Trời mưa đúng vào buổi chiều tháng Năm ấy, khi Birgitta Roslin tiễn gia đình mình đến Copenhagen để từ đó họ bay đến du lịch tại Madeira. Sau nhiều lần cân nhắc, bàn bạc với Staffan, bà đã quyết định không cùng đi với họ. Sau một đợt nghỉ ốm kéo dài vào đầu năm, bà thấy không thể đến gặp chánh án xin nghỉ phép nữa. Tòa sơ thẩm vẫn còn chồng chất các vụ kiện chưa được xử xong. Birgitta Roslin đơn giản là không thể vắng mặt được.
Họ đến Copenhagen trong cơn mưa tầm tã. Staffan, vốn được đi tàu hỏa miễn phí, đã đề xuất ông sẽ đi tàu một mình đến Kastrup, nơi các con đợi, nhưng bà vẫn khăng khăng muốn được lái xe đưa ông đi. Bà giơ tay vẫy chào khi ông và các con bước vào phòng chờ bay. Bà vào một quầy cà phê ngồi nhìn dòng người đang kéo những chiếc va li và cả những ước mơ của họ vào trong các chuyến đi đến những miền đất xa xôi.
Trước đây mấy ngày bà đã gọi điện cho Karin Wiman báo tin mình sẽ đến Copenhagen. Mặc dù đã mấy tháng trôi qua từ khi ở Bắc Kinh trở về, hai người vẫn chưa có điều kiện gặp lại nhau. Sau đợt nghỉ ốm, Birgitta Roslin đã lao đầu vào công việc. Ông Hans Mattsson đón bà bằng đôi cánh tay dang rộng, đặt một lọ hoa tươi lên bàn làm việc của bà và ngay sau đó là một chồng hồ sơ khởi tố chờ xét xử. Cũng đúng vào thời gian này, khoảng cuối tháng Ba, một chiến dịch truyền thông trên các báo miền Nam Thụy Điển đã được phát động nhằm tố cáo việc phải chờ đợi quá lâu ở các tòa án Thụy Điển. Các đồng nghiệp của Birgitta Roslin chê trách Hans Mattsson, người mà họ cho rằng quá rụt rè, không đủ cương quyết đứng ra giải thích rằng tình trạng bất lực hiện nay ở các tòa án là do các cơ quan hành pháp, trước hết là chính phủ đã phạm sai lầm trong chính sách tiết kiệm của mình. Trong khi các đồng nghiệp rên rỉ, tức giận vì công việc chồng chất thì Birgitta lại cảm thấy vui mừng khi được trở về với công việc. Bà thường hay ngồi lại làm việc rất muộn đến nỗi ông Hans Mattsson phải thận trọng nhắc nhở bà không được làm việc quá sức kẻo rồi lại ốm.
Vì vậy bà chỉ nói chuyện điện thoại với Karin Wiman. Đã hai lần họ tìm cách gặp nhau, nhưng lần nào cũng bị trục trặc. Giờ đây, cuối cùng Birgitta cũng có được một ngày rảnh rỗi. Đêm nay bà có thể ngủ lại ở chỗ Karin Wiman. Bà đem theo những tấm ảnh trong túi xách và háo hức muốn được xem những bức ảnh của Karin chẳng khác gì một đứa trẻ con.
Chuyến đi Bắc Kinh đã lùi xa. Bà thầm hỏi liệu có phải do tuổi tác mà các kỷ niệm chóng phai mờ như vậy. Bà đưa mắt nhìn quanh tiệm cà phê: trong một góc, có hai phụ nữ Ả Rập che mạng, một người hình như đang khóc.
Họ không thể cho bà một câu trả lời được, bà nghĩ. Ai có thể làm được điều này, nếu chính bản thân mình không làm được?
Birgitta và Karin hẹn ăn trưa với nhau ở một tiệm ăn trong trung tâm thành phố. Birgitta muốn qua một vài cửa hàng tìm mua một bộ quần áo phù hợp những khi có phiên xử. Nhưng trận mưa đã làm cho bà mất hết hứng thú. Bà ngồi lại ở sân bay cho đến lúc tới giờ hẹn. Bà bắt taxi vào thành phố vì không chắc là mình sẽ nhớ đường. Karin vui mừng vẫy Birgitta khi nhìn thấy bà bước vào tiệm ăn rất đông thực khách.
– Họ lên đường thuận lợi chứ?
