Vào một buổi tối mùa thu năm 1868, Sáng ngồi bên chiếc bàn nhỏ dưới ánh sáng của ngọn nến. Anh vất vả viết những nét chữ đầu tiên trong câu chuyện về cuộc đời của anh, của hai người anh em đã chết. Năm năm đã trôi qua từ khi Quốc Sĩ và anh bị Di bắt cóc, một năm đã trôi qua từ khi anh trở về Quảng Châu với bàn chân của Quốc Sĩ trong tay nải quần áo. Năm ngoái, anh đã đưa Elgstrand và Lodin đến Phúc Châu, đã trở thành người phụ việc tận tụy của họ và đã học viết ở một thầy giáo mà Lodin tìm cho anh.
Buổi tối hôm đó có gió lớn thổi quanh ngôi nhà nơi Sáng đang ngồi viết câu chuyện của mình lên giấy. Cầm bút lông trên tay, anh lắng nghe những tiếng động ở bên ngoài và cảm thấy mình như lại có mặt trên một con tàu.
Mãi rồi anh mới dần dần hiểu ra được mức độ của tất cả những gì đã xảy ra. Anh cố nhớ lại từng chi tiết để không bỏ sót điều gì. Mỗi khi có những ký tự hoặc những câu anh không biết, anh lại hỏi thầy giáo Bùi. Thầy Bùi khích lệ anh không nên để mất thời gian vì ông cảm thấy cuộc đời mình đã gần đi đến những ngày tháng cuối cùng.
Một câu hỏi cứ luôn theo bên Sáng, kể từ khi họ đến Phúc Châu và sống trong ngôi nhà mà Elgstrand và Lodin mua. Anh kể câu chuyện này cho ai? Anh sẽ không trở về ngôi làng của mình nữa, còn những người khác thì chẳng ai biết anh là ai.
Mặc dù vậy, anh vẫn cứ muốn viết. Nếu quả thật, có một đấng tạo hóa trị vì những người đang sống và những người đã chết, chắc chắn Người sẽ có cách để câu chuyện anh viết ra đến được tay một người muốn đọc nó.
Sáng bắt đầu viết, chậm rãi và khó nhọc trong khi trận gió lay động những bức tường. Anh khẽ đung đưa người trên chiếc ghế đẩu. Căn phòng nhanh chóng biến thành con tàu, mặt đất dưới chân anh tròng trành, chao đảo.
Anh đặt nhiều xếp giấy trên bàn. Giống như một con tôm dưới đáy sông, anh muốn tiến bằng cách giật lùi đến tận thời điểm mà anh nhìn thấy cha mẹ mình treo cổ trên cây. Nhưng anh lại muốn bắt đầu với chuyến đi đã đưa anh tới đây, chuyến đi vẫn còn đọng lại rõ ràng nhất trong ký ức của anh.
Khi đặt chân đến Quảng Châu, Elgstrand và Lodin tỏ ra vui mừng nhưng đồng thời cũng sợ hãi. Người đông như kiến, những mùi lạ lẫm và việc không thể hiểu được tiếng địa phương làm cho họ hoang mang. Họ được một nhà truyền giáo cũng là người Thụy Điển, tên là Tornas Hamberg đón chờ. Người Thụy Điển này làm việc cho một hội dịch và truyền bá Kinh Thánh của Đức. Ông Hamberg nhiệt tình tiếp đón họ và đưa họ đến ở nhà mình, trong tô giới Đức. Sáng đi theo họ như một gia bộc lặng lẽ. Anh chỉ đạo người làm khuân vác đồ đạc, giặt giũ quần áo cho hai nhà truyền giáo, phục vụ họ vào bất cứ thời gian nào trong ngày. Anh kín đáo lắng nghe tất cả những gì họ nói. Hamberg nói tiếng Trung khá hơn Elgstrand và Lodin. Để hai người có điều kiện luyện tập, ông Hamberg thường hay nói chuyện với họ bằng ngôn ngữ này. Qua kẽ hở của cánh cửa, anh nghe ông Hamberg hỏi Lodin xem hai người đã quen biết anh như thế nào. Sáng ngạc nhiên và bất bình khi nghe thấy ông ta nhắc nhở Lodin là không nên mù quáng tin tưởng vào một người hầu Trung Hoa.
Chưa bao giờ Sáng nghe một nhà truyền giáo nói một điều bất lợi về một người Trung Quốc. Tuy vậy anh vẫn tin rằng cả Elgstrand lẫn Lodin đều sẽ không nghe theo ý kiến của ông Hamberg. Hai người họ không giống ông ta.
