Ngày mồng 9 tháng Ba năm 1864, Quốc Sĩ và Sáng bắt đầu phải xẻ dãy núi cắt ngang tuyến đường sắt chạy qua lục địa Bắc Mỹ.
Như người ta nhớ được thì đó là mùa đông khắc nghiệt nhất từng có ở Nevada. Ngày lạnh tới mức người ta cho rằng mình đang thở hít những tinh thể băng thay vì không khí.
Cho đến khi đó, Sáng và Quốc Sĩ chủ yếu làm việc ở miền Tây, nơi công việc đơn giản hơn, chỉ phải san đất và đặt đường ray. Hai anh em họ được đưa thẳng từ tàu thủy đến đó vào cuối tháng Mười. Cùng với rất nhiều người khác bị bắt cóc từ Quảng Châu, bị xích chân, đưa đến đây, họ được những người Trung Hoa đã cắt bỏ bím tóc, ăn vận như người da trắng, đồng hồ quả quýt giắt túi áo, tiếp nhận. Một người đàn ông cùng họ Vương với hai anh em quản lý họ. Sáng vô cùng kinh ngạc khi thấy Quốc Sĩ, thường chẳng nói gì bao giờ, bỗng mở mồm phản đối:
– Chúng tôi bị tấn công, bị trói và đưa lên tàu. Chúng tôi không muốn đến đây.
Sáng nghĩ người đàn ông đang đứng trước mặt họ sẽ không chịu được khi người khác ăn nói với mình bằng những lời bướng bỉnh như vậy. Bây giờ ông ta sẽ rút khẩu súng đeo bên hông ra rồi bắn chết hai anh em họ.
Nhưng Sáng đã lầm. Ông Vương phá lên cười, như thể Quốc Sĩ vừa mới kể một câu chuyện tiếu lâm.
– Các anh đâu khác gì những con chó, ông ta nói. Di đã gửi cho tôi mấy con chó biết nói. Các anh là tài sản của tôi, cho tới khi nào các anh trả xong số tiền phải chi cho chuyến đi biển, tiền ăn và tiền đưa các anh từ San Francisco tới đây, bằng lao động của mình. Sau ba năm, các anh có thể làm những gì mình muốn. Nhưng cho tới ngày đó, các anh thuộc về tôi. Ở ngoài này, giữa sa mạc, các anh không thể bỏ trốn được, ở đây có chó sói, có gấu và người da đỏ sẽ cắt cổ các anh, đập vỡ sọ các anh rồi húp não các anh như húp trứng gà. Nhưng nếu các anh vẫn cứ tìm cách bỏ trốn, tôi sẽ cho mấy con chó nòi của tôi lần theo dấu vết các anh. Lúc đó, chiếc roi da sẽ tha hồ mà nhảy múa và các anh sẽ phải làm việc cho tôi thêm một năm nữa. Bây giờ thì các anh biết cái gì đang chờ mình rồi đấy.
Sáng quan sát những người đàn ông đứng sau lão Vương. Chúng nắm xích những con chó được cột chung với nhau, súng lăm lăm trong tay. Sáng ngạc nhiên thấy những gã đàn ông da trắng để râu xồm xoàm này lại sẵn sàng nghe lệnh của một người Trung Hoa. Đây quả thật là một đất nước kỳ lạ.
Họ được đưa đến ở trong một chiếc lều bạt nằm sâu trong một thung lũng có con suối chảy qua. Trên bờ suối bên này là đám thợ Trung Hoa ở, còn bên kia là những người Ái Nhĩ Lan, người Đức và những người châu Âu khác. Hai bên bờ rất căng thẳng với nhau. Lòng suối là ranh giới phân chia mà người Trung Hoa không được bước qua nếu không cần thiết. Những người Ái Nhĩ Lan thường hay say rượu, la hét chửi bới, ném đá sang phía những người Trung Hoa. Sáng và Quốc Sĩ không hiểu những lời to tiếng của họ. Nhưng những hòn đá bay qua không khí lại khiến người ta rất đau. Không có lý do nào để tin rằng những câu kia không phải là câu chửi bới.
Anh em Sáng sống chung với mười hai người Trung Hoa khác, nhưng không có ai trong họ cùng trên thuyền với hai người. Sáng đoán rằng lão Vương chọn cách để những người mới đến ở chung với người đã làm việc lâu năm trên công trường để được họ chỉ bảo. Căn lều chật chội. Tối ngủ, họ phải nằm ép vào nhau. Điều này giúp cho họ được ấm, nhưng cũng gây khó chịu vì không cựa quậy được.
