Gần bảy giờ sáng, sau một đêm mất ngủ, Birgitta Roslin gọi đến khách sạn Eden. Chuông điện thoại reo hoài mà không thấy có ai nhấc máy.
Đêm qua bà đã cố gắng kiểm soát nỗi sợ hãi của mình. Nếu như cô Hà không từ Luân Đôn đến nói cho bà biết Hồng Quế đã chết, chắc chắn bà sẽ không phản ứng mạnh mẽ về cú điện thoại vào ban đêm của ông Sture Hermansson như vậy. Ông Sture không gọi lại, điều này là dấu hiệu cho biết không có gì xảy ra. Người đàn ông Trung Quốc chắc còn đang ngủ.
Bà chờ thêm nửa tiếng đồng hồ nữa. Bà đã bố trí một vài ngày không xử án để hoàn thành một số công việc giấy tờ còn tồn lại, đồng thời tập trung vào việc xác định mức hình phạt đối với bốn người Việt Nam và viết xong bản án.
Điện thoại đổ chuông. Đó là Staffan.
– Anh và các con đi du ngoạn, ông nói.
– Leo núi, xuống thung lũng? Dọc theo những con đường mòn có nhiều loài hoa đẹp chứ?
– Không. Với thuyền buồm. Anh đã đăng ký chỗ cho chuyến ra khơi này. Vì vậy, có thể hai ngày tới chúng ta không liên lạc bằng điện thoại di động được.
– Mấy bố con anh định đi đâu?
– Không có mục tiêu nào hết. Đây là ý tưởng của các con. Bố con anh lên tàu như hành khách với một thuyền trưởng, một đầu bếp và hai thủy thủ có kinh nghiệm.
– Khi nào thì bố con anh lên đường?
– Bọn anh đã có mặt trên biển rồi. Thời tiết rất đẹp. Chỉ tiếc là không có gió.
– Có thuyền cứu hộ trên tàu đấy chứ? Mọi người có áo phao không đấy?
– Chuyện này thì em đánh giá thấp bố con anh rồi đấy nhé. Hãy chúc bố con anh có một chuyến đi tốt đẹp. Nếu em muốn, anh sẽ đem về cho em một lọ nước mặn.
Birgitta Roslin chào tạm biệt bố con ông rồi gác máy. Bỗng nhiên bà mong giá như mình cùng đi với họ mặc cho ông Hans Mattsson có thất vọng và các đồng nghiệp có bực mình đi chăng nữa.
Bà lại gọi đến khách sạn Eden. Lúc này điện thoại bận. Bà chờ và năm phút sau lại gọi một lần nữa, máy vẫn bận. Nhìn qua cửa sổ bà thấy thời tiết đẹp của mùa xuân vẫn duy trì. Trời đã bắt đầu ấm. Bà thay chiếc áo đầm mỏng hơn. Điện thoại ở khách sạn vẫn bận. Bà định khi xuống đến phòng làm việc sẽ tiếp tục gọi đến đó. Bà kiểm tra tủ lạnh, viết lên giấy những thứ cần phải mua và thử gọi đến khách sạn ở Hudiksvall lần cuối.
Một phụ nữ trả lời bằng giọng Thụy Điển còn lơ lớ:
– Khách sạn Eden xin nghe.
– Tôi muốn nói chuyện với ông Sture Hermansson.
– Không thể được! Người phụ nữ ở đầu dây nói như thét vào máy.
Sau đó chị ta bắt đầu hét lên như người loạn thần kinh điều gì đó bằng tiếng nước ngoài. Roslin đoán đó là tiếng Nga.
Bà nghe như có tiếng ống nghe điện thoại ở đó rơi xuống nền nhà. Rồi có ai đó lại nhặt nó lên. Lần này là giọng một người đàn ông, giọng Hälsingland.
– A lô?
– Tôi muốn nói chuyện với ông Sture Hermansson.
– Ai đấy?