Sau một vài tuần ráo riết chuẩn bị, họ rời khỏi Quảng Châu, đi dọc theo bờ biển và cuối cùng nhập vào sông Mân chạy tới Phúc Châu, thành phố của “Chùa trắng”. Hamberg đã viết một lá thư giới thiệu họ với quan tri phủ. Ông này đã tỏ ra rất vui vẻ với hai nhà truyền giáo Cơ Đốc. Sáng ngạc nhiên khi thấy Elgstrand và Lodin đã không do dự quỳ xuống, đập trán lên sàn nhà trước mặt quan lớn. Họ được quan lớn cho phép hoạt động trong thành phố, và sau một vài lần tìm kiếm họ đã tìm được một nơi ở phù hợp với mục đích của mình. Đây là một dinh thự có tường rào vây quanh với nhiều nhà ngang dọc.
Vào hôm dọn đến ở, Elgstrand và Lodin đã quỳ xuống cầu phước cho dinh thự là tương lai của họ. Sáng cũng quỳ xuống, nhưng không cầu khấn gì. Anh nghĩ đến bàn chân của Quốc Sĩ vẫn chưa được chôn cất.
Phải mất vài tháng anh mới chọn được một chỗ gần sông, nơi mặt trời buổi chiều chiếu sáng trên những ngọn cây và mảnh đất đó dần dần nằm trong bóng râm. Sáng đến thăm nơi này nhiều lần và cảm thấy bình yên khi ngồi ở đó, tựa lưng vào một thân cây. Con sông lặng lẽ tuôn chảy qua các cánh đồng. Ngay cả lúc này, trong tiết thu, hoa vẫn nở dọc bờ sông.
Nơi đây, Sáng có thể đến trò chuyện với các anh em của mình. Nơi đây, anh sẽ được gần họ. Nơi đây, họ sẽ được đoàn tụ. Ranh giới giữa người chết và người đang sống sẽ không còn nữa.
Vào một buổi sáng sớm, khi không có ai để ý, anh đi xuống phía sông, đào một cái hố sâu và chôn bàn chân cùng ngón tay cái của Lưu vào đó. Anh cẩn thận lấp đất, xóa mọi dấu vết rồi sau đó đặt lên trên một hòn đá mà anh đã mang theo trong cuộc hành trình dài qua hoang mạc châu Mỹ.
Sáng ngẫm nghĩ không biết có nên đọc một bài kinh cầu nguyện mà anh đã học được ở hai nhà truyền giáo hay không. Nhưng vì Vũ, ở một phương diện nào đó cũng đang ở đây, lại chưa hề biết đến đức Chúa trời mà lời kinh này hướng tới, nên anh chỉ nhắc tới tên của họ. Anh cho linh hồn của họ những đôi cánh và để họ bay đi về nơi ấy.
Elgstrand và Lodin có nghị lực đáng ngạc nhiên. Sáng khâm phục sự bền bỉ vượt qua mọi cản trở, lôi kéo được nhiều người giúp đỡ trong việc xây dựng trạm truyền giáo của họ. Đương nhiên là họ cũng có tiền, bớt được nhiều khó khăn trong công việc. Elgstrand đã ký được hợp đồng với một công ty vận tải đường biển của Anh, đều đặn cập cảng Phúc Châu, chuyển tiền từ Thụy Điển sang cho họ. Sáng ngạc nhiên thấy rõ ràng là những nhà truyền đạo này không sợ bọn kẻ cắp, bọn người không do dự giết chết họ để chiếm đoạt tài sản. Elgstrand cất tiền và tín phiếu ở dưới gối. Nếu Elgstrand và Lodin không có mặt ở nhà, Sáng sẽ là người chịu trách nhiệm về việc này.
Một lần Sáng đã bí mật đếm số tiền để trong một chiếc cặp da nhỏ. Anh ngạc nhiên thấy quá nhiều. Nỗi thèm khát trỗi dậy trong anh trong giây lát: cầm lấy số tiền này và bỏ trốn. Với số tiền này, anh có thể đến Bắc Kinh sống cuộc đời của kẻ giàu có bằng số tiền lãi.
Ý định này biến mất khi anh nghĩ đến Quốc Sĩ và sự quan tâm, tấm lòng bác ái mà hai nhà truyền đạo đã dành cho Sĩ trong những ngày cuối cùng của anh ấy.
