Ngày hôm sau tuyết rơi nhẹ. Karin thức dậy từ lúc sáu giờ sáng để xem lại bản báo cáo mà bà phải thuyết trình trước hội nghị. Birgitta Roslin cũng thức giấc, nhìn thấy bạn mình đang ngồi trên chiếc ghế kê gần cửa sổ, bên cạnh ngọn đèn thắp sáng vì bên ngoài trời vẫn còn tối. Một cảm giác ghen tị đến với bà. Karin đã chọn cho mình một cuộc sống được tiếp xúc với nền văn hóa khác, được đi đó đây, được gặp gỡ. Còn cuộc sống của Birgitta diễn ra trong các phòng xử án, với những cuộc đấu tay đôi liên miên giữa sự thật và dối trá, giữa công bằng và độc đoán, mà kết quả thì cực kỳ không chắc chắn và thường khiến người ta thất vọng.
Karin để ý thấy bà đã thức nhưng vẫn còn nằm và đang nhìn mình.
– Tuyết rơi đấy, bà nói với Birgitta. Nhẹ và mỏng. Ở Bắc Kinh không bao giờ có tuyết nặng hạt. Nó nhẹ, nhưng sắc như cát trong sa mạc.
– Bạn chăm chỉ vậy. Mới sáng sớm đã làm việc.
– Mình hồi hộp. Có rất nhiều người lắng nghe, họ chỉ muốn tìm ra sai sót của mình.
Birgitta nhổm dậy trên giường, thận trọng quay đầu.
– Gáy mình vẫn còn cứng đơ.
– Kinh kịch Bắc Kinh đòi hỏi thân thể phải có sức chịu đựng tốt.
– Mình muốn được đi xem một lần nữa. Nhưng không có phiên dịch.
Karin rời khỏi phòng lúc gần bảy giờ sáng. Hai người thỏa thuận hẹn nhau vào buổi tối. Birgitta còn ngủ thêm một tiếng nữa. Khi bà ăn xong bữa sáng đồng hồ đã chỉ chín giờ. Cảm giác bất an của bà ngày hôm qua đã biến mất. Khuôn mặt của người thanh niên mà bà cho là mình đã nhận ra sau buổi biểu diễn ở nhà hát chắc chắn là do bà tưởng tượng ra. Bà đã quen với hiện tượng này nhưng vô ích, đôi khi trí tưởng tượng vẫn chơi bà một vố.
Vì rảnh rỗi nên bà quyết định đến một cửa hàng bách hóa nào đó để mua một bộ mạt chược. Bà cũng đã hứa với Staffan sẽ đem về cho ông một số gia vị. Một thanh niên trẻ gác cửa khách sạn chỉ trên bản đồ thành phố đường đến một cửa hàng có cả hai thứ bà muốn mua. Sau khi đã đổi tiền trong nhà băng ở khách sạn, bà lên đường. Hôm nay trời đỡ lạnh hơn. Những bông tuyết nhẹ xoáy tròn trong không khí. Bà kéo khăn quàng cổ trùm lên miệng, mũi và rảo bước.
Đi được một vài mét, bà dừng lại đưa mắt nhìn xung quanh. Trên vỉa hè mọi người đang đi về các hướng khác nhau. Bà quan sát những người đứng im tại chỗ, hút thuốc, nói chuyện điện thoại di động hoặc đơn giản là đang chờ đợi. Nhưng bà không nhận ra gương mặt quen nào.
Phải gần một tiếng đồng hồ sau bà mới tới được cửa hàng. Nó nằm trên phố Vương Phủ Tỉnh. Cửa hàng này chiếm toàn bộ dãy nhà, khi vào bên trong bà có cảm giác như bước vào mê cung. Bà lập tức lọt vào giữa dòng người đang chen chúc. Bà để ý thấy những người xung quanh nhìn bà như dò xét rồi bình phẩm với nhau về quần áo, diện mạo của bà. Bà cố tìm biển chỉ dẫn bằng tiếng Anh, nhưng uổng công. Lúc bà len vào chỗ thang máy cuốn, có rất nhiều người bán hàng gọi với theo bằng tiếng Anh trọ trẹ.
