Người Đàn Ông Đến Từ Bắc Kinh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 51 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
17

❊ ❊ ❊

Elgstrand mở mắt. Ánh sáng mặt trời buổi sáng chiếu qua mành gỗ rọi vào trong phòng. Linh mục nghe có tiếng chổi quét trên sân. Elgstrand rất thích nghe âm thanh này, đó là điểm mốc bất biến trong một thế giới vô cùng bất ổn. Mọi thứ đều có thể thay đổi, nhưng không phải tiếng chổi ban sáng ấy.

Như thường lệ, Elgstrand còn nằm nán lại trên giường một lúc và để cho ý nghĩ của mình được tự do bay bổng. Một loạt những hình ảnh ùa về. Tuổi thơ thuần phác của Elgstrand trong một thành phố nhỏ mang tên Smäland. Khi ấy linh mục chẳng thể nào ngờ được thiên hướng của mình: trở thành một nhà truyền giáo đi giúp đỡ mọi người tìm thấy được đức tin chân chính duy nhất.

Nhiều năm đã trôi qua, nhưng vào buổi sớm ấy, tuổi thơ của Elgstrand như ở rất gần. Nhất lại là vào chính cái ngày hôm nay, ngày mà linh mục lại phải xuôi theo dòng sông để đến với con tàu chở hàng của Anh, nhận số tiền cùng thư từ gửi cho trạm truyền giáo. Đây là lần thứ tư linh mục Elgstrand đi nhận hàng. Một năm rưỡi đã trôi qua kể từ khi Elgstrand và Lodin đến ở thành phố Phúc Châu. Mặc dù họ làm việc hết sức hăng hái nhưng trạm truyền giáo của họ đang phải đương đầu với rất nhiều khó khăn. Điều thất vọng lớn nhất của linh mục Elgstrand là ở chỗ có quá ít người thực sự chịu cải đạo. Họ có mặt rất đông ở trạm truyền giáo, nhận mình là người theo Cơ Đốc giáo. Nhưng ngược lại với Lodin, người nhìn nhận sự việc với con mắt ít tinh ý hơn, Elgstrand đã nhận ra rằng đức tin của nhiều người chỉ là giả, họ đến chỉ vì muốn nhận được quần áo hoặc đồ ăn của những nhà truyền giáo.

Thời gian vừa qua, cũng đã có những lúc linh mục Elgstrand nản lòng. Những lúc đó, Elgstrand than vãn trong nhật ký về sự giả dối của người Trung Quốc, về sự sùng bái ghê tởm của họ. Đã có lúc Elgstrand xem những người Trung Quốc đến với các buổi giảng đạo của mình như là những con vật, thấp kém hơn rất nhiều so với những người nông dân nghèo khổ ở đất nước Thụy Điển. Với Elgstrand, lời trong Kinh Thánh “đàn gảy tai trâu” đã mang một ý nghĩa mới đầy bất ngờ. Nhưng linh mục không buông xuôi. Elgstrand cầu nguyện và hứa hẹn với Lodin. Trong những bức thư gửi về cho hội truyền giáo Thụy Điển, nơi đỡ đầu cho công việc của họ, Elgstrand không giấu giếm những khó khăn gặp phải, nhưng luôn nhắc lại không ngừng rằng cần phải kiên nhẫn. Khi khởi đầu, giáo hội Cơ Đốc cũng đã phải mất hàng trăm năm cho việc truyền bá tôn giáo của mình. Sự kiên nhẫn tương tự cũng cần phải được dành cho những người được cử đến đất nước Trung Hoa rộng lớn và lạc hậu này.

Linh mục Elgstrand đứng dậy, rửa mặt trong chậu nước và mặc quần áo, dành cả buổi sáng để viết thư gửi theo tàu chở hàng. Linh mục đặc biệt muốn viết thư gửi mẹ, bà đã già yếu và giảm trí nhớ. Elgstrand muốn nhắc nhở mẹ rằng bà có một đứa con trai đang thực hiện một nhiệm vụ cao quý nhất mà một tín đồ Cơ Đốc giáo có thể tưởng tượng được.