Bản thân anh cũng đang có một cuộc sống mà trước đây anh không bao giờ dám mơ tới. Anh có phòng riêng với một chiếc giường, quần áo sạch sẽ, luôn luôn có cái ăn. Trong khi trước đây anh đứng ở nấc thang cuối cùng thì bây giờ anh phụ trách tất cả người hầu kẻ hạ đang làm việc trong ngôi nhà này. Anh đối xử với họ nghiêm khắc nhưng không bao giờ trừng phạt họ về thể xác.
Một vài tuần sau khi đến đây, Elgstrand và Lodin đã mở rộng cửa, mời mọi người vào nhà. Họ là những người tò mò, muốn được nghe những người da trắng xa lạ này rao giảng cái gì. Người đến rất đông, thậm chí còn phải đứng ở ngoài sân. Sáng đứng ở phía sau hậu trường nghe Elgstrand dùng vốn tiếng Trung còn hạn chế của mình nói về đức Chúa trời lạ thường, đã cho người con trai của mình xuống trần gian chịu đóng đinh trên cây thánh giá. Lodin đi vòng quanh phân phát những bức ảnh màu, chúng được truyền tay nhau.
Khi Elgstrand nói xong, mọi người trên sân vội vàng giải tán. Nhưng ngày hôm sau mọi việc lại lặp lại, mọi người lại đến và kéo theo những người mới. Cả thành phố đâu đâu cũng nghe người ta nói về hai người đàn ông da trắng kỳ lạ đã đến an cư ở đây cùng với họ. Điều mà những người Trung Quốc thấy khó hiểu nhất là Elgstrand và Lodin tới đây không phải để buôn bán, họ không mua gì, cũng chẳng bán gì. Họ chỉ đứng đó dùng thứ tiếng Trung còn chưa sõi nói về Thượng đế của mình, Người luôn đối xử công bằng với tất cả mọi người.
Những cố gắng của hai nhà truyền đạo trong thời gian đầu không biết đến giới hạn. Trên cổng lối vào sân nhà được gắn những chữ Trung Quốc mang ý nghĩa “Giáo đường của Thượng đế chân chính”. Hình như hai người đàn ông này không ngủ, họ luôn luôn bận rộn. Đôi khi Sáng nghe họ sử dụng tiếng Trung Quốc để biểu lộ thái độ “cần phải đấu tranh chống lại sự sùng bái thấp hèn”. Sáng tự hỏi làm thế nào mà họ lại có thể hy vọng thuyết phục được những người Trung Quốc bình thường từ bỏ đức tin họ đã có từ nhiều thế hệ nay. Một Thượng đế đã để con mình phải chịu đóng đinh trên cây thập giá thì làm sao có thể đem đến cho những người Trung Quốc nghèo khổ niềm an ủi tinh thần hoặc nghị lực được chứ?
Từ ngày đến thành phố, Sáng có quá nhiều việc phải làm. Khi Elgstrand và Lodin tìm được ngôi nhà phù hợp với mục đích của họ, nhiệm vụ của Sáng là tuyển người làm. Do có quá nhiều người tự tìm đến xin việc, nên Sáng chỉ cần phải lựa chọn dựa vào sự tinh ý của mình.
Một vài tuần sau khi dọn đến ở trong khu nhà này, như mọi buổi sáng khác, Sáng ra mở cánh cổng gỗ nặng nề thì thấy có một người phụ nữ đứng trước mặt mình. Cô ta cúi đầu và nói tên mình là Lạc Kỳ. Cô đến từ một làng nhỏ bên sông Mân gần Thủy Khẩu. Bố mẹ cô rất nghèo và cô đã phải bỏ làng đi khi biết bố muốn bán cô làm vợ lẽ cho một lão già gần bảy mươi tuổi ở Nam Xương. Cô đã van xin bố thương mình và nói cho bố biết người đàn ông đó trước đây từng đánh chết một vài cô vợ bé khi đã chán họ. Nhưng bố cô không nhượng bộ nên cô bỏ trốn. Một nhà truyền giáo người Đức đi ngược dòng sông lên tới vùng Gousihan, đã kể cho cô nghe về trạm truyền giáo ở Phúc Châu, nơi cô có thể nương nhờ.
Sáng nhìn cô gái một hồi lâu, rồi anh hỏi xem cô biết làm gì và để cô vào. Anh cho cô nhận thử việc phụ bếp. Nếu cô làm được, có thể anh sẽ giao việc cho cô.