– Còn ông là ai? Đây có đúng là điện thoại của khách sạn Eden không?
– Đúng rồi. Nhưng bà không thể nói chuyện với ông Sture Hermansson được.
– Tên tôi là Birgitta Roslin, gọi từ Helsingborg. Nửa đêm hôm qua ông Sture Hermansson có gọi điện cho tôi. Chúng tôi hẹn sáng nay gọi lại cho nhau.
– Ông ấy chết rồi.
Bà như nghẹt thở, người choáng váng.
– Chuyện gì xảy ra vậy?
– Điều này chúng tôi vẫn chưa biết. Hình như ông ấy cắt phải dao và bị chết do mất máu.
– Tôi đang nói chuyện với ai vậy?
– Tên tôi là Tage Elander. Tôi có xưởng làm đệm ở ngay bên cạnh khách sạn. Chị giúp việc người Nga vừa chạy sang báo cho tôi biết cách đây mấy phút. Bây giờ chúng tôi đang chờ cảnh sát và xe cấp cứu.
– Ông ấy bị giết sao?
– Ông Sture ư? Lạy Chúa, ai lại còn muốn giết ông ấy chứ? Ông ấy bị thương do một con dao làm bếp, lại có một mình ở trong nhà, không ai nghe thấy ông kêu cứu. Thật thảm thiết. Ông ấy là người dễ mến.
Birgitta Roslin không chắc liệu mình có nghe đúng không.
– Ông ấy không ở một mình trong khách sạn!
– Vì sao?
– Ông ấy có khách trọ.
– Chị người Nga nói khách sạn không có khách.
– Ít nhất ông ấy cũng có một khách vãng lai. Tối hôm qua ông ấy đã nói với tôi như vậy. Một người đàn ông Trung Quốc, ở phòng 12.
– Có thể tôi hiểu sai. Để tôi hỏi lại chị người Nga xem.
Bà nghe có tiếng nói chuyện cách máy điện thoại một đoạn. Giọng của người phụ nữ Nga vẫn the thé và sợ hãi.
Elander quay về chỗ máy điện thoại.
– Chị ta vẫn khẳng định đêm qua khách sạn không có khách trọ.
– Anh xem lại sổ đăng ký đi. Phòng 12. Một người khách với cái tên Trung Quốc.
Elander lại biến mất. Bà nghe có tiếng khóc của người phụ nữ Nga từ đâu đó vọng tới. Đồng thời có tiếng đẩy cửa và nhiều tiếng nói khác.
Elander lại cầm ống nghe.
– Tôi phải gác máy. Cảnh sát và xe cứu thương đã đến. Tôi không tìm thấy sổ đăng ký khách trọ.
– Thế là thế nào?
– Nó biến mất rồi. Chị người Nga nói cuốn sổ đó lúc nào cũng nằm trên mặt quầy lễ tân. Bây giờ không thấy nữa.
– Tôi tin chắc tối hôm qua có một người khách ở trong khách sạn.
– Nếu có thì người đó cũng đã biến mất cùng với quyển sổ đăng ký.
– Sự việc còn có thể tồi tệ hơn nữa, bà Roslin nói tiếp. Có thể người đó đã dùng con dao làm bếp giết chết ông Sture Hermansson.
– Tôi không hiểu bà nói gì. Có lẽ tốt hơn là bà nên nói chuyện với cảnh sát.
– Tôi sẽ nói với họ, nhưng không phải ngay lúc này.
Bà gác ống nghe. Lúc này bà cần phải ngồi xuống. Tim bà nện thình thịch.