Có tiếng gõ cửa dè dặt. Khi linh mục mở cửa đã thấy một cô hầu bưng khay thức ăn buổi sáng đứng đó. Cô ta đặt khay thức ăn lên bàn và rón rén ra khỏi phòng. Vừa mặc áo khoác, linh mục Elgstrand vừa đi ra cửa và ngắm nhìn mảnh sân đã được quét dọn sạch sẽ. Không khí nóng ẩm, và những đám mây như báo sắp có mưa. Trong chuyến xuôi sông này, họ cần phải đem theo ô và đồ che mưa. Elgstrand vẫy Lodin đang đứng lau kính trước cửa.

Không có Lodin, chắc mọi việc sẽ khó khăn hơn đối với mình, Elgstrand thầm nghĩ. Anh chàng này còn ngây thơ, không đặc biệt có tài, nhưng tử tế và chịu khó, có được một chút khờ khạo từng được nói đến trong Kinh Thánh.

Elgstrand cầu kinh trước bữa ăn sáng. Trong khi ăn, linh mục thầm hỏi không biết đã thuê được đội chèo thuyền cho chuyến đi này chưa.

Lúc này linh mục thấy thiếu Sáng. Từ trước tới nay, Sáng là người giải quyết những công việc như thế này, và luôn trôi chảy. Từ cái đêm mùa thu Sáng bỏ đi cho đến nay, linh mục Elgstrand vẫn chưa tìm được người phù hợp thay thế.

Linh mục vừa rót thêm trà vừa tự hỏi tại sao Sáng lại bỏ đi. Cách giải thích hợp lý nhất là anh ta đã cùng với Kỳ, cô gái mà anh ta phải lòng, bỏ trốn. Điều làm cho Elgstrand đau đớn là đã nghĩ quá tốt về Sáng. Linh mục có thể chịu đựng được chuyện thường xuyên bị những người Trung Quốc bình thường lừa đảo, gạt gẫm: sự giả tạo nằm sẵn trong bản chất của họ rồi. Nhưng còn Sáng, người mà linh mục quý mến, lại cũng có thể hành động tương tự như vậy được sao? Đó là nỗi thất vọng lớn nhất của linh mục kể từ khi tới Phúc Châu cho đến nay. Linh mục đã cho hỏi tất cả những người quen biết Sáng, nhưng không một ai biết chuyện gì đã xảy ra vào đêm mưa bão ấy, khi gió đã giật tấm bảng của giáo đường xuống. Tấm bảng đã được gắn vào chỗ cũ. Nhưng Sáng vẫn mất dạng.

Mấy tiếng sau, linh mục Elgstrand đã viết xong thư và một bản tường trình gửi cho các thành viên của hội truyền giáo ở Thụy Điển. Mỗi một lần viết thư báo cáo về những bước tiến triển của công việc truyền giáo ở đây là một cực hình với linh mục. Vào lúc một giờ chiều, Elgstrand dán kín chiếc phong bì cuối cùng và ngó xem thời tiết một lần nữa. Xem chừng trời muốn mưa.

Khi bước chân lên thuyền, Elgstrand có cảm giác đã nhận ra một vài người chèo thuyền từng thuê những lần trước, nhưng lại không dám chắc. Lodin và Elgstrand ngồi vào giữa lòng thuyền. Một người đàn ông có tên là Xìn cúi chào và nói họ đã sẵn sàng nhổ neo. Hai nhà truyền giáo nhân chuyến đi này trao đổi với nhau về nhiều vấn đề khác nhau của trạm, tính đến khả năng phải xây dựng thêm những trạm mới, một mạng lưới các trạm truyền giáo dọc theo sông Mân, đó là ước mơ của linh mục Elgstrand. Khi chứng minh được rằng họ có thể phát triển, nó sẽ có tác dụng lôi kéo những người hoài nghi, do dự, tuy vậy lại tò mò về một Chúa trời kỳ lạ, người đã hiến tế con trai của mình bên thập tự giá.