– Giờ thì đã quá muộn để nghĩ đến điều này. Thật là mạo hiểm khủng khiếp khi để cả gia đình mình ngồi trên cùng một chuyến bay.
Karin lắc đầu.
– Sẽ không xảy ra chuyện gì đâu, bà nói. Máy bay là phương tiện giao thông an toàn nhất.
Hai người vừa ăn vừa xem ảnh, nhắc lại với nhau về những kỷ niệm của chuyến đi. Trong lúc Karin nói, bà Birgitta để ý thấy rằng đây là lần đầu tiên sau một thời gian dài mình mới lại nghĩ đến vụ tấn công. Đến bà Hồng, người phụ nữ đột ngột xuất hiện trước bàn ăn của bà. Đến chiếc túi xách tay được tìm thấy. Toàn bộ những sự việc lạ lùng và đáng sợ mà bà đã bị lôi kéo vào trong đó.
– Bạn vẫn nghe đấy chứ, bà Karin hỏi.
– Tất nhiên mình đang nghe. Vì sao bạn hỏi vậy?
– Xem ra không phải thế.
– Mình nghĩ đến gia đình đang trên máy bay.
Sau bữa ăn họ gọi cà phê. Karin đề xuất uống rượu cognac để chống chọi lại cái thời tiết mùa xuân lạnh lẽo này.
– Đương nhiên rồi! Birgitta trả lời.
Họ gọi taxi về nhà Karin. Lúc về đến nhà thì trời bỗng dưng lại tạnh mưa, tấm chăn mây được vén ra.
– Mình cần phải vận động, Birgitta nói. Mình đã ngồi quá lâu trong phòng làm việc, rồi lại ngồi sau tay lái.
Hai người dạo bước dọc bãi biển vắng người. Chỉ có vài người về hưu dắt chó đi dạo.
– Bạn nghĩ gì khi phải bỏ tù một người nào đó? Và đã có lần nào bạn kết án một tên giết người chưa?
– Nhiều lần rồi. Trong đó có một phụ nữ đã giết ba người. Bố mẹ và cậu em trai của chị ta. Mình còn nhớ đã quan sát bị cáo như thế nào trong khi xét xử. Chị ta nhỏ bé, nhưng xinh đẹp. Hiển nhiên chị ta đã có kế hoạch cho vụ giết người này, không phải vì một cơn nóng giận mà đánh chết ba người kia. Thường chỉ đàn ông mới làm như vậy. Phụ nữ phần nhiều thường dùng dao. Đàn ông thì lại dùng gậy. Còn chị ta thì đã lấy ở ga ra ô tô của ông bố một chiếc búa tạ và đập lên đầu ba người. Không ân hận.
– Tại sao?
– Điều này không bao giờ được làm sáng tỏ.
– Như vậy là chị ta bị điên?
– Theo giám định tâm thần thì không phải. Cuối cùng mình không có lựa chọn nào khác là phải tuyên hình phạt cao nhất. Chị ta cũng không một lần kháng cáo. Là thẩm phán người ta thường xem đó là một thắng lợi. Nhưng mình không cảm thấy thế.
Hai người đứng lại ngắm nhìn một chiếc thuyền buồm chạy qua eo biển về hướng Bắc.
– Chẳng phải đã đến lúc bạn kể ra lấy một lần sao? Karin nói.
– Về chuyện gì?
– Chuyện đã xảy ra ngày đó ở Bắc Kinh ấy. Thực ra mình biết bạn đã không kể với mình sự thật. Ít ra thì cũng không phải toàn bộ sự thật và chỉ sự thật, như người ta vẫn tuyên thệ trước tòa.
– Mình bị tấn công. Bị cướp mất chiếc túi xách.
– Điều này thì mình đã biết. Nhưng còn những tình tiết khác, Birgitta, vẫn còn một khoảng tối. Mặc dù trong những năm qua chúng ta không thường gặp nhau, nhưng mình vẫn hiểu rõ bạn mà. Ngày đó khi chúng ta còn là những kẻ nổi loạn, những kẻ thơ ngây tội nghiệp còn lẫn lộn giữa tình cảm và lý trí, chúng ta đã học được cách có thể vừa nói dối vừa nói thật cùng một lúc. Mình sẽ không mạo hiểm tìm cách nói dối bạn. Hoặc nửa tối nửa sáng, nửa nạc nửa mỡ, như ba mình thường nói! Mình biết, bạn sẽ nhìn thấu được mình.