Bỗng nhiên mọi việc như hiện rõ trước mặt bà. Một khi người đàn ông mà bà cho rằng chính là kẻ giết những người ở Hesjövallen đã quay lại đây và hỏi về bà, để rồi biến mất cùng với cuốn sổ đăng ký khách trọ của khách sạn, thì điều này chỉ có thể mang một ý nghĩa: hắn quay lại để giết bà. Khi cho một thanh niên Trung Quốc ở Bắc Kinh xem tấm ảnh từ camera của ông Sture Hermansson để nhờ anh ta hỏi giúp, bà đã không hề ngờ tới hậu quả. Theo logic, ban đầu hắn tin rằng bà cũng sống ở Hudiksvall. Nhưng giờ hắn đã sửa chữa sai lầm đó và có được địa chỉ của bà qua ông Sture Hermansson.
Bà đã phải trải qua một khoảnh khắc hỗn độn. Vụ tấn công, cái chết của Hồng Quế, chiếc túi xách bị mất, rồi lại tìm thấy, cuộc viếng thăm căn phòng ở khách sạn của bà, tất cả đều có liên quan với nhau.
Trong nỗi tuyệt vọng đến phát hoảng, bà gọi điện cho Staffan. Nhưng không liên lạc được. Bà thầm nguyền rủa chuyến du ngoạn bằng thuyền buồm của bố con ông ấy. Bà thử gọi vào số máy của một trong mấy đứa con gái nhưng vẫn như vậy.
Bà gọi cho Karin Wiman. Bà ấy cũng không trả lời. Nỗi hoảng sợ làm cho bà không được yên. Bà thấy không có lối thoát nào khác là chạy trốn. Bà phải rời khỏi đây. Ít nhất cũng cho tới khi bà biết được mình đã bị lôi vào việc gì.
Khi đã đi đến quyết định, bà lập tức hành động như thường làm trong những tình huống cực kỳ nan giải: khẩn trương, cương quyết, không lưỡng lự. Bà gọi điện thoại cho ông Hans Mattsson.
– Tôi không được khỏe, bà nói. Không phải huyết áp. Tôi thấy bị sốt. Có lẽ do virus. Nhưng tôi cần phải nghỉ ốm một vài ngày.
– Chị cứ yên tâm nghỉ ngơi một vài ngày.
Bà lên tầng trên, sắp xếp một vài thứ cần thiết vào chiếc túi du lịch nhỏ, đem theo ít tiền bảng Anh vẫn còn giữ lại từ những chuyến du lịch trước đây. Bà tin rằng người đàn ông đã giết Sture Hermansson đang trên đường xuống miền Nam.
Rồi bà bỗng nhớ ra ở khách sạn Eden có gắn một chiếc camera bí mật. Bà gọi điện thoại một lần nữa đến đó. Lần này có một người đàn ông vừa ho vừa trả lời. Bà không muốn giải thích mình là ai mà nói luôn ra điều mình biết.
– Ở khách sạn có một máy camera. Ông Sture Hermansson luôn quay phim những người khách trọ ở khách sạn của mình. Đêm qua không có khách trọ là không đúng. Ở đó đã có một khách trọ.
– Tôi đang nói chuyện với ai vậy?
– Ông là cảnh sát à?
– Phải.
– Ông đã nghe điều tôi nói. Còn tôi là ai, hoàn toàn không đóng vai trò gì cả.
Bà gác máy. Lúc này đã là tám rưỡi sáng. Bà gọi taxi ra ga và hơn chín giờ một vài phút bà đã ngồi trên đoàn tàu chạy về Copenhagen. Nỗi hoảng sợ lúc này đã nhường chỗ cho sự biện bạch đối với hành động của bà. Trước hết bà cho rằng mình không tưởng tượng ra mối nguy hiểm. Ngay lúc ở Bắc Kinh khi bà đưa cho người thanh niên xem tấm ảnh đã chụp được ở khách sạn Eden, bà không ngờ rằng mình đã chọc vào tổ kiến lửa. Cái chết của Hồng Quế là một tín hiệu báo động rõ ràng. Lối thoát duy nhất của bà lúc này là trông chờ vào sự giúp đỡ của Hà.