Đứng đầu lều là một người đàn ông tên Xử, người gầy gò, răng yếu, nhưng được mọi người kính nể. Ông Xử chỉ chỗ ngủ cho Quốc Sĩ và Sáng. Ông hỏi anh em họ đến từ vùng nào, theo con thuyền nào, nhưng lại không kể gì về bản thân. Nằm bên cạnh Sáng là một người đàn ông có tên là Hào, Hào kể cho Sáng nghe rằng ông Xử đã làm việc ở công trường đường sắt từ rất nhiều năm nay. Ông sang Mỹ từ đầu những năm 1850, ban đầu ông làm trong các mỏ vàng. Theo tin đồn, ông không may mắn lắm. Vì thế ông đã mua một căn lều nhỏ bằng gỗ cho những người đãi vàng gặp may thuê làm chỗ ở. Không ai hiểu vì sao ông Xử lại có thể ngu ngốc bỏ ra hai mươi lăm đô la để mua một căn nhà lụp xụp không một ai có thể ở được. Nhưng ông Xử đã cẩn thận quét sạch bụi đất trên nền nhà. Sau đó ông cạy những tấm ván lát sàn lên, cạo lớp đất dưới sàn nhà. Cuối cùng ông đã thu được rất nhiều mạt vàng và trở về San Francisco với số tài sản này. Ông quyết định trở về Trung Hoa và đã mua vé tàu thủy. Nhưng trong thời gian chờ đợi, ông đã ghé vào rất nhiều sòng bạc, nơi những người Trung Hoa khác dành rất nhiều thời gian cho những cuộc đỏ đen. Ông đã chơi và đã thua. Cuối cùng ông nướng luôn cả chiếc vé tàu thủy. Sau đó, ông đã tìm đến với Central Pacific và là một trong những người Trung Hoa đầu tiên được tuyển dụng.
Ông Xử nói tiếng Anh. Qua ông, anh em Sáng được biết những tiếng gào thét ở bên kia suối là gì. Ông Xử khinh bỉ nói về những người đàn ông sống ở bờ bên kia.
– Chúng gọi chúng ta là Chệt, ông nói. Đó là một cái tên nhục nhã dành cho chúng ta. Khi bọn đàn ông Ái Nhĩ Lan say rượu, chúng còn gọi chúng ta là lũ lợn.
– Tại sao họ lại ghét chúng ta? Sáng hỏi.
– Vì chúng ta làm việc tốt hơn, ông Xử nói. Chúng ta làm việc nặng nhọc hơn, chúng ta không uống rượu, không bỏ đi. Ngoài ra chúng ta còn có da vàng, mắt xếch. Chúng không ưa những người trông không giống chúng.
Sáng sáng, Quốc Sĩ và Sáng, mỗi người cầm trên tay một chiếc đèn lồng, leo từ thung lũng lên con đường mòn dốc đứng đi lên cao. Khi đường đóng váng băng, thường xuyên có người bị trượt ngã, rơi xuống thung lũng. Có hai người bị ngã như thế, chân đau không đi làm được nên ở lại giúp chuẩn bị cơm nước cho mọi người khi họ trở về lán sau một ngày làm việc vất vả. Người Trung Hoa và những người ở bên kia suối làm việc cách xa nhau, ra khỏi thung lũng theo hai con đường khác nhau, làm việc ở những công trường khác nhau. Đám cai thợ phải thường xuyên giám sát để hai nhóm người này không đến gần nhau. Đôi khi cũng xảy ra những cuộc ẩu đả ở giữa suối, giữa người Trung Hoa được vũ trang bằng những chiếc gậy ngắn với người Ái Nhĩ Lan, dùng dao găm. Rồi đội canh gác râu xồm cưỡi trên lưng ngựa xuất hiện, quất roi da tách hai đám người đang hăng máu ra. Đôi khi có người bị thương nặng quá đã chết. Một người Trung Hoa đánh vỡ sọ một người Ái Nhĩ Lan đã bị bắn chết, một người Ái Nhĩ Lan đâm chết một người Trung Hoa bị xích lại rồi giải đi. Ông Xử nhắc nhở mọi người trong lán tránh xa những cuộc ẩu đả và ném đá. Ông thường xuyên nhắc họ nhớ rằng tạm thời họ chỉ là khách của đất nước này.
