Một con thiêu thân vụt bay ra từ bóng tối, đập cánh loạn xạ quanh ngọn đèn bàn. Birgitta Roslin đặt chiếc bút sang một bên, ngả người ra sau ghế trong khi quan sát con thiêu thân cố gắng một cách vô ích để chui vào bên trong chiếc đèn sứ. Tiếng đập cánh của nó làm cho bà nhớ lại tiếng động từ thời còn nhỏ mà không thể nói chính xác đó là tiếng động gì.
Mỗi khi thấy mệt mỏi, ấy là lúc ký ức của bà được kích thích, trở nên đặc biệt rõ ràng, như lúc này. Những kỷ niệm không với tới được của quá khứ xa vời có thể xuất hiện từ một cõi hư vô như trong giấc ngủ.
Như con thiêu thân.
Bà nhắm mắt, đưa tay day day hai bên thái dương. Lúc này đã quá nửa đêm một vài phút. Đã hai lần bà nghe thấy tiếng người gác đêm đi kiểm tra khu nhà tòa án. Bà thích làm việc vào buổi tối, khi tòa nhà vắng người. Cách đây nhiều năm, ngày đó bà còn là một tập sự viên ở Varnamo, vào buổi tối, bà thường tới các phòng xử án vắng bóng người trong tòa án, thắp một vài ngọn đèn, ngồi lên ghế, lắng nghe sự tĩnh lặng. Khi ấy bà đã hình dung những phòng xử ấy như là một sân khấu nhà hát. Những dấu vết còn lại trên tường, những tiếng thì thầm gợi nhắc những hồi bi kịch của các phiên xử đã qua. Ở đây những tên giết người, những kẻ hiếp dâm, những tay trộm cướp đã bị kết án. Và những người đàn ông trong một hàng dài vô tận những phiên xử đánh mất quyền làm cha của mình. Những người khác lại được trắng án, tìm lại được phẩm cách.
Khi Birgitta Roslin nộp đơn xin vào làm ở tòa án, bà đã nhận được đề nghị làm tập sự viên ở Varnamo, khi ấy bà vẫn còn giữ ý định sẽ trở thành công tố viên. Nhưng bà đã dần tìm ra con đường cho mình, phần lớn là nhờ vào ấn tượng khó quên mà Anker, một thẩm phán cao tuổi, đã đem đến cho bà. Ông đã lắng nghe những người đàn ông trẻ tuổi, bằng những dối trá nhìn thấy rõ, tìm mọi cách kháng nghị quyền làm cha, rồi lắng nghe những kẻ bạo hành chai sạn không hề tỏ ra ăn năn về những tội ác của mình, với cùng thái độ kiên nhẫn giống nhau. Mọi việc giống như là ông muốn chỉ cho bà, một nữ tập sự trẻ, thấy rõ ngành tư pháp có một ý nghĩa như thế nào. Ở ông, Roslin đã được thấy rõ điều đó, không chỉ bằng lời nói mà cả trong hành động. Công lý có nghĩa là hành động. Khi rời khỏi Varnamo, bà đã quyết định trở thành thẩm phán.
Bà đứng dậy bước đến bên cửa sổ. Trên phố, một người đàn ông đang đứng đái bên một bức tường nhà. Ban ngày ở Helsingborg có tuyết rơi, một lớp bột tuyết mỏng lúc này đang xoáy tròn dọc theo đường phố. Trong khi lơ đễnh quan sát người đàn ông ở dưới tường, đầu óc bà tiếp tục nghĩ đến bản án mà bà đang thảo ra. Bà tự đặt cho mình thời hạn đến ngày hôm sau phải viết xong.
Người đàn ông dưới đường đã biến mất từ lúc nào. Birgitta Roslin quay trở lại bàn làm việc, cầm lấy cây bút. Bà đã nhiều lần thử soạn thảo các bản án trên máy tính, nhưng chưa bao giờ bà thành công. Dường như các phím bấm chạy trốn ý nghĩ của bà. Bà lại luôn phải quay về với cây bút của mình. Chỉ cho tới trước khi bản nháp được viết xong, được sửa chữa, thì màn hình máy tính vẫn kêu ro ro kiên nhẫn chờ đợi và tự động chuyển sang chế độ chờ với hình ảnh bể cá cùng đám cá vàng bơi lội tung tăng.
Bà cúi xuống mấy tờ giấy đầy những chỗ gạch xóa, bổ sung. Đây là một vụ án đơn giản với luận chứng thuyết phục, tuy thế nó lại khiến bà vô cùng khó nghĩ.
Bà muốn đưa ra một hình phạt, nhưng lại không thể.