Ở tầng ba bà tìm thấy một quầy bán sách, giấy viết và đồ chơi. Bà nói với một cô bán hàng, nhưng ngược lại với các nhân viên ở khách sạn, cô này không hiểu bà nói gì. Cô ta nói gì đó vào máy điện thoại nội bộ và ngay sau đó một người đàn ông đứng tuổi tới bên bà và mỉm cười,
– Tôi có thể giúp gì cho bà?
– Tôi muốn mua một bộ mạt chược.
Ông ta dẫn bà lên một tầng khác, nơi bà bất ngờ lọt vào giữa những giá để hàng với các loại bàn cờ khác nhau. Bà lấy hai bộ, cảm ơn ông ta rồi ra quầy thanh toán tiền. Khi hai bộ mạt chược đã được bọc lại và xếp vào một chiếc túi nhựa lớn, bà tự lần theo mùi hương tìm tới quầy bán thực phẩm, ở đó bà cầm những chiếc túi giấy nhỏ xinh đưa lên mũi ngửi những thứ gia vị còn xa lạ đối với bà. Cuối cùng bà vào một quầy bán đồ ăn điểm tâm gần ngay lối đi ra. Bà uống trà và ăn một loại bánh ngọt tới mức không nuốt nổi. Hai đứa bé đến gần bàn bà, trân trân nhìn bà trước khi bị mẹ chúng ngồi ở bàn bên cạnh quát gọi về chỗ ngồi.
Lúc đứng dậy, bà lại có cảm giác mình đang bị theo dõi. Bà đưa mắt nhìn xung quanh, cố nhớ từng khuôn mặt, nhưng không thấy khuôn mặt nào quen. Bực mình vì luôn bị ám ảnh bởi những ý nghĩ kiểu này, bà rời khỏi cửa hàng. Bà bắt taxi về khách sạn vì mấy chiếc túi quá nặng. Trên đường về bà nghĩ xem nên làm gì cho hết ngày. Tới khuya bà mới có thể gặp Karin, vì bạn bà vướng vào một bữa tiệc theo lệ muốn từ chối cũng không được.
Khi đã đem đồ về khách sạn, bà quyết định đi thăm bảo tàng nghệ thuật mà hôm qua đã đi qua. Bà biết đường đến đó. Bà nhớ là mình đã nhìn thấy nhiều quán ăn, nếu đói, bà có thể tạt vào một trong những quán đó. Lúc này tuyết đã ngừng rơi, tấm chăn mây đã bị xé rách. Bỗng nhiên bà cảm thấy như mình trẻ ra, mạnh mẽ hơn lúc buổi sáng. Chính lúc này mình đang là tảng đá lăn mà khi còn trẻ mình đã mơ ước được là nó, bà thầm nghĩ. Một tảng đá lăn với cái cổ cứng đơ.
Khu nhà chính của viện bảo tàng trông giống như một cái tháp, với những gờ tường và phần mái được làm tỉ mỉ. Khách tham quan đi vào qua hai chính môn rộng. Vì bảo tàng quá lớn nên bà quyết định chỉ tham quan tầng dưới. Ở đó trưng bày các hiện vật cho thấy Giải phóng quân nhân dân đã sử dụng nghệ thuật là vũ khí tuyên truyền như thế nào. Phần lớn các bức tranh được thể hiện theo phong cách lý tưởng hóa mà bà đã được biết qua các tạp chí ảnh những năm 60 về Trung Quốc. Nhưng cũng có những bức tranh trừu tượng với các gam màu mạnh mẽ mô tả chiến tranh và hỗn loạn.
Xung quanh bà chỗ nào cũng thấy bảo vệ và hướng dẫn viên, phần lớn là những cô gái trẻ mặc đồng phục màu xanh. Bà tìm cách bắt chuyện với một vài người, nhưng không ai biết tiếng Anh.
Bà dành nhiều giờ đồng hồ tham quan viện bảo tàng. Lúc ra đến ngoài đường, đồng hồ đã chỉ ba giờ chiều. Bà nhìn sang khu bệnh viện và tòa nhà có sân thượng vươn ra. Bà vào một quán ăn bình dân ở gần viện bảo tàng. Bà được chỉ vào chiếc bàn ở góc phòng. Bà gọi món ăn giống như mấy người khách ở bàn bên cạnh và một chai bia. Lúc uống bà mới nhận thấy mình khát thế nào. Bà ăn rất nhiều và uống thêm hai cốc trà đặc để xua đi cảm giác mệt mỏi. Bà ngồi xem lại mấy tập bưu ảnh về nền hội họa Trung Hoa đã mua trong viện bảo tàng.