Niềm vui hiện lên trên khuôn mặt cô làm cho anh cảm động. Anh chưa bao giờ mơ tới sẽ có ngày mình có khả năng này: làm cho người khác được vui nhờ vào công việc mà anh giao cho người đó, tìm cho người đó một lối thoát khỏi cảnh nghèo đói triền miên.
Kỳ đã qua được đận thử việc, Sáng giữ cô ở lại. Cô sống chung với mấy cô giúp việc trong trạm, và không bao lâu đã được mọi người quý mến vì bản chất hiền hậu của mình. Cô chưa bao giờ tìm cách lẩn tránh công việc. Sáng thích được nhìn thấy cô khi cô làm việc trong bếp hoặc khẩn trương với một công việc nào đó trên sân. Thỉnh thoảng ánh mắt của hai người lại giao nhau.
Vào một ngày trước lễ Giáng sinh, Elgstrand bảo Sáng thuê một chiếc thuyền và một đội chèo thuyền. Họ phải xuôi theo dòng sông, cập mạn một con tàu vừa từ Luân Đôn tới. Elgstrand nhận được tin báo của lãnh sự Anh ở Phúc Châu, trên tàu có một kiện hàng gửi cho trạm truyền giáo.
– Tốt nhất là anh cũng đi! Elgstrand cười. Khi phải đi nhận một túi đầy tiền như vậy, tôi cần đến người đàn ông tốt nhất của mình.
Sáng tìm được một đội chèo thuyền ở bến cảng. Ngày hôm sau, anh và Elgstrand lên thuyền. Sáng nói thầm với linh mục rằng tốt hơn là không nói cho những người này biết mình đến tàu đó để lấy gì.
Elgstrand cười:
– Đúng là tôi hơi ngây thơ, nhưng không đến nỗi thế đâu.
Đội chèo thuyền phải mất ba tiếng đồng hồ mới cập được mạn tàu và neo lại ở đó. Elgstrand và Sáng leo thang dây lên tàu. Một thuyền trưởng hói đầu tên là John Dunn đón tiếp họ. Ông ta quan sát những người chèo thuyền với vẻ cực kỳ không tin tưởng. Rồi ông ta nhìn Sáng với cái vẻ cũng như vậy rồi bình phẩm gì đó mà Sáng không hiểu. Elgstrand lắc đầu và giải thích với Sáng rằng thuyền trưởng Dunn không có nhiều thiện cảm với người Trung Quốc.
– Ông coi tất cả các anh đều là những tên trộm cướp lừa đảo, Elgstrand nói và cười to. Đến một lúc nào đó ông ta sẽ hiểu ra là mình đã lầm.
Dunn và Elgstrand biến mất vào trong buồng của thuyền trưởng. Một lúc sau Elgstrand trở ra cầm theo một chiếc cặp da, đưa nó cho Sáng vẻ muốn chứng minh:
– Thuyền trưởng Dunn xem tôi như là một thằng ngốc điên rồ khi tin tưởng anh. Thật buồn khi phải nói thế này nhưng thuyền trưởng Dunn là một người thô lỗ. Ông ấy rất am hiểu về thuyền bè, biển cả và những cơn gió, nhưng lại chẳng hiểu gì về con người cả.
Hai người tụt theo thang dây xuống thuyền và trở về nhà. Khi về tới nơi, trời đã tối, Sáng trả tiền công cho người đội trưởng. Khi đi qua những con hẻm tối tăm, Sáng cảm thấy bất an. Anh cứ nghĩ đến buổi tối ở Quảng Châu khi Di đã nhử anh em anh vào bẫy. Nhưng hôm nay hoàn toàn không xảy ra chuyện gì. Elgstrand đem theo chiếc cặp đi vào phòng mình. Sáng chốt cánh cổng và đánh thức người gác đang tựa lưng vào tường ngủ gà ngủ gật.
– Anh được trả công để canh gác, chứ không phải để ngủ, anh nói giọng trách mắng.
Mình là cai thợ đang phải canh chừng khu nhà, Sáng nghĩ. Mình không ngồi cao trên lưng ngựa như JA. Ngoài ra mình cũng ngủ như một con chó canh gác, một mắt luôn mở.