Một nam giới và một phụ nữ gặp nhau trong một vũ trường ở Helsingborg. Người phụ nữ còn trẻ, gần như chưa tới hai mươi tuổi và đã uống quá nhiều. Người đàn ông quãng bốn mươi tuổi, hứa đưa cô về nhà và chỉ uống một cốc nước trong căn hộ của cô ta. Cô gái ngủ thiếp đi trên tràng kỷ. Người đàn ông đã hiếp cô gái khi cô chưa tỉnh ngủ rồi bỏ đi. Sáng hôm sau cô gái chỉ còn lờ mờ nhớ sự việc đã xảy ra vào đêm hôm trước trên tràng kỷ. Cô ta đến bệnh viện khám và nhận được giấy xác nhận mình đã bị hiếp dâm. Sau một cuộc điều tra cẩn thận của cảnh sát, người đàn ông đó bị đưa ra tòa. Phiên tòa được tiến hành một năm sau ngày xảy ra vụ cưỡng dâm. Birgitta Roslin ngồi ghế thẩm phán. Bà quan sát cô gái. Bà đọc được trong tài liệu điều tra sơ bộ cho thấy cô gái này làm nhân viên phụ quầy thu tiền ở nhiều siêu thị khác nhau. Trong bản khai về nhân thân cho thấy cô là người uống quá nhiều rượu bia. Ngoài ra cũng đã nhiều lần ăn cắp vặt, bị đuổi việc vì làm việc không cẩn thận.
Người đàn ông bị khởi tố lại rất khác cô gái trên nhiều phương diện. Anh ta làm môi giới bất động sản chuyên về các cửa hàng buôn bán, có danh tiếng tốt, chưa lập gia đình và có thu nhập cao. Anh ta chưa có tiền án. Nhưng Birgitta Roslin có cảm giác đã nhìn thấu anh ta trong bộ com lê đắt tiền được là ủi cẩn thận. Với bà, không có gì phải nghi ngờ: anh ta đã hiếp dâm cô gái khi cô ngủ thiếp đi trên tràng kỷ. Xét nghiệm ADN đã đưa ra bằng chứng anh ta có quan hệ tình dục với cô gái. Nhưng anh ta phủ nhận việc lạm dụng và mọi hình thức bạo lực. Cô gái đã đồng ý. Không những anh ta mà cả luật sư bào chữa cũng nói như vậy. Birgitta Roslin biết viên luật sư đến từ Malmö này qua các vụ trước đây. Ông ta có thể dùng những lý lẽ trơ trẽn nhất để bào chữa cho thân chủ của mình. Toàn bộ sự việc này như rơi vào ngõ cụt. Lời khai đối lại lời khai, một người môi giới bất động sản có uy tín chống lại một cô thu ngân nghiện rượu đúng là đã cho anh ta vào nhà mình giữa đêm khuya.
Bà phẫn nộ vì không thể buộc tội được anh ta. Bà có cố bám vào nguyên tắc cơ bản là tuyên bố trắng án tốt hơn là kết án trong các trường hợp người ta không biết phải quyết định như thế nào cũng vô ích, bà không thể nào ngăn được ý nghĩ rằng trong vụ này, một kẻ mắc tội lạm dụng tồi tệ nhất đối với người khác sẽ được thoát tội. Bà không thể bấu víu vào điều luật nào, không có khả năng diễn giải cáo trạng của công tố viên theo cách nào khác: người đàn ông phải được trắng án.
Liệu trong trường hợp này, ông thẩm phán Anker thông minh có thể làm được gì? Ông có thể cho bà một lời khuyên như thế nào? Chắc chắn ông ấy cũng sẽ chia sẻ quan điểm của mình, bà thầm nghĩ. Một kẻ có tội sẽ được tuyên bố trắng án. Chắc chắn ông già Anker cũng sẽ phẫn nộ như mình thôi. Và ông cũng sẽ im lặng như mình. Đó chính là sự hành hạ, giày vò của người thẩm phán, rằng chúng tôi phải tuân thủ pháp luật và miễn cưỡng không trừng phạt một kẻ có tội và thả hắn ra. Còn cô gái, không hẳn đã là một con chiên vô tội, sẽ phải sống trong sự bất công ưu phiền.
Bà đứng dậy đến nằm trên chiếc sofa trong phòng làm việc của mình. Bà đã mua nó bằng tiền riêng thay cho chiếc ghế bành không tiện lợi, nhưng thuộc trang bị tiêu chuẩn của tòa án. Ông thẩm phán già đã dạy cho bà một mẹo: cầm trong tay chùm chìa khóa rồi nhắm mắt lại. Khi chùm chìa khóa tuột khỏi tay rơi xuống sàn nhà là đã đến lúc phải thức dậy. Bà cần phải nằm nghỉ ngơi một lúc. Rồi sau đó sẽ viết cho xong bản án, trở về nhà và ngày hôm sau sẽ viết lại nó thật sạch sẽ. Bà đã xem rất kỹ hồ sơ và không thể là một bản án nào khác ngoài lời tuyên bố trắng án.
Bà chìm vào giấc ngủ và mơ thấy người cha mà bà không có lấy một kỷ niệm nào về ông. Ông là thợ máy tàu thủy. Trong một trận bão lớn giữa tháng Giêng năm 1949, chiếc tàu thủy chạy bằng động cơ hơi nước Runskär đã bị đánh chìm trong vịnh Gavle cùng với toàn bộ thủy thủ đoàn. Xác của ông không được tìm thấy. Birgitta Roslin còn chưa ra đời khi xảy ra sự kiện đắm tàu ấy. Hình ảnh về người cha mà bà có được là nhờ những tấm ảnh. Nhất là tấm chụp người cha với mái tóc rối bù vì gió, ống tay áo xắn cao, đứng bên cạnh lan can tàu. Ông đang cười với ai đó trên bến tàu, có lẽ là với người thủy thủ chụp tấm ảnh này cho ông. Mẹ của bà kể cho bà nghe như vậy. Nhưng Birgitta Roslin lại luôn tưởng tượng rằng mình chính là người mà bố nhìn, mặc dù bức ảnh này được chụp trước khi bà được sinh ra. Người cha thường trở về trong những giấc mơ của bà. Lúc này ông lại mỉm cười với bà giống như trong tấm ảnh, rồi lại biến mất như thể bị một lớp sương mù xô tới làm cho ông trở nên vô hình.