Ở khu vực làm thủ tục tại sân bay Kastrup bà nhìn bảng giờ các chuyến bay. Hai giờ nữa sẽ có chuyến bay đi tới sân bay Heathrow Luân Đôn. Bà mua vé, nhưng để mở chuyến khứ hồi. Sau khi làm xong thủ tục bay, bà ngồi uống cà phê và gọi cho Karin Wiman một lần nữa. Nhưng nghĩ sao bà lại tắt máy trước khi Karin có thể trả lời. Bà sẽ nói gì với Karin? Bà ấy chắc sẽ không hiểu, mặc dù trong lần gặp nhau vừa rồi, Birgitta đã kể hết cho bà ấy nghe. Karin sẽ không thể nào tưởng tượng ra nổi những gì đang xảy ra với cuộc sống của Birgitta. Bản thân Birgitta cũng có khác gì. Đó là một chuỗi các sự kiện khó tin đã dồn bà vào tình huống không lối thoát này.
Chuyến bay của bà bị chậm mất một tiếng và trên sân bay Heathrow rất lộn xộn, vì sau đó bà được biết có cảnh báo khủng bố bởi có một chiếc va li vô chủ bị bỏ lại trong nhà ga hàng không. Mãi tới chiều bà mới vào tới nội thành và thuê được một phòng khách sạn loại trung bình trên một phố nhỏ thuộc khu Tottenham Court Road. Bà ngả người nằm lên giường vì quá mệt mỏi. Trên máy bay bà đã ngủ thiếp đi được một lúc, nhưng tiếng gào khóc của một đứa trẻ khiến bà thức giấc. Thằng bé không chịu nín, dù mẹ nó có dỗ dành thế nào, cho tới khi lốp máy bay chạm xuống đường băng.
Bà thức dậy sau giấc ngủ kéo dài ba giờ đồng hồ. Trời đã nhập nhoạng tối. Bà đã định trong ngày hôm nay sẽ tìm đến địa chỉ của Hà ở khu phố Tàu, nhưng lúc này lại quyết định hoãn đến ngày mai. Bà xuống đường đi dạo một lúc rồi bước vào một quán ăn. Bỗng một đoàn khách du lịch rất đông người Trung Quốc bước vào trong quán. Bà hoảng sợ khi thấy họ nhưng rồi cũng trấn tĩnh lại được. Sau khi ăn xong bà trở về khách sạn, ngồi vào bên quầy bar uống trà. Lúc sau khi lấy chìa khóa phòng, bà thấy người trực đêm là một người Trung Quốc. Bà thầm hỏi liệu có phải gần đây người Trung Quốc mới có mặt ở khắp châu Âu, hay trước đây vẫn thế mà bà không để ý đến.
Bà tóm lược lại tình hình, người đàn ông Trung Quốc quay trở lại khách sạn Eden, ông Sture Hermansson chết. Bà định gọi điện cho Vivi Sundberg, nhưng lại từ bỏ ý định này. Một khi cuốn sổ đăng ký khách trọ đã biến mất, thì một bức ảnh từ camera ứng chế hầu như cũng không gây ấn tượng nào đối với cảnh sát. Thậm chí cái chết của ông Sture Hermansson cũng được cảnh sát coi như là một tai nạn, cho nên lúc này có gọi cho bà ấy cũng vô ích mà thôi. Thay vì thế, bà gọi đến khách sạn Eden. Nhưng không có ai nhấc máy, cũng không có máy trả lời tự động cho biết khách sạn tạm thời đóng cửa. Nhưng có lẽ là sẽ đóng cửa mãi mãi.
Không thể thoát ra khỏi nỗi sợ hãi nên bà đã thận trọng chặn ghế vào sau cánh cửa, kiểm tra các chốt cửa sổ. Bà lên giường nằm, chuyển hết kênh này đến kênh khác nhưng chỉ thấy trước mắt mình chất chồng hình ảnh một chiếc thuyền giong buồm ngoài khơi Madeira.