Bỗng nhiên bà thấy như là đã xong việc với Bắc Kinh dù mới ở đây được hai ngày. Bà cảm thấy quá nhàn rỗi, nhớ công việc của mình và thấy đang lãng phí thời gian. Dĩ nhiên là bà có thể tiếp tục dạo chơi trong thành phố, nhưng bà thiếu một cái đích, giờ đây khi đã mua được bộ mạt chược và đồ gia vị. Cần có một chương trình, bà nghĩ. Trước hết phải trở về khách sạn, nghỉ ngơi, rồi lên một chương trình cho ra trò. Mình còn ở đây năm ngày nữa. Mãi tới hai ngày cuối cùng Karin mới có thời gian cho mình.
Lúc bà ra khỏi quán ăn, mặt trời đã lại biến mất sau những đám mây. Bà thấy như trời lạnh hơn. Bà kéo áo khoác sát hơn vào người và kéo khăn che miệng.
Một người đàn ông tay cầm tờ giấy và cái kéo đi lại phía bà. Bằng tiếng Anh bập bẹ ông ta đề nghị được phép cắt hình bóng của bà. Trong chiếc kẹp tài liệu ông ta đã để sẵn hình mẫu. Phản ứng đầu tiên của bà là từ chối, nhưng rồi bà lại đổi ý. Bà bỏ mũ ra, kéo khăn quàng cổ xuống và ngồi nghiêng để ông ta cắt hình.
Hình bóng mà ông ta vừa cắt xong giống đến đáng kinh ngạc. Khi ông ta nói giá năm đô la, bà đã đưa cho ông tờ mười đô.
Người đàn ông này đã già và có một vết sẹo ở má. Bà thấy tiếc là không được nghe những câu chuyện của ông ta, rồi để tấm hình cắt vào trong túi xách. Hai người cúi người chào tạm biệt nhau, mỗi người đi về một hướng.
Vụ trấn lột diễn ra quá bất ngờ. Bà nhận thấy một cánh tay ghì chặt lấy cổ mình kéo về phía sau, trong khi một kẻ khác giật lấy chiếc túi xách của bà. Lúc bà cố kêu to, cổ bà bị siết chặt hơn. Một cú đấm vào bụng khiến bà ngạt thở trong giây lát. Bà té xỉu trên mặt đường, không nhận ra ai đã tấn công mình. Mọi chuyện diễn ra quá nhanh, chỉ chừng năm đến mười giây. Một người đàn ông dừng xe đạp lại và một phụ nữ đặt những túi hàng xuống, cùng giúp bà đứng dậy. Nhưng bà không đứng vững, lại té xỉu xuống mặt đường và bất tỉnh.
Lúc bà tỉnh lại đã thấy mình nằm trên một băng ca trong xe cứu thương đang hú còi. Một bác sĩ áp ống nghe lên ngực bà. Bà nhớ là đã bị giật mất túi xách. Nhưng sao bà lại phải nằm trên xe cứu thương? Bà tìm cách hỏi ông bác sĩ, nhưng ông ta chỉ trả lời bằng tiếng Trung Quốc và bà đoán ông ta ra hiệu bảo bà nên yên lặng và không được cử động. Cần cổ bà bị đau do cánh tay của kẻ đó đã kẹp chặt vào yết hầu. Bà có bị thương nặng không? Ý nghĩ này khiến bà sợ hãi. Bà đã có thể bị giết chết trên đường. Hung thủ không chần chừ dù giữa ban ngày ban mặt và người dân cùng xe cộ vẫn đi lại đầy trên phố.