Birgitta cảm thấy nhẹ người.
– Mình không biết điều gì đã xui khiến mình giấu bạn một nửa sự thật. Có thể vì thấy bạn quá bận bịu với cuộc hội thảo. Cũng có thể là do mình cũng không hiểu rõ chuyện đã xảy ra.
Hai người lại tiếp tục đi dạo dọc bãi biển và cởi áo khoác vì lúc này mặt trời bắt đầu sưởi ấm. Birgitta kể về tấm ảnh có được từ camera giám sát của khách sạn nhỏ ở Hudiksvall và việc bà tìm cách tìm ra người đàn ông đó. Bà kể lại một cách tỉ mỉ như thể mình đang đứng trên bục nhân chứng trước ánh mắt nghiêm khắc của một thẩm phán.
– Bạn chưa bao giờ kể với mình tất cả những chuyện này, Karin nói khi Birgitta kể xong.
Họ quay trở lại.
– Khi bạn về, mình sợ quá, bà Birgitta nói. Mình nghĩ, chắc mình sẽ mục ruỗng trong một buồng giam nào đó dưới lòng đất. Sau đó cảnh sát sẽ công bố mình đã bị mất tích.
– Mình xem đó như là dấu hiệu của việc thiếu lòng tin. Đúng ra mình cần phải tức giận.
Birgitta dừng lại đối diện với Karin.
– Thực ra chúng ta vẫn chưa biết rõ về nhau như chúng ta tin là thế. Hoặc mong là như thế. Khi chúng ta còn trẻ thì là chuyện khác. Giờ chúng ta là bạn của nhau. Nhưng thực sự gần gũi thì chưa. Có thể chúng ta sẽ mãi mãi như vậy.
Karin gật đầu. Họ tiếp tục dạo bước dọc bờ biển, phía trên đám rong biển nơi cát khô hơn.
– Người ta muốn mọi thứ bắt đầu lại, mọi thứ lại như trước một lần nữa, Karin nói. Nhưng khi già đi người ta phải gạt bỏ thói đa cảm. Tình bạn, muốn tồn tại, cần phải thường xuyên được giữ gìn và thử thách. Tình yêu thời tuổi trẻ có thể không bao giờ han gỉ nhưng tình bạn thời trẻ thì có thể đấy.
– Nhưng chỉ riêng việc lúc này chúng ta đang nói với nhau về điều đó đã là một bước tiến theo hướng đúng. Giống như người ta cạo bỏ lớp gỉ bằng một chiếc bàn chải sắt.
– Sau đó mọi chuyện kết thúc thế nào?
– Người ta đưa mình về khách sạn. Trong thời gian mình vắng mặt, cảnh sát hoặc bên an ninh đã cho người lục soát trong phòng khách sạn. Mình không biết họ muốn tìm cái gì.
– Và tất cả mọi chuyện chỉ vì một chiếc túi bị giật mất sao?
– Đúng hơn là vì tấm ảnh lấy từ camera ở khách sạn tại Hudiksvall. Có ai đó không muốn mình đi tìm người đàn ông trong ảnh. Nhưng mình cũng tin bà Hồng Quế đã nói thật: Trung Quốc không muốn khách nước ngoài trở về nước và kể những việc không hay đã xảy ra với họ. Bất luận thế nào cũng không được xảy ra vào lúc này, khi nước họ đang chuẩn bị cho Thế vận hội sắp đến.
– Cả một đất nước hơn một tỉ dân đứng sau hậu trường chờ đợi thời điểm được bước lên sân khấu. Một hình ảnh thật cảm động.
– Nhưng hàng trăm triệu người, những người nông dân nghèo đáng quý, có thể thậm chí không biết Thế vận hội là thế nào. Hoặc là họ nhận thấy rằng hội hè ở Bắc Kinh cũng chẳng thay đổi gì tình cảnh của họ.
– Mình còn nhớ lờ mờ về người phụ nữ tên là Hồng Quế đó. Bà ta rất đẹp, nhưng lại có vẻ gì đó khó gần, như thể bà ta lúc nào cũng cảnh giác.
– Có thể. Còn mình thì lại có một kỷ niệm khác với bà Hồng Quế. Bà ấy đã giúp đỡ mình.
– Có lẽ bà ấy là người phụ trách nhiều lĩnh vực?