Bà thức dậy giữa đêm vì vô tuyến vẫn mở. Lúc này đang chiếu một bộ phim trắng đen cũ mà diễn viên nổi tiếng James Cagney đóng vai gangster. Bà tắt vô tuyến và tắt đèn, cố ngủ lại, nhưng uổng công. Bà thức trắng cho đến sáng.
Bên ngoài trời lâm thâm mưa, bà uống cà phê, nhưng không ăn gì cả. Bà đi ra phố sau khi mượn được một chiếc ô ở quầy lễ tân, trực ở đó giờ là một cô gái, trông như người Thái Lan hoặc Philippines. Bà tới quảng trường Leicester rồi từ đó tìm đường đến khu phố Tàu. Phần lớn các tiệm ăn còn đóng cửa. Bà tìm đến địa chỉ của Hà. Tiệm ăn ở tầng trệt vẫn đóng cửa. Ngôi nhà xây bằng gạch nung đỏ thẫm, nằm giữa hai hẻm nhỏ. Bà quyết định nhấn chuông căn hộ phía trên.
Nhưng có điều gì đó khiến bà do dự rụt ngón tay lại. Bà vào quán cà phê đối diện và gọi một tách trà. Thực ra bà biết được gì về Hà? Và bà đã biết được gì về Hồng Quế? Có lần Hồng Quế như từ cõi hư vô xuất hiện trước mặt bà bên chiếc bàn ăn ở khách sạn. Ai đã phái bà ấy đến? Có phải Hồng Quế là người đã cho người theo sát Karin và bà vào cái hôm hai người đi thăm Vạn Lý Trường Thành? Chỉ có một điều chắc chắn: cả Hồng Quế lẫn Hà đều biết rất rõ về bà. Và tất cả đều từ tấm ảnh mà ra. Trong bối cảnh ấy, vụ cướp chiếc túi xách dường như không còn là một tai nạn đáng tiếc nữa, mà ăn khớp với tất cả những việc còn lại. Khi tìm cách để hiểu rõ vấn đề hơn, thì dường như bà lại càng lạc sâu vào một mê lộ.
Liệu bà có lý không khi cho rằng Hồng Quế đã tìm cách để dụ bà ra khỏi khách sạn? Có lẽ chuyện Hồng Quế chết ở châu Phi do một vụ tai nạn cũng không phải là thật? Thực ra điều gì có thể chứng minh rằng Hồng Quế và người đàn ông mang cái tên là Vương Minh Hào, bằng cách này hay cách khác, lại không cùng nhau dính líu đến vụ giết người hàng loạt ở Hesjövallen? Cũng từ lý do đó mà Hà đã đến Helsingborg? Có thể Hà cũng không biết chuyện một người Trung Quốc lại hiện diện tại khách sạn Eden? Và liệu chăng những thiên thần hộ mệnh đáng yêu kia lại chính là những thiên thần sa ngã đang khiến bà phân tâm để tước hết mọi khả năng tự vệ của bà?
Birgitta Roslin cố nhớ lại những gì đã kể với Hồng Quế trong những lần hai người chuyện trò. Bấy giờ bà mới nhận ra là mình đã nói quá nhiều. Thật bất cẩn làm sao! Hồng Quế là người đã giật dây tất cả. Một lời nhận xét tình cờ và vô hại rằng vụ giết người hàng loạt ở Thụy Điển cũng được các phương tiện thông tin Trung Quốc đưa tin? Liệu điều đó có đúng không? Không, Hồng Quế đã đẩy bà vào nguy hiểm để thấy bà vùng vẫy, rồi lại giúp bà rời khỏi đất nước ấy khi thấy đã biết quá đủ.
Tại sao Hà lại phải ngồi cả một ngày trời trong phòng xử án của bà? Cô ấy không biết tiếng Thụy Điển. Hoặc là có biết? Rồi sau đó cô ấy vội vàng quay trở về Luân Đôn. Hay là Hà ngồi ở đó chỉ là để giám sát bà có rời khỏi phòng xử án hay không? Có thể có ai đó đã cùng đi với Hà, người đó đã lục lọi nhà bà trong khi Hà ngồi ở phòng dự khán của tòa án?