Nhưng nguồn tiền sẽ đến từ đâu? Về điều này, cả Lodin và Elgstrand đều không có câu trả lời.

Khi thuyền của họ đến được bên chiếc tàu chở hàng của Anh, Elgstrand ngạc nhiên khi nhận ra nó. Hai người leo thang dây lên boong tàu, thuyền trưởng Dunn đã đứng trước mặt họ. Elgstrand giới thiệu linh mục Lodin với thuyền trưởng. Ông bắt tay hai người và dẫn họ về buồng của mình. Ông đặt chai rượu mạnh cùng ba chiếc cốc thủy tinh lên bàn và không chịu nhượng bộ cho tới khi mỗi người trong họ phải uống hai cốc.

– Vậy ra anh vẫn còn ở đây? Thuyền trưởng nói. Làm thế nào mà anh trụ được lâu như vậy?

– Chúng tôi nguyện đi theo thiên hướng của mình, Elgstrand nói.

– Công việc tiến triển ra sao?

– Ông nói tới công việc nào?

– Cải hóa tôn giáo. Các anh đã làm cho người Trung Quốc tin vào Thượng đế chưa, hay là họ vẫn thắp hương trước những vị thần của mình?

– Để hoán cải tôn giáo một người, cũng phải mất rất nhiều thời gian.

– Vậy để hoán cải tôn giáo cho cả một dân tộc sẽ mất bao lâu?

– Chúng tôi không tính như vậy. Chúng tôi có thể ở lại đây cả đời. Và sau chúng tôi sẽ là lớp người khác kế tục.

Viên thuyền trưởng quan sát hai người vẻ dò xét. Elgstrand nhớ lần đầu gặp, thuyền trưởng Dunn đã nói nhiều đến mặt tiêu cực của người dân Trung Quốc.

– Thời gian như cát chảy qua các kẽ ngón tay, dù cho chúng ta có tìm mọi cách nắm chặt nó lại. Thế còn với khoảng cách thì sao? Trước khi biết tới các dụng cụ đo đạc như hiện nay, các thủy thủ đi biển chỉ biết áng chừng, dựa vào một vài điểm mốc nơi đường chân trời. Còn các vị, các vị đo khoảng cách như thế nào, thưa hai nhà truyền giáo? Các vị đo khoảng cách từ Thượng đế đến những người mà các vị muốn hoán cải như thế nào?

– Kiên nhẫn và thời gian là đơn vị đo lường của chúng tôi.

– Tôi khâm phục hai vị, ông Dunn nói, ngược với mong muốn của tôi, nhưng nó là như vậy. Đức tin chưa từng giúp một thuyền trưởng nào tìm được luồng lạch vượt qua đá ngầm và cồn cát. Đối với chúng tôi chỉ có kiến thức là quan trọng. Cứ cho là không phải cùng một ngọn gió thổi căng buồm của tôi và các vị.

– Một hình ảnh tuyệt vời, Lodin nói sau khi đã giữ thái độ im lặng và chờ đợi cho tới lúc này.

Viên thuyền trưởng cúi xuống chiếc hòm gỗ để bên cạnh giường ngủ, mở nắp và lấy ra một xấp thư, một gói hàng và cuối cùng là một tập tiền cùng tín phiếu. Những tín phiếu này hai nhà truyền đạo có thể đem đổi ra tiền ở chỗ các thương gia người Anh hiện đang buôn bán ở Phúc Châu.

Thuyền trưởng Dunn trao cho Elgstrand một tờ giấy có ghi tổng số tiền.

– Anh hãy đếm lại tiền rồi ký nhận cho tôi.

– Điều này có cần thiết không? Tôi không tin là một thuyền trưởng lại ăn cắp tiền mà những người nghèo đã quyên góp để giúp cho những kẻ ngoại đạo có cuộc sống tốt hơn.