Bà giật mình thức giấc. Ngay lập tức, bà biết là mình đã ngủ quên. Cái mẹo cầm chùm chìa khóa trong tay không có tác dụng. Nó đã rơi xuống nền nhà mà bà không biết. Bà ngồi dậy, nhìn đồng hồ. Lúc này đã hơn sáu giờ sáng. Như vậy là bà đã ngủ được hơn năm tiếng đồng hồ. Mình kiệt sức mất rồi, bà nghĩ. Mình ngủ quá ít, như nhiều người khác. Mình đã dành quá nhiều thời gian sống cho những lo lắng. Vào lúc này, chủ yếu vẫn là bản án bất công làm cho mình bực bội và nản lòng.
Birgitta Roslin gọi điện thoại cho chồng. Chắc ông cũng đã tự hỏi đêm qua vợ mình ẩn náu ở đâu. Thực ra việc này cũng không hoàn toàn bất bình thường. Bà thường ngủ lại trên chiếc sofa trong phòng làm việc của mình vào những lần cãi nhau. Nhưng ngày hôm qua họ đâu có cãi nhau.
Chuông điện thoại vừa reo tiếng đầu tiên, ông đã nhấc ống nghe lên.
– Em đang ở đâu vậy?
– Em ngủ thiếp đi trong phòng làm việc.
– Liệu có cần thiết phải làm việc suốt đêm không?
– Em đang phải đánh vật với một bản án phức tạp.
– Anh đoán em phải tuyên trắng án cho người đàn ông đó?
– Khó khăn chính là ở chỗ đó.
– Em hãy về nhà ngủ tiếp đi. Bây giờ anh phải đi. Anh đang vội.
– Khi nào thì anh về?
– Khoảng chín giờ. Nếu như không bị hoãn chuyến. Ở Halland tuyết đang rơi.
Bà gác ống nghe và bỗng nhiên mãn nguyện bởi tình cảm trìu mến dành cho chồng. Họ gặp nhau khi còn rất trẻ ở Lund trong những năm học đại học luật. Staffan học trước bà một năm. Lần đầu tiên họ gặp nhau là tại buổi liên hoan của một người bạn chung của cả hai. Sau đó thì Birgitta không thể tưởng tượng được cuộc sống với một người đàn ông khác nào nữa. Bà đã bị đôi mắt của ông, thân hình của ông, hai bàn tay lớn của ông và cái kiểu đỏ mặt bất lực của ông quy phục.
Staffan trở thành luật sư. Nhưng vào một ngày ông trở về nhà và nói mình không thể tiếp tục làm luật sư được nữa và muốn bắt đầu một cuộc sống khác. Bà đã không được báo trước và đã phản ứng một cách không thông cảm, vì ông chưa một lần bóng gió cho bà biết rằng hằng ngày ông phải đến văn phòng luật sư ở Malmö với bước chân nặng nề. Một ngày sau đó bà ngạc nhiên thấy ông bắt đầu học nghề mới để trở thành người soát vé tàu và rồi một hôm, đứng trước bà ở phòng khách trong bộ quần áo đồng phục xanh, đỏ, ông tuyên bố bắt đầu từ hôm nay, vào lúc mười hai giờ mười chín phút sẽ đi theo đoàn tàu 212 từ Malmö qua Alvesta và Växjö đến Kalmar.
Không bao lâu sau, ông hoàn toàn trở thành một con người vui vẻ. Khi ông bỏ nghề luật sư, họ đã có bốn đứa con, một trai, một gái, và sau cùng là cặp song sinh, hai cô con gái. Những đứa trẻ được sinh ra rất sát nhau, bà chỉ có thể nghĩ về khoảng thời gian ấy với nỗi kinh ngạc lớn lao. Làm sao họ có thể làm được những điều đó? Bốn đứa con trong vòng sáu năm. Khi bà nhận được vị trí thẩm phán, cả gia đình chuyển từ Malmö về Helsingborg.
Những năm qua, các con của họ đã lớn. Hai cô gái song sinh năm ngoái đã chuyển khỏi nhà, ở chung với nhau trong một căn hộ. Điều làm cho bà vui là chúng không học ngành luật như bà, sẽ không trở thành những luật gia. Siv, ra đời trước Louise mười chín phút đồng hồ, sau một thời gian suy nghĩ rất dài đã quyết định theo học ngành thú y. Louise, khác với chị gái ở tính khí sôi nổi, xông xáo trong cuộc sống, quyết định đi bán hàng cho một cửa hàng quần áo đàn ông rồi sau đó mới bắt đầu theo học ngành khoa học chính trị và lịch sử tôn giáo. Birgitta Roslin đã nhiều lần ướm hỏi con gái xem cô định làm gì. Nhưng Louise, là đứa kín đáo nhất trong bốn đứa con của bà, chẳng bao giờ nói cho bà biết về dự định của cô. Birgitta Roslin cảm thấy Louise là cô bé giống mình nhất. Đứa con đầu của bà, David, làm việc cho một công ty dược phẩm lớn, thì gần như lại rất giống cha trên mọi phương diện. Anna, đứa con thứ hai của bà là một mối lo lắng của cha mẹ khi luôn tham gia những chuyến đi dài ngày ở châu Á mà họ không biết thực ra là cô làm gì.