– Mình cũng tự hỏi điều ấy. Nhưng không có câu trả lời. Mình không biết. Nhưng có thể bạn đúng.
Hai người trở về nhà và uống cà phê trong phòng ngủ của Karin. Karin kể về công việc mà bà mới bắt đầu. Bà đang dịch một tuyển thơ của một loạt nhà thơ Trung Quốc từ khi nước này độc lập cho tới nay.
– Mình không thể dành cả đời để nghiên cứu về các đế chế đã diệt vong. Thi ca sẽ thay đổi mình.
Birgitta rất muốn kể về ham mê bí mật của mình là viết lời ca khúc. Nhưng bà hoàn toàn không nói ra.
– Rất nhiều người dũng cảm, Karin nói. Mao cũng như những nhà lãnh đạo chính trị khác không ưa phê bình. Nhưng đối với các nhà thơ thì Mao lại có sự kiên nhẫn. Vì bản thân ông cũng làm thơ, mình hình dung như vậy. Nhưng mình nghĩ, Mao cho rằng các nghệ sĩ có thể có những cái nhìn mới mẻ đối với các sự kiện chính trị lớn lao. Khi các nhà lãnh đạo đảng muốn nghiêm trị những người đã viết ra những điều sai lệch hoặc phóng những nét vẽ phản loạn đều bị Mao kịch liệt phản đối. Cho tới cùng. Mao là người chịu trách nhiệm về sự kiện xảy ra trong thời kỳ cách mạng văn hóa đối với lớp văn nghệ sĩ, kể cả khi có thể ông không chủ ý. Cuộc cách mạng này dù được gọi là “Văn hóa” nhưng về căn bản vẫn mang tính chính trị. Khi Mao nhận ra rằng một bộ phận Hồng vệ binh đã đi quá xa, ông đã thắng phanh lại. Ông không thể công bố điều này, nhưng mình cho rằng ông thành thực ân hận về những gì bị tàn phá trong những năm ấy. Đương nhiên ông biết rõ hơn bất kỳ ai khác rằng khi muốn làm món trứng tráng, người ta phải đập vỡ trứng. Người ta chẳng thường nói thế sao?
– Hoặc rằng cách mạng không phải là một lời mời uống trà.
Cả hai đều phá lên cười.
– Giờ đây bạn nghĩ gì về Trung Quốc? Birgitta hỏi. Điều gì đang diễn ra ở đất nước đó?
– Mình tin chắc rằng ở Trung Quốc đang diễn ra một cuộc đọ sức khổng lồ. Ở trong đảng, trong nước. Đảng Cộng sản Trung Quốc muốn chứng tỏ cho toàn thể thế giới, cho những người như bạn như mình, thấy rằng trong một Nhà nước không dân chủ, nền kinh tế vẫn có thể phát triển. Ngay cả khi các nhà tư tưởng tự do ở phương Tây có phủ nhận thì sự lãnh đạo của đảng Cộng sản vẫn tồn tại song hành cùng sự phát triển kinh tế. Điều này đương nhiên khiến chúng ta bất an. Chính vì vậy mà ở nước chúng ta, người ta nói nhiều đến hình thức hành hình bằng cách bắn một viên đạn vào gáy được áp dụng nhiều ở Trung Quốc. Thiếu tự do và cởi mở, thứ nhân quyền mà phương Tây luôn mê đắm, đó là những điểm chúng ta sử dụng để công kích Trung Quốc. Đối với mình đó là thói đạo đức giả, vì trong cái phần thế giới của chúng ta vẫn còn vô vàn các nước, đứng đầu là Mỹ và Nga, ở đó nhân quyền bị chà đạp hằng ngày. Ngoài ra người Trung Quốc biết rằng chúng ta muốn làm ăn với họ, bằng mọi giá. Họ đã nhìn thấu chúng ta trong thế kỷ 19, khi chúng ta quyết định biến họ thành những con nghiện nha phiến, bằng cách này để bảo đảm quyền buôn bán, làm ăn theo những điều kiện của chúng ta. Người Trung Quốc đã rút ra được bài học từ đó, họ sẽ không lặp lại sai lầm của chúng ta. Mình nghĩ như vậy, và mình biết những kết luận của mình đương nhiên chưa hoàn toàn đúng. Những biến cố quá lớn, mình không thể nhìn bao quát được. Chúng ta không thể cột Trung Quốc vào các tiêu chuẩn của mình được. Nhưng dù có nghĩ gì đi chăng nữa, chúng ta cũng cần phải dõi theo những gì diễn ra ở Trung Quốc với sự tôn trọng nhất định. Ngày nay chỉ có kẻ đần độn mới bảo thủ cho rằng những gì xảy ra ở đó không ảnh hưởng đến tương lai của chúng ta. Nếu như mình còn có con nhỏ, mình sẽ cố gắng tìm một cô gái trông trẻ người Trung Quốc để con mình học được ngôn ngữ này.