Mình cần phải chia sẻ với ai đó, bà thầm nghĩ. Không phải là với Karin Wiman. Bà ấy sẽ không hiểu được. Staffan hay các con của mình. Nhưng hiện nay họ đang lang thang đâu đó trên biển và không thể liên lạc được.
Vừa lúc Birgitta Roslin định rời khỏi quán cà phê thì thấy cánh cửa nhà bên kia đường được mở ra. Hà bước ra ngoài đường và đi xuống phía quảng trường Leicester. Cô ấy có vẻ cảnh giác, bà Roslin thầm nghĩ vậy. Chính vì vậy mà bà còn do dự một lúc trước khi theo sau Hà. Khi đã đến quảng trường, Hà đi ngang qua công viên rồi rẽ xuống phố Strand. Trong suốt thời gian này bà Roslin luôn chú ý đến khả năng cô quay lại nhìn xem có ai bám theo sau không. Hà đã làm việc đó trước khi tới được đại sứ quán Zimbabwe. Bà Roslin kịp cụp ô che mặt. Sau đó bà suýt mất dấu Hà cho tới khi lại phát hiện thấy chiếc áo mưa màu vàng của cô. Hà đẩy cánh cửa nặng nề của khu nhà văn phòng trước lối vào khách sạn Savoy. Bà Roslin chờ mấy phút rồi tiến lại gần cửa, nơi có gắn một tấm biển bằng đồng thau bóng loáng và đọc dòng chữ trên tấm biển đó “Phòng thương mại Anh-Trung”.
Bà quay ngược trở lại và nhìn thấy một tiệm cà phê trên đường Regent ngay bên cạnh bùng binh Piccadilly. Ở đó bà bấm máy số điện thoại của Hà ghi trên tấm danh thiếp. Máy trả lời tự động đề nghị người gọi để lại tin nhắn. Bà nói:
– Tôi đã làm theo điều cô đã nói với tôi. Tôi đã đến Luân Đôn, vì tôi tin rằng mình bị truy đuổi. Hiện giờ tôi đang ngồi trong tiệm cà phê Simon, bên cạnh cửa hàng thời trang Rawson trên đường Regent, gần bùng binh Piccadilly. Lúc này là mười giờ. Tôi sẽ ngồi lại đây một tiếng đồng hồ. Nếu không thấy cô đến, tôi sẽ gọi lại một lần nữa trong ngày.
Bốn mươi phút sau Hà có mặt. Chiếc áo đi mưa màu vàng chói của cô lấp loáng giữa những chiếc áo tối màu. Bà Roslin có cảm giác điều này có một ý nghĩa gì đó.
Bà Roslin nhận ra Hà có vẻ lo lắng khi bước vào tiệm cà phê. Cô lập tức nói ngay trước khi kéo ghế ngồi.
– Có chuyện gì xảy ra vậy?
Cô phục vụ ghi món Hà gọi trước khi bà Roslin trả lời. Bà kể lại chi tiết về người đàn ông Trung Quốc xuất hiện ở khách sạn Eden tại Hudiksvall, người đàn ông mà đã có lần bà kể, và rằng ông chủ khách sạn đã bị giết chết.
– Điều đó có chắc chắn không?
– Tôi không đến Luân Đôn để nói chuyện vớ vẩn. Chuyện đó đã xảy ra và tôi lo sợ. Người đàn ông này hỏi về tôi. Anh ta có địa chỉ của tôi. Bây giờ tôi ở đây. Tôi làm theo điều mà bà Mã Lý hoặc đúng ra là bà Hồng Quế đã nói qua cô. Tôi lo sợ, nhưng tôi cũng tức giận, vì tôi linh cảm thấy bà Hồng Quế cũng như cô đã không nói sự thật với tôi.