Anh rời cổng đi về phía phòng mình. Dọc đường anh nhìn thấy phòng của đám phụ nữ còn sáng đèn. Anh nhíu mày bởi ở đây buổi tối cấm đốt nến vì có nguy cơ hỏa hoạn rất lớn. Anh bước đến gần bên cửa sổ, nhìn qua kẽ rèm vào bên trong. Có người ở trong phòng này. Bà lớn tuổi nhất đang ngủ, trong khi Kỳ và cô gái khác có tên là Na ngồi trên giường nói chuyện với nhau. Trên bàn có chiếc đèn cầy. Buổi tối nóng nực nên Kỳ đã cởi bớt cúc áo. Sáng nhìn vào thân thể cô như người bị phù phép. Anh không nghe được tiếng cô nói và đoán rằng cô phải nói thầm để không làm người phụ nữ kia tỉnh giấc.
Bất ngờ Kỳ quay mặt ra hướng cửa sổ. Sáng giật mình lùi lại. Cô có nhìn thấy anh không? Anh chờ đợi trong bóng tối. Kỳ không kéo rèm cửa lại. Sáng lại đến bên cửa sổ và đứng ở đó cho tới khi Na thổi tắt đèn và căn phòng chìm trong bóng tối.
Sáng đứng im. Một trong những con chó gác đêm chạy đến bên anh, đưa mũi ngửi bàn tay anh.
– Tao không phải là kẻ trộm, Sáng thầm thì nói với nó. Tao chỉ là một thằng đàn ông bình thường, đang thích một người con gái. Có thể một ngày nào đó cô ấy sẽ trở thành vợ của tao cũng nên.
Từ tối hôm đó, Sáng tìm cách gần gũi với Kỳ. Anh thận trọng để không khiến Kỳ sợ. Và anh cũng không muốn để những cô gái khác nhận ra sự quan tâm của anh dành cho Kỳ. Thói ghen tị dễ bắt lửa và lan rộng trong đám gia nhân.
Cũng phải mất khá lâu Kỳ mới hiểu được những dấu hiệu mà Sáng kín đáo gửi đến cô. Họ bắt đầu gặp nhau vào buổi đêm trước căn phòng của cô, sau khi Na hứa không nói cho ai biết chuyện này và cô đã nhận được một đôi giày cho sự im lặng của mình. Cuối cùng, sau hơn nửa năm, có những đêm Kỳ đã ở lại trong phòng Sáng. Khi nằm cạnh cô, Sáng cảm thấy một niềm vui nhen nhóm, nó xua đi hết thảy những bóng đen và những ký ức đắng cay thường ám ảnh anh.
Đối với Sáng và Kỳ, họ muốn chung sống với nhau, không có gì phải hoài nghi nữa.
Sáng quyết định nói chuyện này với Elgstrand và Lodin, đề nghị họ cho phép mình được cưới Kỳ. Anh đến gặp hai người vào một buổi sáng sau bữa điểm tâm, trước khi họ bắt tay vào làm việc. Anh nói cho hai người đó biết lý do anh đến gặp họ. Lodin im lặng trong khi Elgstrand nói.
– Tại sao anh lại muốn cưới cô ấy?
– Cô ấy là người tử tế, ân cần và làm việc chăm chỉ.
– Cô ấy là một phụ nữ rất bình thường và hoàn toàn không hiểu được những gì anh đã học. Cô ấy không tỏ ra quan tâm đến thông điệp của Chúa Trời.
– Cô ấy còn quá trẻ.
– Nghe nói cô ấy ăn cắp.
– Bọn người hầu hạ tung tin bậy. Chẳng từ một ai. Người này vạch lỗi của người khác. Tôi biết cái gì là đúng, cái gì không. Kỳ không ăn cắp.
Elgstrand quay sang Lodin. Hai người nói chuyện với nhau bằng ngôn ngữ của họ nên Sáng không hiểu được.
– Quan điểm của chúng tôi là anh hãy nên chờ đã, Elgstrand nói. Nếu hai người muốn cưới nhau thì phải làm lễ nhà thờ. Hai người sẽ là những người đầu tiên ở đây được chúng tôi tổ chức một lễ cưới như thế. Nhưng cả hai còn chưa sẵn sàng. Chúng tôi muốn hai người hãy khoan cưới vội.
Sáng cúi chào rồi rời khỏi phòng. Anh rất thất vọng nhưng dù sao thì đó cũng chưa phải là một lời từ chối dứt khoát. Sẽ có ngày anh và Kỳ nên vợ nên chồng.