– Chúng ta cần phải chờ đợi, ông nói. Rồi một ngày nào đó họ sẽ phải hiểu ra rằng sẽ không có đường sắt, khi những người Trung Hoa chúng ta không xây dựng xong nó. Một ngày nào đó mọi chuyện sẽ thay đổi.
Đêm đã khuya, khi mọi người đã ngủ trong lán, Quốc Sĩ thầm thì hỏi Sáng rằng ông Xử nói như vậy có nghĩa là gì. Nhưng Sáng cũng không có được câu trả lời rành mạch.
Hai anh em họ được đưa từ miền duyên hải đến nơi phong cảnh tiêu điều, cằn cỗi này, nơi mà trời lạnh hơn. Khi họ bị ông Xử la to đánh thức dậy, ấy là lúc mọi người phải rất khẩn trương, vì nếu không người cai thợ đầy quyền lực sẽ tức giận và sẽ bắt họ phải làm việc lâu hơn là mười hai tiếng thông thường. Cái lạnh như cắt vào da thịt. Hầu như ngày nào tuyết cũng rơi.
Thỉnh thoảng họ cũng nhìn thấy lão Vương đáng sợ, kẻ luôn gọi họ là tài sản của mình. Lão xuất hiện đầy bất ngờ rồi cũng biến đi như thế.
Công việc của anh em Sáng là làm nền đường cho chắc để đặt tà vẹt và rải đường ray. Các đống lửa được đốt lên ở khắp mọi chỗ, phần để có ánh sáng làm việc, phần để làm nóng nền đất đã đóng băng. Suốt trong thời gian làm việc, họ bị những cai thợ cưỡi ngựa giám sát. Đó là những người da trắng mang theo súng, mặc áo khoác bằng da sói, quàng khăn trùm lên mũ để giữ ấm. Ông Xử đã dạy họ luôn phải trả lời: “Yes Boss”, mỗi khi những người đó nói với họ, ngay cả khi họ không hiểu các sếp nói gì.
Họ thấy có ánh lửa cách chỗ mình vài cây số. Ở đó, những người Ái Nhĩ Lan đang đặt tà vẹt và thanh ray. Thỉnh thoảng, họ nghe thấy tiếng còi của đầu tàu hỏa phụt hơi nước. Sáng và Quốc Sĩ xem đầu kéo màu đen khổng lồ này như một con rồng. Mặc dù con quái vật phun lửa mà mẹ họ kể có màu sắc sặc sỡ, nhưng chắc là mẹ ám chỉ đến con quái vật đen bóng này.
Công việc nặng nhọc thật không thể tưởng tượng nổi. Khi những ngày dài kết thúc, hầu như họ chỉ còn đủ sức lê bước xuống thung lũng, để ăn rồi sau đó nằm vật xuống trong lán. Sáng gắng hết sức giục Quốc Sĩ tắm rửa bằng nước lạnh. Sáng thấy kinh tởm ngay cả thân thể mình nếu như không được tắm rửa sạch sẽ. Điều làm cho Sáng ngạc nhiên là hầu như lúc nào cũng chỉ có mình anh ở dưới suối bên làn nước lạnh, cởi trần và rét run. Những người duy nhất ngoài anh ra, chịu khó tắm rửa, là những người mới đến. Ý muốn giữ mình cho sạch sẽ dần giảm bớt do công việc nặng nhọc. Cuối cùng thì cái ngày mà anh không tắm rửa đã lăn ra ngủ cũng tới. Anh nằm trong lán, ngửi thấy mùi hôi ở những thân thể xung quanh. Anh thấy chính mình đang dần biến thành một sinh vật không còn nhân cách, không ước mơ, không khát vọng. Trong giấc ngủ chập chờn, anh nhìn thấy cha mẹ và nghĩ rằng mình chỉ đánh đổi một địa ngục quê nhà lấy một địa ngục xứ người mà thôi. Ở đây họ phải lao động như những kẻ nô lệ, một cuộc sống còn tồi tệ hơn cuộc đời cha mẹ họ trước đây. Đấy có phải là điều mà họ hy vọng khi lên đường đến Quảng Châu? Chẳng lẽ không có lối thoát cho những kẻ nghèo ư?