Gia đình của mình, bà thầm nghĩ. Lo lắng lớn và niềm vui lớn. Không có gia đình, hẳn cuộc đời mình chẳng còn ý nghĩa gì.
Trong hành lang trước phòng làm việc của bà có treo một tấm gương. Bà quan sát gương mặt và thân hình mình. Mái tóc cắt ngắn của bà ở hai bên thái dương đã có những sợi bạc. Thói quen xấu luôn mím chặt hai môi tạo ra cho bà một vẻ không mấy cởi mở. Nhưng điều làm cho bà khổ sở, đó là trong mấy năm qua bà đã tăng cân. Ba cân, bốn cân, không nhiều hơn. Nhưng cũng đủ để người ta nhận ra.
Điều bà nhìn thấy làm cho bà không vừa lòng. Nhìn chung bà là một phụ nữ hấp dẫn nhưng giờ đây bà đang bắt đầu mất đi vẻ rạng rỡ của mình. Và bà không chống lại.
Bà để lại trên bàn nữ thư ký của mình lời nhắn hôm nay sẽ đến muộn. Trời đã ấm lên, tuyết bắt đầu tan. Bà đi đến chỗ xe của mình đậu trên phố ngang.
Nhưng bỗng nhiên bà quyết định khác. Giờ bà không còn cần ngủ. Quan trọng hơn là để đầu óc được sảng khoái và nghĩ đến một việc khác. Birgitta Roslin quay người đi xuống phía bến tàu. Trời không gió. Đám mây của ngày hôm qua đã tan đi. Bà đi xuống bến phà chạy sang Helsingborg. Chuyến phà sang bờ bên kia chỉ kéo dài ít phút, nhưng bà muốn được ngồi lại trên mạn phà uống một tách cà phê hoặc một cốc rượu nho, quan sát những người cùng đi đang xem lại những túi xách đầy rượu mà họ đã mua ở Đan Mạch. Bà ngồi xuống bên chiếc bàn kê ở góc phà. Mặt bàn dính bẩn, bỗng nhiên bà thấy bực mình, gọi cô gái phục vụ lại phía mình. Cô ta đang dọn dẹp các bàn ở trên phà.
– Thật không thể chấp nhận được. Chiếc bàn tuy đã được dọn, nhưng không được lau sạch. Nó vẫn còn nhớp nháp quá.
Cô gái nhún vai rồi dùng khăn lau mặt bàn. Birgitta Roslin kinh tởm nhìn khăn lau bàn. Nhưng bà không nói thêm gì nữa. Cô phục vụ này có gì đó làm cho bà nhớ tới người phụ nữ trẻ bị hiếp dâm. Nhưng vì sao thì bà lại không biết. Có lẽ vì cái vẻ dửng dưng, thiếu ý thức hoàn thành tốt công việc ở cô ta. Hoặc có gì đó như là vẻ dễ bị tổn thương mà Birgitta Roslin không thể diễn tả được?
Chiếc phà bắt đầu rung lên bần bật. Nó đem đến cho bà một cảm giác khoan khoái, thậm chí có thể là thích thú. Bà nhớ tới chuyến ra nước ngoài đầu tiên của mình. Ngày đó bà mới mười chín tuổi. Cùng đi chung với một bạn nữ sang Anh tham dự một khóa học ngoại ngữ. Chuyến đi cũng bắt đầu bằng việc đi phà, từ Göteborg đến Harwich. Birgitta Roslin không bao giờ quên được cảm giác được giải phóng khi đứng trên boong tàu trên đường đến với một nơi xa lạ.
Lúc này bà lại nhận thấy cảm giác tự do tương tự khi lại được ngồi trên chuyến phà chạy qua lại từ Thụy Điển sang Đan Mạch trên eo biển nhỏ hẹp này. Ý nghĩ về một bản án khó chịu đã lùi lại phía sau.
Mình thậm chí không còn ở đỉnh dốc cuộc đời nữa, bà nghĩ. Mình đã đi qua cái điểm người ta vẫn vượt qua nó mà không hề hay biết. Không còn nhiều quyết định quan trọng cần phải đưa ra cho cuộc đời mình nữa. Mình sẽ làm thẩm phán cho tới ngày hồi hưu. Có thể mình sẽ có cháu có chắt trước khi tất cả kết thúc.
Tuy nhiên bà biết rằng cái cảm giác bất an luôn quấy rầy bà đến từ chính cuộc hôn nhân của bà với Staffan, cảm giác cuộc hôn nhân đang héo tàn dần. Họ là những người bạn tốt của nhau, sát cánh bên nhau khi cần thiết. Nhưng còn tình yêu, niềm khát khao nhục dục được gần gũi nhau, đã hoàn toàn biến mất.