– Con trai mình cũng nói như vậy.
– Vậy anh chàng là người nhìn xa, trông rộng đấy.
– Chuyến đi ấy đã khiến mình xáo động, bà Birgitta nói. Một đất nước vô cùng rộng lớn luôn gây cho mình cảm giác có thể bị biến mất vào bất cứ lúc nào. Và sẽ không có ai tự hỏi chuyện gì đã xảy ra với mình, một cá thể lạc giữa đám đông. Mình mong giá như có thể nói chuyện với bà Quế lâu hơn nữa.
Sau bữa ăn tối họ lại lạc vào những kỷ niệm của quá khứ. Lần này, Birgitta quyết tâm không để mất đi mối liên lạc với Karin thêm một lần nữa. Nếu không thì bà chẳng còn ai nữa để mà chia sẻ tuổi trẻ của mình, chẳng còn có ai hiểu nổi bà.
Hai người ngồi với nhau tới khuya, và trước khi lên giường đi ngủ đã hứa hẹn với nhau rằng sẽ thường xuyên gặp nhau hơn.
– Bạn chỉ cần vi phạm luật giao thông ở Helsingborg, bà Birgitta nói. Không thừa nhận lỗi với cảnh sát giao thông. Như thế, cuối cùng rồi thì bạn cũng sẽ có mặt ở tòa án. Sau đó, khi mình đã kết án bạn, chúng ta sẽ cùng nhau đi ăn nhà hàng.
– Mình hoàn toàn không hình dung được cảnh bạn làm chủ tọa một phiên tòa.
– Mình cũng vậy, mặc dù hằng ngày mình phải ngồi ở đó.
Ngày hôm sau hai người cùng ra ga.
– Bây giờ mình lại quay về với những nhà thơ Trung Quốc, Karin nói. Còn bạn sẽ làm gì?
– Chiều nay mình phải soạn cáo trạng cho hai vụ. Một băng nhóm người Việt buôn lậu thuốc lá và trấn lột dã man những người già, trong số các bị cáo, có vài kẻ rất đáng ghê tởm. Vụ thứ hai là một phụ nữ ngược đãi mẹ. Theo những gì mình biết, cả hai mẹ con họ đều hoàn toàn không biết phải trái. Đó là công việc buổi chiều hôm nay của mình. Mình ghen tị với bạn về những nhà thơ đấy. Nhưng tốt hơn là mình không nên nghĩ đến điều đó.
Karin nắm lấy cánh tay Birgitta một lần nữa trước khi họ rời nhau.
– Này, mình thậm chí vẫn chưa hỏi bạn tin tức về chuyện ở Hudiksvall. Giờ mọi thứ ra sao?
– Hình như cảnh sát vẫn tiếp tục tin rằng người đàn ông tự sát trong nhà giam là thủ phạm.
– Một mình? Với nhiều người bị giết?
– Một hung thủ máu lạnh hoàn toàn có thể làm được chuyện đó. Nhưng người ta vẫn chưa tìm ra được động cơ.
– Sự điên khùng chăng?
– Trước kia mình cũng cho là như vậy, nhưng bây giờ thì mình lại không thấy tin.
– Bạn vẫn còn liên lạc với cảnh sát à?
– Nói chung là không. Mình chỉ đọc những gì đăng trên báo.
Birgitta nhìn theo Karin đi xa dần trong nhà ga rộng. Bà lên tàu về Kastrup, đến bãi đậu xe lấy xe và trở về nhà.
Già đi có nghĩa là rút lui, bà thầm nghĩ. Đơn giản là người ta không còn thích lao lên phía trước nữa. Người ta chầm chậm quay trở lại, một cách gần như vô thức. Như trong cuộc nói chuyện của mình với Karin. Bọn mình tìm hiểu xem mình đã và đang là ai.
