúc này có nguy cơ thiếu nước và lương thực dự trữ. Đôi khi xảy ra những trận cãi lộn và ẩu đả. Khi còn thuyền trưởng, những chuyện như thế này lập tức bị trừng phạt. Người tài công thay thế thuyền trưởng hình như không đủ uy tín và cũng thiếu quyết đoán. Sáng bắt đầu cảm thấy lo lắng về sự nhộn nhạo trên tàu. Anh tiếp tục khía vạch vào cột buồm. Bao nhiêu thời gian đã trôi qua? Biển mà con tàu đang phải vất vả vượt qua rộng tới mức nào?
Vào một tối, lúc Sáng thiu thiu ngủ bên cột buồm, từ trong bóng tối xuất hiện một vài thủy thủ tới cởi trói cho Tôn Na. Một người nhét giẻ vào mồm cô để cô không kêu cứu được. Sáng kinh hãi nhìn họ lôi cô gái về phía mạn tàu, lột hết quần áo của cô rồi cưỡng hiếp. Càng lúc càng có nhiều thủy thủ xuất hiện từ trong bóng tối, chờ đợi đến lượt mình. Sáng phải chứng kiến cảnh tượng đó mà không thể làm gì được.
Bỗng anh thấy Quốc Sĩ tỉnh giấc. Anh thốt lên đau đớn khi hiểu được chuyện gì đang xảy ra.
– Tốt hơn là anh hãy nhắm mắt lại, Sáng nói. Em không muốn anh ốm lại. Chuyện xảy ra ở đây dễ làm cho người ta phát sốt mà chết.
Tôn Na nằm bất động khi đám thủy thủ đã làm xong cái việc của chúng. Một gã thủy thủ tròng dây vào cổ cô, kéo thân thể lõa lồ của cô lên một cột buồm. Hai chân cô giãy giụa. Cô tìm cách bám chặt hai tay vào sợi dây thừng kéo mình lên, nhưng không còn đủ sức. Cuối cùng cô bị treo lủng lẳng trên sợi dây. Sau đó đám thủy thủ quăng xác cô xuống biển, không có lấy một tấm vải buồm quấn lên người. Sáng không thể ngăn được tiếng kêu tuyệt vọng bật ra từ môi anh. Một gã thủy thủ nghe thấy tiếng anh.
– Mày thương nhớ người tình à? Gã hỏi.
Sáng sợ cũng bị ném qua mạn tàu.
– Tôi không có người tình nào cả, anh nói.
– Nó đã làm cho gió lặng, đã phù phép làm cho thuyền trưởng chết. Bây giờ thì nó đã biến mất và gió sẽ lại nổi lên.
– Vậy việc quẳng cô ta xuống biển là việc làm hoàn toàn đúng.
Gã thủy thủ cúi sát xuống người Sáng.
– Mày sợ, gã nói. Mày sợ và mày đã dối trá. Nhưng mày không việc gì phải sợ, bọn tao không ném mày qua mạn tàu đâu. Mày nghĩ gì, tao không biết. Nhưng xem chừng mày sẽ thiến tao, nếu như mày có thể làm được việc đó. Không chỉ riêng tao, mà là tất cả ở trên tàu này. Một thằng đàn ông suốt ngày bị xích vào cột buồm thì chẳng biết nó sẽ nghĩ ra những gì đâu.
Gã cười nhăn nhở rồi bỏ đi.
Quốc Sĩ không nhắc lại chuyện mà anh đã thấy. Sáng đã quen với ý nghĩ rằng có thể họ sẽ chẳng bao giờ đến được với bến bờ xa lạ bên kia. Đôi khi anh mơ thấy một người không có mặt đã lột da thịt anh ra rồi ném cho những con chim khổng lồ. Anh giật mình thức giấc. Sau một cơn ác mộng như vậy, thấy mình vẫn còn bị xích vào cột buồm quả là một cảm giác nhẹ bẫng tuyệt vời.
Họ giong buồm trong gió thuận một thời gian dài. Một buổi sáng, ngay sau khi trời hửng, anh nghe có tiếng reo to của hoa tiêu đứng trên chòi nhỏ phía đầu tàu. Tiếng reo của người đó cũng đánh thức Quốc Sĩ.
– Tại sao người đó lại reo to vậy?
– Em nghĩ, điều không tưởng đã xảy ra, Sáng trả lời và nắm chặt lấy bàn tay anh trai. Em nghĩ là họ đã nhìn thấy đất liền.
Ban đầu, nó như một dải đen sẫm treo trên các con sóng. Rồi họ nhìn thấy dải đen ấy lớn dần lên, đất liền, nó đã nhô lên khỏi mặt nước.
Hai ngày sau, họ có mặt trong một vịnh lớn, nơi những con tàu chạy bằng hơi nước cùng những chiếc thuyền buồm như thuyền của họ chen chúc nhau trong vũng và bên các cầu tàu. Tất cả mọi người được đưa lên boong. Những thùng lớn chứa nước uống được kéo lên, họ nhận được xà phòng và được tắm rửa dưới sự giám sát của các thủy thủ. Bây giờ không còn ai bị đánh đập nữa. Thậm chí khi có người nào đó không tắm rửa sạch sẽ, đám thủy thủ còn sẵn sàng kỳ cọ giúp họ. Mọi người được cạo râu, nhận được khẩu phần nhiều hơn trong chuyến hải hành. Sau khi mọi công việc chuẩn bị đã hoàn tất, những sợi dây xích chân được thay bằng còng tay.