Còn bốn ngày nữa là tròn một năm kể từ lần cuối hai người làm tình với nhau trước khi chìm vào giấc ngủ. Ngày đó càng đến gần, bà lại càng cảm thấy bất lực. Và ngày đó không còn lâu nữa sẽ đến. Hết lần này đến lần khác bà cố tìm cách nói với Staffan về nỗi cô đơn mà bà cảm thấy. Nhưng Staffan không sẵn sàng nói chuyện, ông lẩn tránh, trì hoãn cuộc trò chuyện mà tất nhiên ông biết là cần thiết. Ông cam đoan không một người đàn bà nào khác hấp dẫn, mà chỉ vì thiếu đi niềm hứng thú, nhưng chắc chắn sẽ sớm tìm lại được nó. Chỉ cần bà kiên nhẫn.
Bà thấy buồn vì đã mất đi sự thân mật ấy với chồng mình một nhân viên hỏa xa thanh lịch, với hai bàn tay to và khuôn mặt dễ ửng đỏ. Nhưng bà không có ý định từ bỏ cuộc chơi, để cho cuộc hôn nhân của mình biến thành một mối quan hệ bằng hữu thuần túy.
Bà gọi thêm một tách cà phê nữa và chuyển sang ngồi ở bàn khác sạch hơn. Một số thanh niên, tuy còn sớm, đã ngà ngà say, đang tranh luận với nhau về chuyện Hamlet hay Macbeth là tù nhân bị giam trong lâu đài Kronborg gần Helsingborg. Bà thích thú theo dõi câu chuyện của họ và cảm thấy muốn được tham gia.
Có hai cậu bé chừng mười bốn, mười lăm tuổi ngồi bên chiếc bàn góc. Hình như chúng trốn học. Tại sao chúng lại không làm thế khi hình như chẳng có ai chê bai, chỉ trích gì việc đó? Bà cũng không một chút buồn nhớ hệ thống giáo dục độc đoán mà bà đã trải qua. Đồng thời bà nhớ lại một việc xảy ra vào năm ngoái. Sự việc đó đã làm cho bà phải hoài nghi về hệ thống pháp luật của Thụy Điển và dẫn bà đến với nhu cầu mãnh liệt hơn bao giờ hết: được tranh luận với ông Anker, cố vấn của bà, đã qua đời cách đây ba mươi năm.
Trong một khu cư dân ở ngoại thành Helsingborg, có một bà lão gần tám mươi tuổi bị mắc bệnh tim ngã trên vỉa hè. Hai thằng bé, một đứa mười ba tuổi, một đứa mười bốn tuổi, đi qua. Thay vì giúp bà lão, chúng đã không do dự, trước tiên lấy chiếc ví đựng tiền trong túi xách tay, sau đó chúng tìm cách hãm hiếp bà. Giá như không có người đàn ông dắt chó xua đuổi, thì rất có thể đã xảy ra một vụ cưỡng dâm. Sau đó cảnh sát đã tóm được hai thằng bé đó. Nhưng vì chúng còn là vị thành niên nên đã được thả ra.
Birgitta Roslin nghe vụ này qua một công tố viên được một cảnh sát kể lại. Bà rất phẫn nộ và tìm cách để biết vì sao ở sở xã hội lại không có báo cáo. Không bao lâu bà được biết mỗi năm có hàng trăm trẻ em phạm tội mà không bị truy tố hình sự. Không một ai trao đổi với bố mẹ chúng, các sở xã hội không được báo cáo. Tội mà chúng gây ra không chỉ là những vụ ăn cắp đơn giản mà còn là những vụ trấn lột, đánh người gây thương tích, rất may mà không gây ra án mạng.
Điều này, như đã nói, khiến bà nghi ngờ toàn bộ hệ thống pháp luật của Thụy Điển. Thực ra hệ thống pháp luật này phục vụ cho ai? Cho công lý hay cho sự thờ ơ? Và hậu quả sẽ ra sao, một khi cứ để mặc ngày càng có thêm nhiều trẻ em gây án mà không có ai phản ứng? Vấn đề còn có thể tiến xa đến đâu khi hệ thống dân chủ bị đe dọa, bị tổn hại bởi một hệ thống pháp luật lỏng lẻo?
Bà uống cạn cốc cà phê và nghĩ mình còn phải làm việc mười năm nữa. Liệu bà có thể chịu đựng được tới cùng? Người ta còn có thể là một thẩm phán công minh khi đã bắt đầu hoài nghi sự vận hành của chính Nhà nước pháp quyền?
Bà không biết điều này. Để rũ bỏ những suy nghĩ này, bà đi thêm một lần nữa qua eo biển. Lúc bà lên khỏi phà bên bờ Thụy Điển đã là chín giờ. Bà băng qua đường phố chính rộng rãi chạy dọc giữa Helsingborg. Lúc rẽ vào góc phố, bà lơ đễnh liếc qua măng sét của các báo buổi chiều đang được một người đàn ông dán lên cột báo. Bà dừng khựng lại trước những dòng tít lớn: “Vụ tàn sát ở Hälsingland”, “Tội ác khủng khiếp”, “Cảnh sát không tìm ra dấu vết”, “Không ai biết có bao nhiêu người chết”.