Đêm ấy, ngay trước lúc ngủ thiếp đi, Sáng nhận ra rằng cơ may sống sót duy nhất của hai anh em là bỏ trốn. Ngày nào anh cũng nhìn thấy những người thợ thiếu ăn quỵ xuống và được khiêng đi như thế nào.
Ngày hôm sau, anh nói với Hào về kế hoạch của mình. Hào chú ý lắng nghe vẻ nghĩ ngợi.
– Mỹ là một đất nước rộng lớn, Hào nói. Nhưng không đủ rộng để một người Trung Hoa như cậu hoặc anh trai của cậu có thể trốn ở đó đâu. Nếu nghĩ nghiêm túc về việc này, cậu buộc phải trốn về Trung Hoa. Nếu không đến một lúc nào đó, họ cũng sẽ tóm được anh em cậu. Lúc đó cái gì sẽ xảy ra với hai người, tôi chẳng cần phải nói ra với cậu.
Sáng suy nghĩ rất lâu về những điều Hào nói. Thời điểm thích hợp để chạy trốn vẫn còn chưa đến và cũng chưa phải là lúc nói cho Quốc Sĩ biết ý định này.
Gần cuối tháng Hai, một trận bão tuyết khủng khiếp tràn qua sa mạc Nevada. Trong vòng mười hai tiếng đồng hồ, tuyết đã rơi dày trên một mét. Khi bão tan, nhiệt độ tụt xuống thấp. Buổi sáng ngày mồng 1 tháng Ba năm 1864, họ phải tập trung vào công việc xúc tuyết. Những người Ái Nhĩ Lan ở bên kia con suối đóng băng ít bị ảnh hưởng hơn vì lán của họ nằm ở phía được thung lũng che chắn. Lúc này, họ đứng nhìn những người Trung Hoa đang phải dọn tuyết quanh lán và đường lên công trường, vẻ thích thú và cười ầm ĩ.
Chúng ta chẳng nhận không được cái gì. Ngay cả tuyết rơi cũng không công bằng, Sáng nghĩ.
Anh nhìn Quốc Sĩ, anh ấy đã quá mệt, chẳng còn đủ sức nhấc nổi cái xẻng. Nhưng Sáng đã đi đến một quyết định. Họ cần phải giữ gìn cuộc sống của mình tới năm mới tiếp sau của người da trắng.
Trong tháng Ba, những người da đen đầu tiên đã đến “làng đường sắt” trong thung lũng. Họ dựng lều bên bờ có người Trung Hoa. Hai anh em Sáng chưa bao giờ được nhìn thấy một người da đen. Họ đến, ăn mặc rách rưới và rét run cầm cập. Nhiều người trong số họ đã chết ngay khi mới đến. Họ quá yếu, ngã xuống đất trong đêm tối và mãi sau này khi tuyết tan người ta mới phát hiện ra họ. Những người da đen này còn bị đối xử tồi tệ hơn người Trung Hoa và người ta gọi họ là “thằng nhọ” với cái giọng còn thù nghịch hơn “thằng chệt”. Thậm chí ngay cả ông Xử, người thường giáo huấn mọi người nên đúng mực trong cách ăn nói về những đám thợ khác ở công trường, cũng thể hiện rõ thái độ khinh miệt đối với những người da đen.
– Người da trắng gọi họ là những thiên thần sa ngã, ông nói. Bọn nhọ là những con thú không linh hồn, không ai thương xót chúng khi chúng chết. Thay vì có bộ não, chúng lại chỉ có những cục thịt đang thối rữa.
Quốc Sĩ đã bắt đầu nhổ nước bọt sau những người da đen một khi các nhóm thợ có lần nào đó chạm trán nhau. Bản thân Sáng khó chịu khi phải nhìn thấy còn có những con người bị đối xử còn tồi tệ hơn mình. Sáng tuyệt đối cấm anh mình không được có thái độ như vậy đối với người da đen.
Cái lạnh khắc nghiệt muộn màng bất thường giống như một tấm chăn rắn như thép phủ lên thung lũng và công trường. Một buổi tối, khi họ cầm bát ăn ngồi sát đống lửa, ông Xử thông báo cho họ biết ngày mai phải chuyển đến khu lán mới và làm việc ở một chỗ khác gần dãy núi, họ phải đào một đường hầm xuyên qua một quả núi. Công việc này phải sử dụng đến mìn. Sáng hôm sau, tất cả mọi người, khi rời khỏi lều trại, đều phải đem theo chăn bông của mình, kể cả bát đũa.