Bà về đến Helsingborg lúc gần trưa và đi thẳng đến văn phòng. Ở đó bà đọc qua các thông báo nội bộ của Sở Tư pháp, trước khi ngồi vào bên các bản cáo trạng. Bà hoàn thiện việc chuẩn bị cho phiên tòa xử người phụ nữ ngược đãi mẹ. Sau đó bà nhét vào túi xách hồ sơ vụ băng nhóm người Việt để đem về nhà.
Trời đã ấm hơn. Cây cối đã bắt đầu nảy lộc xanh.
Một niềm vui bất ngờ trỗi dậy trong bà. Bà đứng lại, nhắm nghiền hai mắt, hít mạnh làn không khí vào phổi, vẫn còn chưa quá muộn, bà nghĩ. Mình đã được nhìn thấy Vạn Lý Trường Thành. Mình sẽ vượt qua những bức tường khác, và nhất là đến thăm những hòn đảo khác trước khi cuộc đời kết thúc. Điều gì đó trong mình mách bảo rằng Staffan và mình chắc chắn sẽ tìm thấy con đường thoát khỏi tình trạng đang sa lầy hiện nay.
Hồ sơ vụ băng nhóm người Việt Nam khá phức tạp và khó bao quát. Bà làm việc cho tới mười giờ đêm, hai lần gọi điện thoại đến cho ông Hans Mattsson để trao đổi. Bà biết không có gì phiền hà khi gọi đến nhà ông.
Bà làm xong mọi việc vào lúc mười một giờ và chuẩn bị lên giường đi ngủ. Giữa lúc đó có tiếng chuông gọi cửa. Bà nheo mày, nhưng vẫn ra mở cửa. Bên ngoài không thấy ai. Bà bước xuống bậc thềm, nhìn dọc theo đường phố. Một chiếc ô tô phóng qua. Đường phố vắng tanh. Cổng vườn vẫn khóa. Chắc lại là bọn trẻ, bà nghĩ. Chúng bấm chuông rồi bỏ chạy.
Bà trở vào nhà và ngủ thiếp đi trước nửa đêm. Bà thức dậy lúc gần hai giờ sáng nhưng không biết tại sao. Bà không mơ ngủ. Bà lắng nghe bên ngoài, nhưng không thấy tiếng động nào cả. Bà định nằm xoay người ngủ tiếp thì lại ngồi dậy, bật đèn bàn và tiếp tục lắng nghe. Rồi bà đứng lên, mở cánh cửa ra hành lang, vẫn không nghe thấy tiếng động nào. Bà khoác áo choàng ngủ, đi xuống cầu thang. Các cửa lớn và cửa sổ vẫn đóng. Bà đến đứng bên cửa sổ kéo rèm nhìn ra đường. Bà như thoáng thấy có bóng người biến mất trên vỉa hè, nhưng rồi bà gạt bỏ ý nghĩ này ngay. Bà chưa từng sợ bóng tối. Có lẽ bà thức dậy vì đói bụng. Sau khi ăn một lát bánh mì và uống một cốc nước, bà trở về giường nằm rồi một lúc sau thì thiếp đi.
Sáng hôm sau, khi vào phòng làm việc lấy hồ sơ, bà có cảm giác rằng có ai đó đã vào phòng. Giống như với chiếc va li của bà ở khách sạn tại Bắc Kinh. Tối hôm qua, trước khi rời khỏi phòng, bà đã xếp tập hồ sơ vào cặp tài liệu, vậy mà lúc này một vài tờ giấy lại thò ra ngoài quai cặp.
Dù đang vội, bà vẫn xem qua các phòng ở tầng trệt: không mất thứ gì. Có lẽ mình tưởng tượng ra vậy, bà nghĩ. Ở Bắc Kinh mình bị ám ảnh có người theo dõi. Mình sẽ không tiếp tục như vậy ở đây nữa.
Birgitta Roslin rời khỏi nhà. Bà xuôi về phía trung tâm thành phố và khu tòa án. Nhiệt độ tiếp tục tăng thêm so với hôm qua. Dọc đường đi, bà nghĩ đến vụ xử thứ nhất đang chờ. Cần phải tăng cường các biện pháp an ninh trong tòa, bởi có nguy cơ xảy ra đánh lộn giữa những người Việt Nam chờ trong phòng xét xử. Sau khi thống nhất với ông chánh án và kiểm sát viên, bà ấn định xử vụ này trong hai ngày. Bà e rằng như thế không đủ, nhưng bà đành phải bằng lòng như vậy bởi tòa án đang chồng chất các vụ cần xử.