Bà tiếp tục đi đến chỗ đỗ xe. Bà hiếm khi mua các báo buổi chiều. Bà thấy những tít bài mơ hồ và đầy tính chèo kéo thường tìm cách công kích hệ thống luật pháp của Thụy Điển trên những tờ báo này thật gây phiền nhiễu và đôi khi thậm chí còn sỗ sàng. Ngay cả khi bản thân cũng tán thành một vài điểm nhưng bà không thích mấy tờ báo buổi chiều này. Bà thấy rằng những nhà báo ấy đã hoàn toàn quên mất óc phê phán, cho dù có thể ý định thì tốt.
Birgitta Roslin sống trong khu đô thị ở Kjellstorp, ở cửa ô phía Bắc thành phố. Bà dừng xe bên một cửa hàng. Chủ cửa hàng là một người Pakistan nhập cư, luôn chào bà với một tiếng cười vui vẻ. Ông ta biết bà là thẩm phán nên tỏ ra rất kính trọng bà. Bà không dám chắc liệu phụ nữ ở Pakistan nói chung có thể trở thành thẩm phán được không. Nhưng bà chưa bao giờ hỏi ông ta điều đó.
Về đến nhà, bà chui vào bồn tắm và sau đó leo lên giường. Bà thức dậy vào lúc một giờ chiều và cảm thấy cuối cùng đã ngủ được đẫy giấc. Sau khi đã ăn xong mấy lát bánh mì và uống hết tách cà phê, bà trở lại với công việc. Vài tiếng đồng hồ sau bà đã soạn thảo xong bản án trên máy tính: người đàn ông có tội được trắng án, rồi để nó lên bàn của nữ thư ký, có vẻ như cô thư ký đang tham dự một lớp tập sự nào đó. Rõ ràng trong khu nhà tòa án này đang diễn ra một khóa nâng cao nghiệp vụ mà bà không được thông báo hoặc - có lẽ đúng hơn - bà đã hoàn toàn quên bẵng. Lúc trở về nhà, bà hâm nóng lại món ragu gà của ngày hôm trước. Bà để phần còn lại vào tủ lạnh cho Staffan.
Bà ngồi xuống ghế sofa với một tách cà phê, bật vô tuyến xem mục Teletext. Lúc này bà lại nhớ tới những tít báo đã nhìn thấy sáng nay. Cảnh sát chưa tìm được hướng điều tra cụ thể nào, không muốn nêu số người bị giết, tên tuổi của họ vì chưa thông báo được cho người thân của họ.
Một kẻ điên, bà thầm nghĩ. Một là hắn mắc chứng cuồng ám, hoặc cho rằng mình đã bị đối xử tồi tệ.
Kinh nghiệm nhiều năm làm thẩm phán đã dạy cho bà biết rằng có rất nhiều dạng điên rồ đẩy con người đến chỗ phạm vào những tội ác kinh tởm. Nhưng bà cũng biết rằng các bác sĩ tâm thần ở tòa án không phải lúc nào cũng có khả năng nhìn thấu được những kẻ giả mang bệnh để được giảm án.
Bà tắt vô tuyến và đi xuống hầm, nơi có một kho chứa các loại rượu vang. Bà có nhiều catalog đặt hàng của các công ty nhập khẩu rượu nho khác nhau. Mãi cách đây một vài năm bà mới nhận ra rằng việc các con ra ở riêng đã giúp cho tình trạng tài chính của hai vợ chồng bà khá hơn. Bây giờ bà cho rằng mình đã có thể mua sắm được món này món khác đặc biệt một chút. Và bà đã quyết định mỗi tháng đặt mua một vài chai vang đỏ. Bà thích nghiên cứu kỹ lưỡng những lời chào hàng của các nhà nhập khẩu rượu vang và dò xét trước giá cả. Phải trả đến gần năm trăm krona chỉ để mua một chai vang, với bà điều này giống như một kiểu thú vui bị cấm đoán. Bà đã hai lần lôi kéo được Staffan cùng đi Ý thăm những cánh đồng nho với mình. Nhưng bà đã thất bại khi muốn làm cho ông hứng thú với rượu vang hơn mức bình thường. Đổi lại, bà đã cùng đi với ông đến dự các buổi hòa tấu nhạc Jazz ở Copenhagen, mặc dù đó không phải loại nhạc bà yêu thích.
Hầm nhà lạnh. Bà kiểm tra để nhiệt độ ở mức mười bốn độ rồi ngồi lên chiếc ghế đẩu nằm giữa các giá để rượu. Ở đây, giữa những chai rượu bà cảm thấy vô cùng tĩnh tại. Nếu như phải lựa chọn giữa một bồn nước nóng và một hầm rượu, chắc chắn bà sẽ chọn căn hầm, nơi lúc này đã có tới 114 chai rượu trên giá.