– Tin hay không tin đó là việc của anh. Đối với tôi, điều quan trọng chỉ là anh công nhận rằng đã nhận đủ số tiền.

Elgstrand đành phải đếm tiền và tín phiếu rồi ký tên vào biên lai, đưa nó cho thuyền trưởng Dunn. Ông cho tờ biên lai vào thùng gỗ khóa lại.

– Các vị đã dâng số tiền này cho người Trung Quốc. Đối với các vị chắc họ phải quan trọng lắm, thuyền trưởng Dunn nói thêm.

Trời đã tối khi Elgstrand và Lodin lại leo thang dây xuống thuyền. Thuyền trưởng Dunn đứng bên mạn tàu nhìn hai người xuống con thuyền chở họ trở lại trạm truyền giáo.

– Tạm biệt, ông nói. Ai mà biết được liệu chúng ta còn có lần nào lại gặp nhau trên con sông này không.

Con thuyền chở họ rời mạn tàu. Những người chèo thuyền nhịp nhàng vung mái chèo khỏa nước. Elgstrand cười vang trên mặt sông, nhìn Lodin:

– Thuyền trưởng Dunn là một người đàn ông kỳ lạ. Tôi tin ông ấy có một trái tim nhân ái, mặc dù ngoài miệng thì nói những lời báng bổ, bất mãn.

– Có lẽ không phải chỉ một mình ông ấy có quan điểm như vậy, Lodin trả lời.

Họ im lặng đi tiếp. Thường thì những thuyền có mái chèo như thế này luôn chạy sát bờ sông. Nhưng lần này những người chèo thuyền lại thích chạy ở giữa dòng. Lodin ngủ, Elgstrand cảm thấy hai mí mắt nặng trịch và cũng thiu thiu. Bỗng Elgstrand choàng dậy, khi thấy có nhiều thuyền xuất hiện trong bóng đêm và đâm vào mũi thuyền của họ. Sự việc diễn ra quá nhanh, Elgstrand không kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra. Một tai nạn, linh mục nghĩ. Tại sao những người chèo thuyền lần này lại không cho thuyền đi sát bờ như mọi khi?

Sau đó linh mục hiểu ra đây không phải là một tai nạn. Nhiều người đàn ông đeo mặt nạ nhảy sang thuyền của họ. Lodin lúc này cũng đã choàng dậy và tìm cách đứng lên thì lập tức bị đánh một nhát vào đầu, ngã xuống. Những người chèo thuyền không tìm cách bảo vệ họ hoặc chèo thuyền bỏ chạy. Elgstrand hiểu vụ tấn công này đã được lên kế hoạch.

– Jesuma, lạy Chúa! Linh mục kêu to. Chúng tôi là những người truyền đạo, chúng tôi không làm điều gì độc ác với các anh.

Bỗng một người đeo mặt nạ tiến lại gần. Trong tay người đó cầm một chiếc rìu hoặc là một chiếc búa. Ánh mắt của hai người gặp nhau.

– Hãy tha mạng cho chúng tôi! Elgstrand cầu xin.

Người đàn ông tháo mặt nạ ra. Tuy trời tối, nhưng Elgstrand lập tức nhận ra chính Sáng đang đứng ngay trước mặt mình. Gương mặt của anh vô cảm khi giơ cao chiếc rìu giáng xuống đầu Elgstrand. Anh đẩy Elgstrand xuống sông và nhìn theo thân thể anh ta bị dòng nước cuốn đi. Một người trong số họ định cắt cổ Lodin, nhưng Sáng giơ tay ngăn lại.

– Hãy để anh ta sống. Tôi muốn còn lại ai đó để có thể thuật lại việc này.

Sáng cầm lấy túi đựng tiền và bước sang một trong những chiếc thuyền trên sông. Những người chèo thuyền cũng chuyển sang các thuyền còn lại. Chỉ còn lại Lodin ngất xỉu trên thuyền.

Dòng sông vẫn lặng lẽ trôi. Bọn cướp không để lại dấu vết nào.