Khi đến tòa, bà vào ngay phòng làm việc, ngắt điện thoại, ngồi ngả lưng ra sau ghế, hai mắt nhắm nghiền, tổng lược lại những điểm quan trọng nhất trong vụ án đối với hai anh em họ Trần, họ đang ở giai đoạn xét xử cuối cùng. Trong quá trình điều tra, cảnh sát đã bắt thêm hai người Việt Nam nữa, đó là Đặng và Phan. Cả bốn người này là tòng phạm và bị truy tố cùng tội danh.
Birgitta Roslin rất mừng khi nhìn thấy kiểm sát viên Palm trong phòng xử. Đó là một người trung tuổi, nghiêm túc và biết cách tránh những quanh co không cần thiết. Theo tài liệu điều tra đang nằm trước mặt, bà có cảm giác Palm đã dẫn dắt một cuộc điều tra tỉ mỉ, điều mà không phải lúc nào cũng làm được.
Đúng mười giờ bà bước vào phòng xử, ngồi vào ghế thẩm phán. Các dự thẩm viên và thư ký tòa đã có mặt. Phòng xử chật kín. Tất cả những ai có mặt đều phải chịu màn kiểm tra an ninh như ở sân bay. Ở đây cũng đã có mặt cảnh sát và các trật tự viên. Bà gõ búa lên mặt bàn, xác nhận nhân thân, kiểm tra lại xem những cá nhân được triệu tập đã có mặt đầy đủ chưa rồi cho phép kiểm sát viên trình bày lời buộc tội. Công tố viên Palm nói chậm rãi và rõ ràng. Thỉnh thoảng bà tự cho phép mình nhìn xuống khán phòng, nơi có nhiều người ngồi nghe. Một nhóm khá đông người Việt Nam có mặt ở đây, phần lớn là những người còn rất trẻ. Như thường lệ, trong số thính khán giả còn lại bà nhận ra một vài nhà báo và một họa sĩ tòa án có tài vẽ lại cảnh phiên tòa cho các tờ báo khác nhau. Trong ngăn kéo bàn làm việc, bà Birgitta Roslin có một bức tranh vẽ mình, bà đã cắt ra từ một tờ báo.
Đó là một ngày vất vả. Mặc dù mọi việc đã được điều tra rõ ràng nhưng bốn thanh niên này bắt đầu đổ tội cho nhau. Hai trong số họ nói tiếng Thụy Điển, còn anh em Trần lại cần đến một nữ phiên dịch. Birgitta Roslin đã nhiều lần buộc phải nhắc nhở rằng cô ta diễn tả không rõ ràng. Bà thầm hỏi phải chăng cô phiên dịch thực sự không hiểu những gì các can phạm nói. Một lần bà đã phải nhắc nhở các thính giả giữ trật tự, nếu không sẽ buộc họ ra khỏi khán phòng.
Vào giờ ăn trưa, ông Hans Mattsson đến chỗ bà hỏi công việc tiến triển ra sao.
– Họ nói dối, Roslin nói. Phần chất vấn và bào chữa đều giữ được tính nghiêm túc. Tôi chỉ tự hỏi cô phiên dịch có trình độ thế nào.
– Cô ấy được công nhận dịch tốt, ông Hans Mattsson ngạc nhiên nói. Thật sự tôi rất lưu tâm để chúng ta có được những phiên dịch khá nhất trong nước.
– Có lẽ hôm nay là ngày xấu của cô ta. Nhưng dù sao mọi việc vẫn tốt. Tôi e rằng phải đến chiều ngày mai mới kết thúc được phiên tòa.
Buổi chiều trong khi xét xử, bà Roslin bỗng để ý thấy trong số những người dự có một phụ nữ Việt Nam trung tuổi ngồi ở góc khán phòng, bị những người ngồi phía trước che khuất một nửa. Mỗi khi nhìn về hướng đó, bà đều có cảm giác người phụ nữ này đang nhìn mình, trong khi những người Việt Nam khác thì nhìn chằm chằm các bị cáo.
Bà nhớ lại phiên tòa mình đã được tham dự cách đây một vài tháng ở Trung Quốc. Có thể mình có một khách tới thăm từ Việt Nam, bà mỉa mai nghĩ. Nhưng nếu đúng như vậy thì người ta phải báo cho bà biết. Thêm nữa, người phụ nữ này lại không có phiên dịch.