Một vài tháng sau, Kỳ nói cho Sáng biết là mình có thai. Sáng thầm reo lên vui sướng và lập tức quyết định, đứa trẻ, nếu là con trai, sẽ được đặt tên là Quốc Sĩ. Đồng thời anh cũng hiểu rằng tình trạng mới này sẽ có thể gây rắc rối lớn. Trong những bài giảng hằng ngày của Elgstrand và Lodin trước mọi người ở sân trạm truyền giáo, có những điều được nhắc đi nhắc lại thường xuyên. Đạo Cơ Đốc đưa ra nhiều đòi hỏi nghiêm khắc đối với mọi người, ví dụ phải kết hôn rồi mới được sinh con. Ăn nằm với nhau trước khi cưới được xem như một trọng tội. Sáng suy nghĩ rất lâu nhưng không biết phải làm sao. Cái bụng đang dần to lên nhưng vẫn giấu được trong một thời gian nữa. Tuy nhiên Sáng cần phải hành động trước khi sự thật được phơi bày.
Một hôm, Sáng nhận được thông báo là cần một đội chèo thuyền để đưa Lodin đến thăm trạm truyền giáo do các nhà truyền giáo người Đức xây dựng ở thượng nguồn sông. Trong những chuyến đi thuyền như thế này trước đây, bao giờ Sáng cũng cùng đi. Chuyến đi dự tính sẽ kéo dài bốn ngày. Trước chuyến đi, Sáng đến chia tay với Kỳ vào buổi tối và hứa sẽ tranh thủ khoảng thời gian này để tìm ra giải pháp cho vấn đề của họ.
Bốn ngày sau, khi cùng Lodin trở về, anh lập tức được gọi đến gặp Elgstrand. Linh mục muốn nói chuyện với anh. Elgstrand ngồi trong văn phòng bên bàn làm việc của mình. Thường thì linh mục bảo Sáng ngồi xuống ghế, nhưng lần này linh mục không làm vậy. Sáng đoán đã có chuyện gì đó xảy ra.
Giọng nói của Elgstrand mềm mỏng hơn mọi lần:
– Chuyến đi thế nào?
– Đúng như dự kiến.
Elgstrand gật đầu ngẫm nghĩ và nhìn Sáng như dò xét.
– Tôi thất vọng, linh mục nói. Suốt một thời gian dài, tôi muốn tin rằng tin đồn kia là vô căn cứ. Nhưng cuối cùng tôi đã buộc phải hành động. Anh có hiểu tôi nói về chuyện gì không?
Sáng đã hiểu ra. Nhưng anh phủ nhận.
– Điều này lại càng khiến tôi thất vọng hơn nữa, Elgstrand nói. Khi một người nói dối, thì quỷ sứ đã làm tổ trong tâm hồn người đó rồi. Đương nhiên là tôi muốn nói đến chuyện người đàn bà mà anh định lấy làm vợ đã có thai. Bây giờ, một lần nữa, tôi cho anh cơ hội để nói ra sự thật.
Sáng cúi đầu, không trả lời. Anh thấy tim mình đập dữ dội.
– Đây là lần đầu tiên kể từ khi chúng ta gặp nhau trên tàu, tôi nghi ngờ anh, Elgstrand tiếp tục nói. Anh thuộc vào những người cho tôi và giáo huynh Lodin của tôi cảm giác rằng người Trung Quốc cũng có thể đạt tới một trình độ trí tuệ cao. Những ngày vừa qua thật nặng nề, tôi đã cầu nguyện cho anh và quyết định anh vẫn được ở lại đây, nhưng cần phải nỗ lực chăm chỉ hơn nữa, cố gắng hơn nữa, để đến một lúc nào đó có thể nói rằng anh đã tin theo đức Chúa trời chung của chúng ta.
Sáng cúi đầu đứng đó, chờ đợi những lời tiếp theo, nhưng không có gì nữa.
– Vậy thôi, Elgstrand nói. Giờ thì anh hãy đi làm đi.
Ra đến gần cửa, anh nghe tiếng Elgstrand ở phía sau:
– Đương nhiên là anh hiểu, cô Kỳ không thể ở lại đây. Cô ấy đã rời bỏ chúng ta.