Họ lên đường vào sáng sớm. Sáng không nhớ đã bao giờ mình trải qua một cái lạnh như thế này chưa. Anh đi sau Quốc Sĩ, để đề phòng anh trai bị ngã và nằm lại trên đường di chuyển. Họ đi theo nền đường tàu và đến được chỗ các thanh ray dừng lại và sau đó một vài trăm mét, nền đường cũng dừng lại. Nhưng ông Xử vẫn giục mọi người tiếp tục đi. Ánh sáng chập chờn của những chiếc đèn xách tay chiến đấu với bóng tối. Sáng biết, lúc này họ đã đến gần với vùng núi có tên “Sierra Nevada”, Dãy núi trắng Nevada. Ở đó họ phải xẻ đường, đào hầm để việc xây dựng đường tàu được tiếp tục.
Ông Xử dừng lại ngay trước mỏm núi thấp nhất. Ở đó những căn lều đã được dựng lên, và những đống lửa đang cháy. Những người đàn ông đã kiệt sức vì quãng đường dài đổ ập ngay xuống đất, sát cạnh đống lửa. Sáng quỳ gối, duỗi hai bàn tay lạnh buốt được quấn trong giẻ. Giữa lúc đó, anh nghe có tiếng nói phía sau mình. Lúc quay đầu lại, anh nhìn thấy một người da trắng đã đứng ở đó, tóc dài đến vai, mặt bịt một chiếc khăn, trông như một tên cướp. Trên tay hắn là một khẩu súng. Hắn mặc một chiếc áo lông thú, từ trên mũ trùm đầu của hắn buông xuống một chiếc đuôi cáo. Hai mắt của hắn làm cho Sáng nhớ đến đôi mắt của Di.
Bất thình lình người đàn ông da trắng giương súng lên, nhả hai viên đạn vào bóng tối. Những người đàn ông đang nằm sưởi bên đống lửa co rúm lại.
– Đứng dậy! Ông Xử hô lớn. Bỏ mũ xuống!
Sáng ngạc nhiên nhìn ông. Họ thực sự phải bỏ mũ xuống, những chiếc mũ được nhồi cỏ khô và giẻ rách sao?
– Bỏ xuống! Ông Xử lại thét to, hình như ông rất sợ người đàn ông da trắng cầm súng này. Không được đội mũ!
Sáng bỏ mũ, gật đầu ra hiệu cho Quốc Sĩ cũng làm như mình. Người đàn ông cầm súng gỡ chiếc khăn che mặt xuống. Hắn có bộ ria mép rậm. Mặc dù hắn đứng cách xa mấy mét, nhưng Sáng vẫn nhận ra hắn có mùi rượu. Lập tức Sáng trở nên thận trọng. Bọn đàn ông da trắng bốc mùi rượu luôn khó lường hơn những kẻ không uống.
Người đàn ông bắt đầu nói bằng cái giọng the thé. Nó vang lên như thể đang đứng trước mặt họ là một người đàn bà tức giận. Ông Xử cố gắng dịch những gì người đàn ông nói ra.
– Các anh phải bỏ mũ ra để nghe cho rõ hơn, giọng nói của ông cũng the thé gần giống giọng của người đàn ông cầm súng.
– Tai của các anh đầy rác rưởi, thường chẳng nghe rõ được cái gì, ông Xử dịch tiếp. Tôi tên là JA. Nhưng các anh phải gọi tôi là Boss. Khi tôi nói chuyện với các anh, các anh phải bỏ mũ ra. Các anh trả lời tôi, nhưng không được tự đặt câu hỏi. Các anh hiểu chứ?
Sáng cũng lầm rầm cùng những người khác. Rõ ràng người đàn ông này không ưng người Trung Hoa.
Người đàn ông có tên là JA. tiếp tục gầm lên:
– Các anh có một bức tường bằng đá ở trước mặt. Các anh phải xẻ quả núi này thành hai nửa, để đoàn tàu có thể chạy xuyên qua. Các anh là những người được chọn, vì các anh đã chứng minh được rằng mình có thể làm những công việc nặng nhọc. Đây không phải việc dành cho bọn nhọ khốn kiếp lẫn bọn Ái Nhĩ Lan say xỉn. Dãy núi này là dành cho người Trung Hoa. Chính vì lẽ đó mà các anh có mặt ở đây. Và tôi cũng ở đây, để theo dõi các anh làm, những gì các anh phải làm. Kẻ nào không gắng hết sức mình và lười biếng, kẻ đó sẽ phải nguyền rủa cái ngày mình được sinh ra. Các anh hiểu chứ? Tôi muốn các anh trả lời to hết mức có thể. Sau đó các anh lại có thể đội mũ. Các anh lấy cuốc xẻng ở chỗ Brown, cẩn thận đấy, hắn hay phát điên khi trăng tròn, rồi ăn sống người Trung Hoa. Còn bình thường hắn hiền như một con cừu.