Hôm sau người ta đã tìm thấy con thuyền cùng Lodin ngất xỉu trên đó. Lãnh sự Anh ở Phúc Châu nhận Lodin và đưa về trụ sở của họ cho tới khi linh mục khỏe trở lại. Khi Lodin đã vượt qua được cú sốc tồi tệ nhất, ông lãnh sự hỏi linh mục có nhận ra kẻ nào trong bọn cướp không. Lodin lắc đầu. Sự việc diễn ra quá nhanh, bọn cướp đều bịt mặt, anh không rõ điều gì xảy đến với Elgstrand.

Viên lãnh sự suy nghĩ rất lâu, vì sao chúng lại giữ lại mạng sống cho Lodin. Khi cướp bóc, bọn cướp trên sông hiếm khi để ai sống sót. Nhưng lần này lại có một trường hợp ngoại lệ khó hiểu.

Viên lãnh sự lập tức liên lạc với chính quyền của thành phố và báo cáo việc xảy ra. Quan tri phủ quyết định điều tra vụ này. Họ đã lần ra dấu vết của toán cướp tại một ngôi làng nằm ở phía Tây Bắc dòng sông. Vì tất cả bọn chúng đã bỏ trốn nên quan tỉnh trưởng quyết định trừng phạt gia đình chúng. Tất cả bị xử trảm còn ngôi làng biến thành tro bụi.

Sự việc xảy ra gây ảnh hưởng tồi tệ đến công việc truyền giáo. Linh mục Lodin rơi vào tình trạng suy sụp và không dám rời khỏi lãnh sự quán Anh. Phải rất lâu sau tình trạng của Lodin mới khá hơn và có thể trở về Thụy Điển. Những người chịu trách nhiệm ở Thụy Điển đã phải đi đến một quyết định khó khăn, trước mắt không cử các nhà truyền giáo của hội sang Trung Quốc nữa. Mọi thành viên của hội đều biết giáo huynh Elgstrand của họ đã tử vì đạo, điều này người ta cũng đã phải tính đến trong công việc của mình. Giá như Lodin hoàn toàn bình phục trở lại, có khả năng tiếp tục làm việc thì chắc mọi việc sẽ tiến triển khác. Nhưng đối với một người đàn ông chỉ còn biết khóc lóc và hầu như không dám ra khỏi nhà, thì người ta không còn dám trông cậy vào anh ta được nữa.

Trạm truyền giáo vì thế bị đóng cửa. Mười chín người Trung Quốc đã cải đạo nhận được lời khuyên tìm đến các trạm truyền giáo của người Đức hoặc người Mỹ nằm dọc sông Mân.

Không còn ai quan tâm đến bản báo cáo của Elgstrand về công việc truyền giáo nữa và nó được xếp vào hồ sơ lưu trữ.

Mấy năm sau khi Lodin đã trở về Thụy Điển, có một người Trung Quốc ăn mặc sang trọng cùng với một vài người hầu đến Quảng Châu. Đó là Sáng. Anh trở lại thành phố sau thời gian ẩn náu ở Vũ Hán.

Dọc đường Sáng đã dừng chân ở Phúc Châu. Trong khi để những người theo hầu ở lại nhà trọ, anh đến bãi sông, nơi anh trai anh, Kỳ và Lưu được chôn cất. Anh thắp hương cho những người đã chết, thì thầm kể cho họ nghe về cuộc sống hiện nay của mình. Anh không nhận được một câu trả lời nào, nhưng tin chắc là họ đã nghe thấy mình.

Ở Quảng Châu, Sáng thuê một ngôi nhà nhỏ nằm ở rìa thành phố, cách xa các khu tô giới nước ngoài và những khu phố có nhiều người nghèo. Anh sống một cuộc đời thanh đạm và ít giao du. Anh sống bằng tiền lãi và dành thời gian học hành. Anh lịch sự với mọi người, nhưng tránh giao tiếp với những người khác khi không cần thiết.