Người Sáng như tê dại khi anh bước ra ngoài sân. Cảm giác ấy tương tự như khi Quốc Sĩ chết. Anh tìm Na, túm chặt lấy tóc cô lôi ra khỏi bếp. Đây là lần đầu tiên Sáng dùng bạo lực đối với một người hầu gái. Na thét lên và lăn ra đất. Sáng sớm hiểu ra, người bép xép chuyện này không phải là cô. Người hầu gái lớn tuổi đã nghe được Kỳ tâm sự với Na. Sáng cố kiềm chế để không đi tìm người đã tố giác chuyện này. Nếu làm vậy anh cũng phải rời khỏi trạm truyền giáo. Anh đưa Na đến phòng ở của mình và bảo cô ngồi xuống chiếc ghế đẩu.
– Kỳ đâu?
– Chị ấy đã bỏ đi cách đây hai ngày.
– Bỏ đi đâu?
– Em không biết. Chị ấy rất buồn. Đã bỏ chạy.
– Cô ấy phải nói mình đi đâu chứ?
– Em nghĩ chị ấy cũng không biết mình phải đi đâu. Em nghĩ chị ấy đi ra sông chờ anh về.
Sáng vùng đứng dậy, chạy ra khỏi phòng, qua cổng, chạy xuống bến cảng. Nhưng anh không thấy Kỳ đâu cả. Anh tìm cô suốt cả một ngày, gặp ai cũng hỏi, nhưng không một ai nhìn thấy cô. Anh nói chuyện với nhóm thợ chèo thuyền. Họ hứa sẽ báo tin cho anh biết khi nào Kỳ xuất hiện.
Khi quay về trạm truyền giáo, anh gặp Elgstrand nhưng hình như người này đã quên chuyện xảy ra. Anh ta đang chuẩn bị cho buổi dâng Thánh lễ được tiến hành vào ngày hôm sau.
– Anh không nghĩ là sẽ phải dọn sân cho sạch sẽ hay sao? Elgstrand niềm nở hỏi.
– Tôi sẽ lo việc dọn dẹp vào sáng sớm ngày mai trước khi khách khứa đến.
Elgstrand gật đầu. Sáng cúi đầu chào. Hiển nhiên, Elgstrand cho rằng Kỳ đã phạm tội xấu xa không còn có thể cứu giúp được nữa.
Sáng không hiểu nổi tại sao người ta lại không thể được tha thứ chỉ vì đã yêu thương một người khác.
Anh nhìn sang Elgstrand và Lodin đang đứng nói chuyện với nhau trước phòng làm việc ở trạm truyền giáo.
Anh thấy dường như đến lúc này, anh mới nhìn đúng về họ.
Hai ngày sau, Sáng nhận được tin báo của một người bạn ở cảng. Anh vội vàng chạy đến đó và phải chen qua một đám người rất đông. Kỳ nằm trên một tấm ván. Một sợi xích sắt nặng cuốn quanh bụng, vậy mà cô vẫn nổi từ đáy sâu lên mặt nước. Một người dân chài đã tìm thấy cô mắc vào mái chèo của anh ta. Làn da cô nhợt nhạt, hai mắt nhắm nghiền. Chỉ có Sáng mới biết trong bụng cô còn có một đứa trẻ.
Một lần nữa, Sáng lại chỉ có một mình trên cõi đời.
Anh đưa cho người bạn báo tin một ít tiền đủ để thiêu xác cô. Hai ngày sau, anh đem tro cốt cô chôn bên cạnh Sĩ và Lưu.
Đó là những gì mà ta làm trong cuộc đời này, anh đắng cay nghĩ. Ta đã dựng một nghĩa trang cho riêng mình và dần lấp kín chỗ cho nó. Ở đây đã yên nghỉ phần còn lại của bốn con người, trong đó có một đứa trẻ chưa được chào đời.
Anh quỳ gối đập đầu xuống đất nhiều lần. Nỗi buồn đau xâm chiếm tâm hồn anh, nỗi đau mà anh không thể chống trả được. Anh gào lên như một con thú điên cuồng. Chưa bao giờ anh cảm thấy bất lực như bây giờ. Anh, người đã có thời được xem như là có khả năng chăm lo cho những người anh em của mình, nay chỉ còn là cái bóng của một kẻ suy sụp.
Đêm khuya, khi anh trở về trạm truyền giáo, người gác trạm báo cho anh biết Elgstrand tìm anh. Sáng gõ cửa văn phòng nơi Elgstrand đang ngồi viết bên ngọn đèn.
– Tôi không thấy anh đâu cả, linh mục nói. Anh vắng mặt cả một ngày trời. Tôi đã cầu nguyện đức Chúa trời để không có chuyện gì xảy ra với anh.