Tất cả cùng lầm rầm trả lời.
Trời cũng vừa hửng sáng khi họ cầm cuốc xẻng trong tay đứng trước bức tường đá dựng đứng trước mặt. JA. đưa khẩu súng của mình cho Brown, cầm lấy cuốc đào hai vạch mốc dưới chân vách đá. Sáng nhìn thấy con đường mà họ phải mở ra rộng gần tám mét.
Không thấy có bất cứ tảng đá nào rơi ra, cũng chẳng có sỏi. Ngọn núi này sẽ kiên cường chống đối lại họ. Mỗi một mảnh đá được đào ra đòi hỏi ở họ một sự cố gắng không thể so sánh được với những gì cho đến nay họ đã làm.
Phải chăng các vị thần mà họ vẫn cầu khấn đã thách thức họ đương đầu trước thử thách này? Họ phải đục qua được bức tường đá này để trở thành những người đàn ông tự do, để không còn là những “thằng chẹt” bị khinh miệt, mất hút nơi tận cùng vùng sa mạc hẻo lánh của nước Mỹ này.
Một nỗi tuyệt vọng khôn cùng bất ngờ ập đến với Sáng. Điều duy nhất giúp cho anh đứng vững cho đến tận lúc này, đó là ý nghĩ một ngày nào đó Quốc Sĩ và anh sẽ trốn thoát.
Anh cố hình dung ngọn núi này thật ra chỉ là một bức tường ngăn cách họ với đất nước Trung Hoa. Chỉ một vài mét nữa thôi là cái lạnh sẽ chấm dứt. Ở đó những cây anh đào sẽ nở hoa.
Ngay buổi sáng, họ bắt đầu đục đá. Cai thợ mới canh chừng họ như một con ác điểu. Ngay cả khi đứng quay lưng về phía họ, hình như gã vẫn có thể phát hiện ra có ai đó đang dừng cuốc, dù chỉ trong chốc lát. Nắm tay hắn được cuốn dây da, xé tướt da mặt người nào mắc lỗi. Chỉ vài ngày sau đó, gã đàn ông luôn lăm lăm khẩu súng trong tay và chưa bao giờ thốt ra được một câu vui vẻ ấy đã bị tất cả mọi người căm ghét. Họ bắt đầu mơ tưởng đến việc giết chết hắn. Sáng đắn đo, JA. có quan hệ như thế nào với lão Vương? Hắn cũng thuộc sở hữu của Vương hay ngược lại?
JA. dường như được gọt đẽo theo hình hài ngọn núi này, ngọn núi kiên cường chống chọi trước khi chịu nhả ra toàn những mảnh vỡ nhỏ nhoi, như những giọt nước mắt nhỏ nhoi, những vết nứt từ đá hoa cương. Họ phải mất gần một tháng trời mới đục ra được một khoảng trống có chiều rộng như đã yêu cầu. Vậy mà trong số họ đã có một người chết. Anh ấy lặng lẽ thức dậy trong đêm, chui ra khỏi lều, cởi hết quần áo và nằm trong tuyết để chết. Khi JA. phát hiện ra xác anh ta, hắn đã nổi giận.
– Các ngươi không được thương xót một kẻ tự sát, hắn gào lên bằng cái giọng the thé. Các người chỉ nên buồn vì sẽ phải làm bù cho cả kẻ đó nữa.
Buổi tối khi họ từ công trường đục đá trở về lán, xác chết đã biến mất.