Ngày bà còn trẻ, nếu ai đó bảo với bà rằng đến một ngày nào đó bà sẽ sưu tầm rượu vang, chắc chắn bà sẽ không tin. Bà không những phủ nhận khả năng này mà thậm chí còn phẫn nộ nữa. Trong thời gian học đại học ở Lund, bà cảm thấy gắn bó với nhóm cánh tả cấp tiến, vào cuối những năm 1960 họ không những chỉ đặt ra câu hỏi về vấn đề giáo dục đại học mà cả về vấn đề xã hội nữa. Ngày đó, có lẽ bà sẽ cho rằng sưu tầm rượu vang là một sự lãng phí thời gian và sức lực, một trò tư sản, một thú tiêu khiển thời gian vô luân.
Bà đang chìm đắm trong dòng suy nghĩ thì nghe có tiếng bước chân của Staffan ở bên trên. Bà vội cất cuốn catalog, bước lên cầu thang để lên tầng. Chồng bà đang mở tủ lạnh lấy ra món ragu gà. Trên bàn là mấy tờ báo buổi chiều mà ông đem từ tàu hỏa về.
– Em đã đọc chưa?
– Vụ xảy ra ở Hälsingland phải không?
– Mười chín người chết.
– Trên ti vi không nói đến số lượng người chết.
– Đây là số báo ra muộn. Chúng đã giết gần như tất cả mọi người trong một ngôi làng. Thật không thể tưởng tượng nổi. Còn bản án của em thế nào rồi?
– Nó đã được viết xong. Trắng án. Không thể khác được.
– Báo chí rồi lại xôn xao.
– Tốt thôi.
– Họ sẽ phê phán em.
– Chắc chắn. Nhưng khi đó em có thể yêu cầu đám nhà báo xem lại luật, rồi sau đó hỏi họ liệu họ có muốn ở đất nước này sẽ chuyển sang áp dụng kiểu luật do đám đông quyết định không thông qua tòa án hay không.
– Vụ thảm sát này sẽ thu hút sự quan tâm của họ và họ sẽ bỏ qua bản án của em.
– Đương nhiên. Vụ hiếp dâm tầm thường này so với vụ thảm sát thì ăn nhằm gì.
Đêm nay họ đi ngủ sớm. Ngày mai ông có ca sớm, còn bà thấy chương trình truyền hình hoàn toàn chẳng có gì đáng quan tâm. Bà cũng đã quyết định mua loại rượu nho nào. Một thùng Barolo Arione 2002, giá 252 krona một chai.
Bà choàng tỉnh giấc lúc nửa đêm. Staffan vẫn ngủ say bên cạnh bà. Đôi khi bà bị cảm giác đói bụng bất ngờ đánh thức dậy.
Bà đi xuống dưới bếp, pha một cốc trà đen và làm một vài lát bánh mì quệt bơ.
Mấy tờ báo buổi chiều còn nằm trên bàn ăn. Bà lơ đãng lật các trang báo. Dù bà không có thói quen mua báo, nhưng lại đọc chúng, nếu như tiện tay. Thật khó mà hình dung được rõ ràng những gì đã xảy ra ở Hälsingland. Nhưng với số lượng nạn nhân như vậy thì đúng là một cuộc thảm sát dã man.
Bà giật mình khi vừa định gấp tờ báo lại. Trong số các nạn nhân có nhiều người mang họ Andrén. Bà đọc kỹ bài báo lại một lần nữa, rồi lại giở các tờ báo buổi chiều khác. Ở trong đó cũng tương tự như vậy.
Birgitta Roslin trân trân nhìn vào trang báo. Lẽ nào đây lại là sự thật? Hay là bà không nhớ kỹ? Bà đi sang phòng làm việc, lấy từ trong ngăn kéo ra một chồng tài liệu được cột chặt bằng một dải lụa đỏ. Bà bật đèn bàn và mở cặp tài liệu ra. Bà không tìm thấy kính của mình nên phải dùng tạm kính của Staffan. Tuy không rõ bằng nhưng bà vẫn có thể đọc được.
Trong cặp này bao gồm tất cả những giấy tờ có liên quan đến cha mẹ bà mà bà đã thu thập được. Mẹ của bà qua đời cũng đã hơn mười lăm năm nay, bị ung thư lá lách và qua đời sau ba tháng phát bệnh.
Cuối cùng Birgitta Roslin cũng tìm thấy tấm ảnh mình cần trong chiếc phong bì màu nâu. Bà cầm kính lúp soi kỹ vào bức ảnh chụp một vài người ăn mặc quần áo kiểu cổ đứng trước một ngôi nhà.
Bà cầm theo tấm ảnh đi sang phòng bếp. Trong một tờ báo có in bức ảnh chụp toàn cảnh ngôi làng nơi xảy ra thảm kịch. Bà chú ý quan sát tấm ảnh qua kính lúp. Bà dừng lại ở ngôi nhà thứ ba và bắt đầu so sánh hai tấm ảnh với nhau.