Con tàu của họ còn nằm trên vịnh. Sáng và Quốc Sĩ cùng với những người khác đứng xếp hàng, nhìn lên bến cảng chạy dài. Nhưng thành phố trên đồi không lớn lắm. Sáng nhớ đến Quảng Châu. Thành phố này hoàn toàn không thể sánh với thành phố đã nằm lại ở phía sau họ. Liệu có đúng là đáy của những con sông ở đây được phủ vàng?
Tối đến, có hai chiếc thuyền nhỏ ghé sát vào con tàu của họ và neo lại ở phía cuối gió. Một chiếc thang dây được thả xuống. Sáng và Quốc Sĩ là hai trong số những người cuối cùng được đưa xuống. Những thủy thủ đón họ đều là người da trắng, đều để râu quai nón, có mùi mồ hôi, một vài người còn say rượu. Họ tỏ ra sốt ruột, xô đẩy Quốc Sĩ vì anh đi quá chậm. Ống khói của hai chiếc thuyền nhỏ nhả ra những đụn khói đen. Sáng nhìn con tàu với tất cả những vạch khía mà anh đã khía vào cột buồm, biến mất trong bóng đêm. Lúc này sợi dây cuối cùng nối với cố quốc của anh đã bị cắt đứt.
Sáng nhìn lên bầu trời đầy sao. Vòm trời trên đầu anh không giống như vòm trời trước đây anh đã từng thấy. Những chòm sao vẫn như cũ, chỉ khác là chúng đã chuyển dịch vị trí.
Anh thấy hình như lúc này mới hiểu ra được thế nào là cô đơn: ngay cả những vì sao trên trời cũng bỏ rơi anh.
– Chúng ta đi đâu? Quốc Sĩ thì thầm hỏi.
– Em cũng không biết.
Khi lên đến đất liền, họ phải giữ chặt lấy nhau để khỏi bị ngã. Họ ở trên tàu quá lâu nên đã mất đi khả năng giữ thăng bằng, khi đất dưới chân họ bỗng nhiên không chuyển động nữa.
Họ bị đẩy vào một phòng tối, sặc mùi sợ hãi và nước đái mèo. Một người đàn ông Trung Quốc, ăn mặc như những người da trắng, bước vào. Bên cạnh ông ta còn có hai người Trung Quốc cầm đèn dầu hỏa thắp sáng.
– Đêm nay các anh ở lại đây, người Trung Quốc đó nói. Ngày mai chúng ta lại tiếp tục lên đường. Không ai được tìm cách trốn khỏi đây. Nếu các anh gây ồn ào, chúng tôi sẽ khâu miệng các anh lại. Đến lúc đó, vẫn còn không im miệng, tôi sẽ cắt lưỡi các anh.
Hắn giơ cao con dao để mọi người có thể nhìn thấy rõ trong ánh sáng của ngọn đèn dầu.
– Nếu các anh làm theo những gì tôi nói, mọi việc sẽ tốt, nếu không mọi việc sẽ tồi tệ. Tôi có những con chó rất thích nhai lưỡi người.
Hắn nhét con dao vào bao.
– Sáng mai các anh sẽ nhận được khẩu phần ăn. Mọi chuyện rồi sẽ tốt cả thôi. Không lâu nữa, các anh sẽ bắt đầu làm việc. Ai chăm chỉ, sẽ có ngày trở về bên kia đại dương trong cảnh giàu sang.
Hắn rời khỏi căn phòng cùng với hai người xách đèn. Không một ai trong số những người đang phải chen chúc trong bóng tối dám mở miệng. Sáng thì thầm với Quốc Sĩ bảo anh trai cố ngủ đi một lát. Dù ngày mai có xảy ra chuyện gì đi chăng nữa, họ cũng cần có sức.
Sáng nằm thức rất lâu bên anh trai, Quốc Sĩ vừa đặt mình xuống đã ngủ. Quanh anh, tiếng thở chập chờn của những người đang ngủ hòa lẫn với tiếng thở của những kẻ còn thức. Sáng ép tai vào bức tường lạnh lẽo tìm cách lắng nghe những tiếng động ở bên ngoài. Nhưng bức tường thì lại dày và câm lặng, không để tiếng động lọt qua.
– Hãy tới tìm anh, Sáng nói với Vũ trong bóng tối. Dù đã chết, em vẫn là người duy nhất trong mấy anh em mình còn ở lại Trung Hoa.
Ngày hôm sau họ được chở đi trên chiếc xe ngựa kéo trùm kín bạt. Họ rời khỏi thành phố mà không được nhìn thấy gì ở đó. Mãi tới lúc đến được nơi toàn cát là cát, khô cằn, chỉ có những bụi cây lúp xúp mọc, những người đàn ông cưỡi ngựa với súng trường trong tay mới kéo tấm bạt phủ xe sang hai bên.
Trời nắng nhưng lại rất lạnh. Sáng nhìn thấy những chiếc xe sắp thành hàng dài như một đoàn lữ hành. Anh nhận ra ở phía xa một dãy núi lớn.
– Chúng ta đi đâu thế? Quốc Sĩ lại hỏi.
– Em không biết. Em đã bảo anh đừng có hỏi nhiều. Khi nào biết em sẽ bảo anh.
Họ đi tiếp nhiều ngày nữa về hướng núi. Đêm đêm họ ngủ dưới gầm xe xếp vòng tròn.
Mỗi ngày qua nhiệt độ lại hạ xuống. Sáng thường tự hỏi liệu anh em họ có bị chết rét không.
Băng giá đã ở trong anh. Một trái tim nặng nề, khiếp sợ, đã đóng băng.