Nhà anh luôn sáng đèn tới tận khuya. Sáng tiếp tục viết câu chuyện về cuộc đời mình kể từ ngày cha mẹ anh tự tử. Anh hoàn toàn không bỏ qua một sự kiện nào. Sáng không cần phải làm lụng để kiếm tiền nữa. Số tiền anh tìm thấy trong chiếc túi xách của linh mục Elgstrand thừa đủ để anh sống cuộc đời như hiện nay.

Ý nghĩ đây là số tiền của hội truyền giáo làm cho anh thấy mãn nguyện. Đó là sự báo thù cho việc anh đã bị những người theo Cơ Đốc giáo này lừa gạt một thời gian dài, những người muốn thuyết phục anh tin rằng có một vị Thượng đế công bằng đối xử với tất cả mọi người như nhau.

Nhiều năm trôi qua cho đến khi Sáng gặp được một người đàn bà mới. Vào một ngày, trong một chuyến đi vào thành phố, anh nhìn thấy hai cha con một cô gái trên phố. Anh đi theo sau họ và sau khi biết chỗ họ sống, anh sai người hầu tin cậy nhất của mình tìm hiểu về nhà họ. Anh được biết người cha là một công chức nhỏ làm việc trong dinh quan lớn, anh hy vọng rằng người cha sẽ thấy anh là một đám môn đăng hộ đối. Anh thận trọng tìm cách làm quen với ông và mời ông tới một trong những trà quán sang trọng bậc nhất ở Quảng Châu. Một thời gian sau, anh được ông mời đến thăm tệ xá của mình, và đây cũng là lần đầu anh đứng đối diện với người con gái tên Chi ấy. Anh thấy vừa lòng với cô gái và sau khi đã mạnh dạn hơn một chút, cô tỏ ra là một cô gái thông minh.

Một năm sau, tháng Năm năm 1881, lễ cưới của họ được tiến hành. Tháng Ba năm 1882, con trai họ ra đời, được đặt tên là Quốc Sĩ. Sáng ngắm nhìn thằng bé không biết chán và lần đầu tiên, sau bao nhiêu năm trời, anh cảm thấy hạnh phúc.

Nhưng không vì thế mà nỗi căm thù của anh vơi đi. Anh hăng hái ủng hộ ngày càng tích cực hơn cho một hội kín hoạt động nhằm đánh đuổi bọn người da trắng ra khỏi đất nước Trung Hoa. Đói nghèo ở đất nước anh sẽ không bao giờ giảm đi, chừng nào bọn người da trắng xa lạ còn độc chiếm nguồn lợi tức buôn bán khổng lồ và khiến người Trung Quốc u mê trong nha phiến.

Thời gian trôi đi. Sáng già hơn, gia đình đông đúc hơn. Đêm đêm anh thường ở một mình trong phòng riêng, đọc lại những trang hồi ký đã viết và còn tiếp tục viết. Anh chỉ còn phải đợi những đứa con anh đủ lớn để đọc và hiểu được cuốn sách này.

Anh vẫn tiếp tục nhìn thấy bóng ma của đói nghèo lướt qua trên các đường phố Quảng Châu. Thời điểm vẫn chưa tới, anh nghĩ. Nhưng sẽ có một ngày, tất cả sẽ bị sóng thủy triều cuốn trôi.

Sáng vẫn sống một cuộc đời bình dị. Anh dành phần lớn thời gian cho con cái.

Nhưng anh không thôi tìm kiếm Di. Mỗi lần đi lang thang trong thành phố để tìm kiếm hắn, anh luôn mang theo con dao mài sắc, giấu trong áo.

òn trẻ, nếu ai đó bảo với bà rằng đến một ngày nào đó bà sẽ sưu tầm rượu vang, chắc chắn bà sẽ không tin. Bà không những phủ nhận khả năng này mà thậm chí còn phẫn nộ nữa. Trong thời gian học đại học ở Lund, bà cảm thấy gắn bó với nhóm cánh
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.