– Tại sao tôi lại phải nói dối? Bà đã phải đi một chuyến xa đến tận Luân Đôn. Bà đừng quên rằng chuyến đi của tôi theo chiều ngược lại để tới gặp bà cũng xa như vậy.
– Tôi không được biết tất cả những gì đã xảy ra. Tôi không nhận được một lời giải thích, mặc dù tôi tin rằng có một cách giải thích.
Hà ngồi bất động. Ý nghĩ về chiếc áo mưa có màu quá chói cứ luẩn quẩn trong đầu bà Roslin.
– Bà nói đúng, Hà nói. Nhưng bà tin rằng chị Hồng Quế hay chị Mã Lý biết được nhiều hơn những gì họ đã nói ra sao?
– Khi cô tới gặp tôi, tôi chưa chắc lắm, nhưng giờ thì đã rõ. Bà Hồng Quế lo cho mạng sống của tôi. Bà ấy đã nói điều này với bà Mã Lý. Và thông điệp này tiếp tục đến được với cô. Ba người phụ nữ lần lượt báo cho người phụ nữ thứ tư biết về mối hiểm họa. Mối họa ấy không phải điều gì khác mà chính là cái chết. Không hiểu gì nên tôi đã tự đưa mình vào một mối nguy hiểm mà chỉ cho tới lúc này tôi mới ước đoán được mức độ của nó. Tôi nói vậy có đúng không?
– Cũng chính vì lẽ đó mà tôi đến đây.
Bà Birgitta Roslin nhoài người qua bàn và nắm lấy bàn tay cô Hà.
– Vậy thì cô hãy giúp cho tôi hiểu. Cô hãy trả lời những câu hỏi của tôi.
– Nếu tôi có thể.
– Cô có thể. Cô đi một mình đến Helsingborg phải không? Liệu lúc này có ai đó đang theo dõi cô và tôi không? Cô có thừa thời gian để gọi điện cho một ai đó trước khi đến đây gặp tôi.
– Sao bà lại nghĩ như vậy?
– Đó không phải là câu trả lời, mà lại là một câu hỏi mới. Tôi muốn có câu trả lời.
– Tôi chỉ đi một mình đến Helsingborg.
– Vì sao cô lại ngồi cả một ngày trong phòng xử án? Cô không biết tiếng Thụy Điển, cô không hiểu những gì được nói ra ở đó.
– Không.
Bỗng bà Roslin chuyển sang nói bằng tiếng Thụy Điển. Hà nhăn trán lắc đầu.
– Tôi không hiểu.
– Có chắc không? Thế nếu thật ra cô rất hiểu tiếng mẹ đẻ của tôi?
– Nếu vậy, tôi đã nói chuyện với bà bằng tiếng Thụy Điển.
– Có thể cô có lợi thế khi không lộ ra rằng mình biết tiếng Thụy Điển. Thậm chí tôi còn tự hỏi liệu có phải cô cố tình mặc chiếc áo mưa màu vàng để ai đó dễ nhìn thấy cô hơn không.
– Tại sao?
– Tôi không biết. Lúc này tôi hoàn toàn không biết gì cả. Điều quan trọng nhất vẫn là bà Hồng Quế muốn cảnh báo tôi. Nhưng tại sao tôi lại phải tìm đến sự giúp đỡ của cô? Và cô có thể làm gì cho tôi?
– Bà hãy để tôi được bắt đầu với câu hỏi cuối cùng, Hà nói. Khu phố Tàu là một thế giới riêng của nó. Dù hàng ngàn khách du lịch và dân Anh đi trên các con phố của chúng tôi, đường Gerrad, đường Lisle, đường Wardour, cùng những con đường và ngõ hẻm khác, nhưng chúng tôi chỉ để họ tiếp cận với bề mặt của nó. Đằng sau khu phố Tàu trên những tấm bưu thiếp ấy là khu phố Tàu của tôi. Dù cho phần lớn những người Trung Quốc sống ở đây đều mang quốc tịch Anh nhưng chúng tôi đều cảm thấy đây là nhà mình. Tôi có thể giúp bà bằng cách để bà vào trong khu phố Tàu của tôi, nơi mà nếu không thì bà chẳng bao giờ tới gần được.