– Không xảy ra chuyện gì cả, Sáng trả lời và cúi người xuống. Tôi chỉ bị đau răng chút ít và đi tìm lá đắp để chữa.
– Thế thì tốt. Không có anh chúng tôi không biết phải làm gì. Bây giờ thì anh hãy đi ngủ đi.
Sáng không nói cho Elgstrand và Lodin biết Kỳ đã tự tử. Một cô hầu gái mới được nhận vào làm. Sáng khóa kín nỗi đau của mình trong trái tim và tiếp tục là một người hầu không thay thế được của trạm truyền giáo suốt nhiều tháng nữa. Không bao giờ anh thổ lộ, dù chỉ là chút ít, về tình cảm của mình, không tiết lộ rằng bây giờ anh đã lắng nghe những nhà truyền giáo với một sự quan tâm hoàn toàn khác.
Thời gian này cũng là lúc anh học viết được nhiều nhất, anh tin là vậy, để rồi viết lại câu chuyện của anh và của hai người anh em. Anh vẫn còn chưa biết mình viết nó cho ai. Có thể chỉ cho gió. Nhưng nếu đúng là như vậy, anh cũng muốn bắt gió phải nghe.
Anh viết vào những lúc đêm khuya, ngủ ít hơn, để không vì thế mà chểnh mảng công việc của mình. Anh luôn tỏ ra niềm nở, sẵn sàng giúp đỡ, đưa ra những quyết định, chỉ dẫn cho những người hầu, tóm lại là làm tất cả để trợ giúp cho linh mục Elgstrand và Lodin trong công việc hoán cải tôn giáo của họ.
Một năm đã trôi qua kể từ khi họ đến Phúc Châu. Sáng thấy rõ rằng sẽ còn rất lâu nữa mới xây dựng được đất nước của Chúa mà hai nhà truyền đạo mơ ước. Sau mười hai tháng trời đã có mười chín người cải đạo và đón nhận ân huệ của Chúa.
Anh viết hết đêm này sang đêm khác, lần tìm trở về với cuộc bỏ trốn khỏi làng.
Một trong những nhiệm vụ của Sáng là dọn dẹp, lau chùi sạch sẽ văn phòng của Elgstrand. Không ai khác được phép bước vào căn phòng này. Vào một ngày, lúc Sáng đang thận trọng lau bàn ghế, phủi bụi trên đống giấy tờ trên mặt bàn, anh nhìn thấy một lá thư được Elgstrand viết bằng tiếng Trung Quốc gửi cho một người bạn truyền giáo của mình ở Quảng Châu, có lẽ vì Elgstrand muốn luyện tập tiếng Trung với người bạn đó.
Elgstrand thổ lộ với bạn:
“Những người Trung Quốc, như bạn biết, chăm chỉ làm việc đến lạ thường, chịu đựng nghèo khổ, như lừa, ngựa chịu đòn roi đánh đập. Nhưng ta không được phép quên rằng chúng cũng là những kẻ dối trá và lừa đảo, ranh mãnh và quỷ quyệt, kiêu ngạo và hám lợi, chúng còn mang trong mình thứ nhục dục đầy thú tính đôi khi làm cho tôi kinh tởm. Phần lớn chúng là những con người thấp hèn. Người ta chỉ có thể hy vọng, một ngày nào đó tình yêu của Chúa sẽ thâm nhập được vào sự tàn bạo khủng khiếp mà chúng đã được tôi rèn.”
Sáng đọc lại bức thư một lần nữa. Rồi anh làm xong công việc của mình và ra khỏi phòng.
Anh tiếp tục làm việc, xem như không có chuyện gì xảy ra, ban đêm lại tiếp tục viết, ban ngày thì nghe các nhà truyền giáo giảng đạo.
Vào một buổi tối mùa thu năm 1868, anh lặng lẽ rời khỏi trạm truyền giáo không để ai biết. Anh gói ghém số tài sản ít ỏi của mình trong một chiếc túi vải. Trời mưa bão lúc anh bỏ đi. Người gác đêm đang ngủ say, không hay biết Sáng đã trèo qua tường. Khi ra được bên ngoài cổng, anh giật tấm biển trên đó có dòng chữ viết “Giáo đường của Thượng đế chân chính”. Anh ném nó xuống vũng bùn.
Con đường vắng vẻ. Cơn mưa trút nước.
Bóng tối nuốt chửng anh và anh đã biến mất.