Khi buổi xét xử trong ngày kết thúc, bà vẫn còn chưa chắc chắn liệu ngày mai có đủ thời gian tranh tụng hay không. Bà ngồi trong phòng làm việc ước tính còn lại bao nhiêu vấn đề cần tranh luận nữa. Có lẽ mọi việc sẽ trôi chảy theo đúng dự kiến, nếu như không có việc gì bất ngờ xảy ra.
Đêm đó bà ngủ say, không bị đánh thức bởi những tiếng động lạ.
Ngày hôm sau, khi phiên tòa bắt đầu, người phụ nữ bí ẩn đã lại có mặt ở chỗ ngồi cũ. Ở chị ta có cái gì đó làm cho Roslin thấy phân vân. Trong giờ nghỉ giải lao bà cho gọi một thừa tác viên đến gặp mình. Bà đề nghị anh ta để ý xem người phụ nữ ấy có đi cùng ai ở bên ngoài hay không. Trước khi phiên tòa được tiếp tục, anh ta quay trở lại, báo cho bà biết đúng là người phụ nữ đó chỉ đứng riêng một mình, không nói chuyện với ai.
– Anh hãy để ý đến chị ta, Roslin đề nghị.
– Tôi có thể ngăn không cho chị ta vào khán phòng, nếu bà muốn.
– Tôi không có lý do gì mà làm thế.
– Nhưng tôi thấy bà không yên tâm.
– Tôi chỉ đề nghị anh để ý đến chị ta. Ngoài ra không có gì nữa.
Mặc dù không chắc chắn là giữ được đúng hạn nhưng rồi Birgitta Roslin cũng dẫn dắt được màn tranh tụng kết thúc đúng giờ. Bà thông báo vào ngày 20 tháng Sáu bản án sẽ được công bố và tuyên bố kết thúc phiên tòa. Sau khi đã cảm ơn các dự thẩm viên, bà nhận thấy người phụ nữ Việt Nam quay lại nhìn bà lần cuối trước khi rời khỏi phòng.
Ông Hans Mattsson đến phòng làm việc gặp bà. Qua hệ thống truyền thanh nội bộ, ông đã được nghe lời phát biểu kết thúc của công tố viên và luật sư bào chữa.
– Công tố viên Palm đã làm đúng thủ tục.
– Vấn đề chỉ còn là hình phạt nằm ở mức nào. Rõ ràng anh em họ Trần là những tên cầm đầu. Tất nhiên hai người kia cũng phạm tội. Nhưng xem ra họ sợ anh em Trần. Tôi có cảm giác rằng hai người đó nhận về mình nhiều tội hơn những gì mà thực ra họ đã làm.
– Hãy gọi cho tôi khi chị có chuyện gì muốn trao đổi.
Birgitta Roslin thu dọn tài liệu của mình, rồi chuẩn bị về nhà. Staffan gửi tin nhắn cho bà, báo tin mọi việc đều tốt đẹp. Lúc bà định rời văn phòng thì điện thoại đổ chuông. Bà do dự một lúc, nhưng rồi cũng nhấc máy. Bà nhận ra giọng thừa tác viên tòa án.
– Bà có khách thăm.
– Ai vậy?
– Người phụ nữ mà bà bảo tôi để mắt đến.
– Chị ta còn ở đây à? Chị ta muốn gì?
– Điều này thì tôi không biết.
– Nếu chị ta có họ hàng với các bị cáo, thì tôi không được phép nói chuyện.
– Tôi nghĩ bà đã nhầm.
Birgitta Roslin bắt đầu mất kiên nhẫn.
– Thế là thế nào? Đúng là tôi không được phép nói chuyện với chị ta mà.
– Tôi chỉ muốn nói rằng chị ta không phải từ Việt Nam đến. Chị ta nói thành thạo tiếng Anh và là người Trung Quốc. Chị ta nói rất muốn được gặp bà vì có chuyện quan trọng.
– Chị ta đang ở đâu?
– Đang chờ ở bên ngoài. Từ đây tôi vẫn nhìn thấy chị ta.
– Tên chị ta là gì?
– Tôi không hỏi.
– Thôi được, tôi sẽ gặp. Bảo chị ta chờ tôi.
Bà bước lại gần cửa sổ. Từ chỗ này bà có thể nhìn thấy người phụ nữ đứng trên vỉa hè.
Mấy phút sau bà rời khỏi văn phòng.