Cuối cùng bà tin rằng ký ức đã không lừa dối bà. Đó không phải là một ngôi làng chung chung nào đó bỗng nhiên bị cái ác bất thình lình tấn công. Đó chính là ngôi làng nơi mà mẹ bà đã lớn lên. Tất cả đều đúng. Tuy hồi còn bé mẹ bà mang họ Lööf, nhưng vì cha mẹ ruột của bà ấy đều suy nhược và nghiện rượu nên người ta đã đưa mẹ bà đến gia đình Andrén làm con nuôi. Mẹ ít khi kể về thời gian này. Mẹ được đối xử và chăm sóc tốt, nhưng lúc nào cũng nhớ đến cha mẹ ruột của mình. Họ đã chết trước khi mẹ bước sang tuổi mười lăm. Vậy là mẹ ở lại trong ngôi làng đó cho tới lúc người ta cho rằng bà đã đủ lớn để tìm việc làm và tự đứng trên đôi chân của mình. Khi mẹ gặp cha của Birgitta, cái họ Lööf và Andrén đã biến mất. Vậy mà lúc này, một trong hai họ ấy đã quay trở lại với sức mạnh trọn vẹn của nó.
Tấm ảnh lưu lại trong số giấy tờ của mẹ bà được chụp trước một ngôi nhà trong làng, nơi xảy ra vụ thảm sát. Mặt tiền ngôi nhà với khung cửa sổ có những họa tiết chạm khắc trang trí bằng gỗ trong bức ảnh cũ này hoàn toàn giống như bức ảnh được in trong báo.
Không còn nghi ngờ gì nữa. Trong ngôi nhà, nơi mẹ bà trải qua tuổi thơ của mình đã có những người bị giết chết cách đây một vài đêm. Liệu những người bị giết đó có phải là cha mẹ nuôi của mẹ bà hay không? Báo chí đã viết rằng nạn nhân phần lớn là người già.
Bà tính thử liệu có khả năng như vậy không, và đến với kết quả là cha mẹ nuôi của mẹ bà nếu còn sống đến bây giờ đã trên chín mươi tuổi. Như vậy có thể là đúng. Nhưng cũng có thể là thế hệ sau này.
Bà rùng mình với ý nghĩ này. Bà ít khi nghĩ đến cha mẹ mình. Thậm chí phải cố gắng lắm bà mới có thể hồi tưởng khuôn mặt của mẹ. Còn lúc này, quá khứ lại ùa về với bà.
Staffan đi vào bếp. Lúc nào ông cũng đi rất nhẹ nhàng.
– Anh làm em giật mình, bà nói, em không nghe thấy tiếng anh đến.
– Sao em lại thức dậy?
– Em đói bụng.
Ông nhìn vào đống giấy tờ trên bàn. Càng kể cho ông nghe bao nhiêu về những gì mình nghĩ, bà lại càng tin rằng nó đúng là như thế.
– Tuy vậy nó cũng tương đối xa rồi, ông nói khi bà dừng kể. Nó là một sợi chỉ mỏng manh buộc em vào với ngôi làng này.
– Mỏng manh, nhưng đầy ý nghĩa. Anh phải thừa nhận với em như vậy.
– Bây giờ em nên đi ngủ. Hãy nghĩ rằng ngày mai em cần phải tỉnh táo, nếu như muốn tống những kẻ phạm tội vào tù.
Bà còn nằm thức rất lâu, sợi chỉ mỏng manh cứ kéo dài ra cho tới khi có nguy cơ bị đứt. Bà lại giật mình trong lúc nửa ngủ nửa thức và nghĩ đến mẹ mình. Mẹ bà mất cách đây hơn mười lăm năm, nhưng bà vẫn rất khó khăn mới tự nhìn thấy mình trong mẹ, mới vun đắp được những ký ức mình có về mẹ.
Cuối cùng bà cũng ngủ thiếp đi và chỉ thức dậy khi Staffan với mái tóc còn ướt đứng bên giường và mặc quần áo đồng phục. “Anh là ông tướng của em,” ông thường hay nói với bà như vậy. Trong tay không có súng, mà chỉ có chiếc bút chì dùng để viết thông báo vi phạm.
Bà vẫn giả đò ngủ và chờ cho tới khi nghe thấy tiếng cánh cửa sập lại. Rồi bà đứng dậy, ngồi vào bên máy tính trong phòng làm việc. Bà tìm thông tin trên các trang web khác nhau. Sự việc xảy ra ở Hälsingland xem ra vẫn tiếp tục khó hiểu. Điều rõ ràng duy nhất mà người ta được biết là hung khí rất có thể là một con dao to hoặc một thanh kiếm.
Mình cần phải biết nhiều hơn về sự việc này, bà nghĩ. Ít ra cũng phải biết được liệu trong số người bị giết chết đó có bố mẹ nuôi của mẹ mình không.
Đến tám giờ, bà không nghĩ đến vụ thảm sát nữa. Ngày hôm nay bà phải xử vụ hai người Iran đưa người vượt biên trái phép.
Mười giờ, bà sắp xếp mọi giấy tờ của mình, lật giở các trang trong hồ sơ điều tra sơ bộ, và ngồi vào ghế thẩm phán. Hãy giúp tôi lúc này, ông bạn già Anker, để tôi vượt qua được ngày hôm nay, bà thầm nghĩ.
Rồi bà gõ nhẹ chiếc búa lên mặt bàn và yêu cầu công tố viên đọc cáo trạng.
Phía sau bà là những khung cửa sổ cao. Trước khi ngồi xuống, bà nhìn thấy mặt trời đang xuyên qua những đám mây nặng nề đêm qua đã kéo qua bầu trời Thụy Điển.