Bà bật khóc. Phản ứng đầu tiên của bác sĩ là bắt mạch ngay cho bà. Đúng lúc ấy xe cứu thương đột ngột dừng lại, cửa được mở ra. Bà được chuyển sang một chiếc băng ca khác, đẩy lăn trên hành lang đèn sáng trưng. Lúc này bà nức nở khóc, không cầm được nước mắt. Bà gần như không để ý thấy người ta đã tiêm cho mình một liều thuốc an thần. Bà cảm thấy mình như đang dập dềnh trên làn sóng biển sau cơn bão, xung quanh là những khuôn mặt người Trung Quốc hình như cũng trôi nổi như bà, những cái đầu nhấp nhô, sẵn sàng đón chào Người cầm lái vĩ đại, khi ông trở lại bờ sông sau chuyến vượt Trường Giang đầy nghị lực.
Lúc tỉnh lại, bà thấy mình nằm trong một căn phòng đèn sáng lờ mờ, rèm cửa kéo kín. Một người canh gác mặc đồng phục ngồi trên chiếc ghế gần cửa ra vào. Lúc thấy bà mở mắt, anh ta đứng dậy rời khỏi phòng. Ngay sau đó có hai người đàn ông khác bước vào, cũng mặc đồng phục. Cùng đi với họ là ông bác sĩ, vị này nói chuyện với bà bằng tiếng Anh giọng Mỹ.
– Bà thấy trong người thế nào?
– Tôi không biết. Tôi thấy mệt. Cổ tôi bị đau.
– Chúng tôi đã khám kỹ cho bà. Bà không hề hấn gì trong vụ việc đáng tiếc này.
– Vậy tại sao tôi lại phải nằm đây? Tôi muốn về khách sạn.
Ông bác sĩ cúi xuống sát người bà hơn chút nữa.
– Trước hết bên cảnh sát muốn được nói chuyện với bà. Chúng tôi thấy khách nước ngoài gặp phải chuyện như thế này ở đất nước chúng tôi là một điều không tốt, khiến chúng tôi hổ thẹn. Những kẻ đã tấn công bà nhất định sẽ phải bị bắt giữ.
– Nhưng tôi không nhìn thấy gì cả.
– Về việc này bà không cần phải nói với tôi.
Ông bác sĩ đứng dậy, gật đầu với hai người mặc đồng phục. Họ kéo ghế lại gần giường bà. Người trẻ hơn làm phiên dịch cho người đàn ông chừng sáu mươi tuổi, lúc ông ta đặt câu hỏi. Ông ta đeo một chiếc kính màu, nên bà không nhìn thấy ánh mắt của ông ta. Ông ta bắt đầu đặt câu hỏi mà không hề giới thiệu về mình, kể cả người đi cùng. Bà cứ có cảm giác người đàn ông lớn tuổi hơn không có thiện cảm với bà.
– Chúng tôi cần phải biết bà đã nhìn thấy gì?
– Hoàn toàn không nhìn thấy gì cả. Sự việc diễn ra quá nhanh.
– Các nhân chứng đều khai thống nhất rằng hai người đàn ông đó không bịt mặt.
– Thậm chí tôi cũng không biết là có hai người.
– Khi ấy bà thấy thế nào?
– Có ai đó dùng cánh tay kẹp chặt lấy cổ tôi. Chúng đến từ phía sau, giật túi xách và đấm vào bụng tôi.
– Bà phải kể cho chúng tôi tất cả những gì bà biết về hai người này.
– Tôi đã nói là tôi hoàn toàn không nhìn thấy gì cả.
– Không cả nhìn thấy mặt chúng?
– Không.
– Bà có nghe thấy giọng nói của chúng không?
– Tôi không nghe thấy chúng nói gì cả.
– Chuyện gì xảy ra ngay trước vụ tấn công này?
– Một người đàn ông đã cắt hình bóng cho tôi. Tôi vừa trả tiền xong và chuẩn bị đi tiếp.
– Bà có nhìn thấy gì trong lúc ngồi để cắt hình bóng không?
– Tôi phải nhìn thấy cái gì mới được chứ?
– Một ai đó đang chờ đợi.
– Tôi còn phải nói là tôi hoàn toàn không nhìn thấy gì hết bao nhiêu lần nữa?
Khi người phiên dịch dịch xong câu đó của bà, người đàn ông nhoài người về phía trước và cao giọng:
– Chúng tôi đặt những câu hỏi này vì chúng tôi muốn bắt được những kẻ đã đánh bà và giật mất túi xách của bà. Vì vậy bà cần phải bình tĩnh mà trả lời.