Một vài ngày sau đó, họ bắt đầu tấn công bức tường đá bằng thuốc nổ nitroglycerin. Thời tiết khi ấy đã bớt lạnh. Trong nhóm của họ có hai người tên là Giang và Bình rất có kinh nghiệm với thứ chất nổ nguy hiểm thất thường này. Hai người ngồi vào trong những chiếc sọt, được dây kéo lên cao để nhét những bánh thuốc nổ vào trong các kẽ đá. Sau đó họ đốt dây cháy chậm, những chiếc sọt nhanh chóng được hạ xuống và mọi người vội chạy tìm chỗ nấp. Đã nhiều lần Giang và Bình suýt không chạy kịp. Vào một buổi sáng, một chiếc sọt bị mắc lại trong lúc được thả xuống. Bình buộc phải nhảy xuống và bị thương ở bàn chân khi anh chạm đất. Vậy mà ngày hôm sau anh đã lại ngồi vào trong sọt để làm cái việc nguy hiểm chết người ấy.
Có tin đồn Giang và Bình được trả lương đặc biệt. Thứ họ nhận được không phải là tiền mà là thời gian họ phải làm việc để trả nợ tiền vé tàu thủy được rút ngắn. Tuy nhiên, cũng chẳng có ai tình nguyện thế chỗ họ trong mấy cái sọt đó.
Điều mà tất cả mọi người thường lo lắng đã xảy ra vào một buổi sáng giữa tháng Năm. Một khối thuốc nổ mà Giang đã đặt vào vị trí không phát nổ. Thường thì để tránh nguy cơ khối thuốc phát nổ muộn hơn dự kiến, người ta phải đợi khoảng một tiếng rồi mới tiến hành thử với dây cháy chậm mới. Nhưng JA. cưỡi ngựa phi đến và không muốn chờ đợi. Hắn ra lệnh kéo Bình và Giang lên làm lại ngay. Giang tìm cách giải thích cho hắn hiểu là phải chờ. J. A. không nghe, hắn nhảy xuống khỏi yên ngựa, đánh vào mặt Giang và Bình. Sáng nghe thấy tiếng xương quai hàm và sống mũi của họ bị gãy. Rồi tự tay J. A. nhấc họ vào trong sọt, thét ông Xử kéo họ lên, nếu như ông không muốn tất cả mọi người ở đây bị bỏ mặc cho chết rét trong tuyết. Hai thợ nổ mìn gần như đã ngất xỉu trong hai chiếc sọt được kéo lên cao. JA. thấy việc này được thực hiện quá chậm, hắn giương súng bắn vào không khí.
Không ai hiểu chuyện gì đã xảy ra. Nhưng nitroglycerin đã phát nổ, những chiếc sọt cùng hai người đàn ông ngồi trong đó bị xé tươm đến mức không còn tìm thấy gì. Nhưng JA. chẳng tỏ ra hề hấn gì, hắn ra lệnh đưa sọt và dây kéo mới đến. Sáng là một trong những người được hắn chọn làm tiếp công việc kia. Ông Xử cho anh biết cách sử dụng nitroglycerin như thế nào, nhưng Sáng chưa bao giờ đặt một khối thuốc nổ.
Người run lên vì sợ hãi, anh ngồi vào sọt để mọi người kéo lên vách đá. Anh tin mình sẽ chết, nhưng khi chiếc sọt chạm đất, anh nhảy ra và còn kịp chạy vào chỗ nấp khi những tiếng nổ vang lên.
Đêm hôm đó, Sáng kể cho anh trai nghe kế hoạch bỏ trốn của mình. Dù có điều gì đang chờ đợi họ ở nơi hoang dã thì cũng không tồi tệ hơn những gì họ đang phải trải qua ở đây. Họ phải chạy trốn và chỉ dừng lại khi đã ở đất nước Trung Hoa của mình.
Bốn tuần sau, họ đã bỏ trốn. Họ nhẹ nhàng rời khỏi lán trong đêm, đi theo đường tàu, ăn trộm hai con ngựa ở trạm vận chuyển thanh ray rồi phi về hướng Tây. Mãi tới khi đã đi được khá xa, không còn nhìn thấy rõ dãy Sierra Nevada nữa, hai người mới dám nghỉ một vài tiếng đồng hồ bên đống lửa, rồi sau đó lại vội vàng lên đường. Họ đến bên một con sông có một chỗ cạn lội qua được. Họ cho ngựa lội qua chỗ đó sang bên kia để xóa dấu vết.
Họ thường dừng lại, nhìn về phía sau. Nhưng quang cảnh phía sau họ trống vắng. Không có ai đuổi theo họ.
Dần dần, Sáng bắt đầu hy vọng: có thể cuối cùng họ cũng về được đến nhà chăng? Nhưng hy vọng ấy hết sức mong manh, đến mức anh vẫn còn chưa dám tin vào điều đó.