– Tôi phải lo sợ điều gì đây?
– Chị Mã Lý đã nói không rõ khi viết thư cho tôi. Nhưng đừng quên rằng chị ấy cũng có nỗi lo sợ. Chị ấy không viết ra, nhưng tôi cảm thấy như vậy.
– Mọi người đều sợ. Cô có sợ không?
– Còn chưa. Nhưng nó có thể đến rất nhanh.
Điện thoại di động của Hà đổ chuông. Cô đưa mắt nhìn lên màn hình rồi đứng dậy.
– Bà đang ở đâu? Cô hỏi. Ở khách sạn nào? Tôi phải quay về văn phòng.
– Khách sạn Sanderson.
– Tôi biết nó nằm ở đâu. Phòng bao nhiêu?
– 135.
– Chúng ta có thể gặp nhau vào ngày mai không?
– Vì sao lại phải chờ lâu vậy?
– Tôi không thể đi trước lúc đó được, vì công việc. Tối nay tôi có một cuộc họp, không thể vắng mặt được.
– Đúng vậy sao?
Hà nắm lấy bàn tay bà Roslin.
– Đúng vậy. Một đoàn đại biểu Trung Quốc đàm phán công việc của họ với một công ty của Anh. Nếu vắng mặt, tôi sẽ lập tức bị sa thải.
– Lúc này tôi chỉ có một mình cô, ngoài ra không còn ai khác.
– Sáng mai bà hãy gọi điện cho tôi. Tôi sẽ cố gắng sắp xếp để được rảnh.
Hà biến mất với chiếc áo mưa lất phất bay trong màn mưa. Bà Roslin ngồi lại, cảm thấy vô cùng mệt mỏi. Mãi lâu sau bà mới trở về khách sạn của mình, đương nhiên đó không phải là khách sạn Sanderson. Bà vẫn còn chưa tin Hà, cũng như bất kỳ ai mang vẻ châu Á.
Buổi tối bà xuống nhà hàng của khách sạn. Sau khi ăn, lúc trời đã tạnh, bà quyết định ra phố một lần nữa, vào công viên, ngồi xuống chiếc ghế băng mà ngày trước Staffan và bà đã có lần ngồi.
Bà quan sát dòng người đến và đi, một đôi trai gái quấn chặt lấy nhau, bên cạnh bà. Lúc họ bỏ đi, có một người đàn ông đứng tuổi, tay cầm tờ báo vừa lấy ra từ sọt đựng giấy tới ngồi vào.
Bà lại thử gọi điện cho Staffan lúc này đang ở ngoài khơi Madeira, mặc dù biết rằng việc này là vô nghĩa.
Công viên dần thưa người. Cuối cùng bà cũng đứng dậy trở về khách sạn.
Đúng vào lúc ấy, bà thấy hắn. Hắn xuất hiện từ một trong những lối đi tắt ngay sau băng ghế bà đã ngồi. Hắn ăn vận toàn màu đen, không thể là ai khác mà chính là người đàn ông trên tấm ảnh. Hắn đi thẳng tới chỗ bà, trên tay cầm một vật gì đó loang loáng sáng.
Bà kêu to, giật lùi về phía sau. Hắn đến gần hơn trong khi bà bị ngã ngửa ra, đầu đập vào thành sắt của một chiếc ghế băng.
Điều cuối cùng bà nhìn được là bộ mặt của hắn, như thể bà muốn chụp lại hình ảnh của hắn bằng ánh mắt mình.
Tất cả chỉ có thế. Rồi sau đó bà chìm vào một khoảng tối mênh mông yên lặng.