Câu nói này của ông ta dội lên bà như những cú bạt tai liên tiếp.
– Tôi thấy sao nói vậy.
– Trong túi xách của bà có những gì?
– Một ít nhân dân tệ, đô la Mỹ. Một cái lược, một chiếc khăn mùi soa, mấy vỉ thuốc, một chiếc bút bi, toàn những thứ không quan trọng.
– Chúng tôi tìm thấy hộ chiếu của bà trong túi áo khoác. Bà là người Thụy Điển? Tại sao bà lại ở đây?
– Tôi cùng đi với một người bạn gái trong dịp nghỉ phép.
Người đàn ông đứng tuổi suy nghĩ. Gương mặt của ông ta bất động.
– Chúng tôi không thấy bức cắt hình bóng của bà, ông ta nói sau một lúc im lặng.
– Nó ở trong túi xách của tôi mà.
– Điều này bà không nói lúc chúng tôi hỏi. Bà còn quên thứ gì khác nữa không?
Bà suy nghĩ rồi lắc đầu. Cuộc thẩm vấn kết thúc đột ngột. Người đàn ông đứng tuổi nói gì đó rồi rời khỏi phòng.
– Khi khỏe hơn, bà sẽ được đưa về khách sạn. Chúng tôi sẽ gặp bà một lần nữa để hỏi thêm một số vấn đề, sau đó sẽ hoàn tất biên bản.
Người phiên dịch nói tên khách sạn của bà dù bà chưa hề nhắc đến nó.
– Do đâu mà anh biết tôi sống ở khách sạn đó? Chìa khóa phòng ở trong túi của tôi mà.
– Tuy vậy chúng tôi vẫn có thể biết.
Anh ta cúi chào rồi rời khỏi phòng. Trước khi cánh cửa được khép lại, ông bác sĩ nói giọng Mỹ lại bước vào.
– Chúng tôi còn cần thêm chút thời gian nữa. Một vài mẫu máu thử, đánh giá phim X-quang. Sau đó bà có thể về khách sạn.
Chiếc đồng hồ, bà nghĩ. Bọn chúng đã không giật mất. Bà nhìn đồng hồ. Năm giờ kém mười lăm.
– Khi nào tôi có thể về khách sạn?
– Không lâu nữa.
– Bạn tôi chắc sẽ lo lắng, nếu như không thấy tôi đâu.
– Chúng tôi sẽ đưa bà về khách sạn. Chúng tôi cố gắng làm thế nào để những vị khách nước ngoài không hoài nghi về lòng hiếu khách của chúng tôi, mặc dù đôi khi cũng xảy ra những chuyện không may.
Họ để lại bà một mình trong phòng. Bà nghe có tiếng người gào thét ở đâu đó, một tiếng kêu cô đơn, vọng dọc theo hành lang.
Bà cố nắm bắt xem chuyện gì đã xảy ra. Điều duy nhất cho thấy người ta đã tấn công bà là yết hầu của bà bị đau và chiếc túi xách bị mất. Còn lại mọi chuyện đều như hư ảo: cú sốc bất ngờ khi bị ôm chặt từ phía sau, cú đấm vào bụng, những người đã giúp đỡ bà.
Những người ấy, họ hẳn đã nhìn thấy chuyện gì xảy ra. Cảnh sát đã thẩm vấn họ chưa? Họ vẫn còn ở đó khi xe cứu thương đến chứ? Hay cảnh sát mới là những người tới trước?
Trong đời, chưa bao giờ bà bị tấn công. Bà có bị đe dọa, nhưng chưa có ai đánh bà. Bà nhận ra đây là lần đầu tiên mình bị đánh. Bà đã kết án những kẻ đánh người, bắn người, đâm người bằng dao nhọn. Nhưng chưa bao giờ bà cảm thấy hai chân mình nhũn ra như thế.
Mình đã phải đi sang nửa kia của địa cầu để việc ấy xảy ra, bà nghĩ, ở đây, nơi mà ngay cả một chiếc bàn chải đánh răng cũng không bị mất.
Bà đã học được điều này trong nhiều năm làm thẩm phán: một người bị tấn công sẽ không bao giờ quên được. Nỗi sợ hãi có thể ăn sâu cắm rễ rất lâu, đôi khi suốt cả phần đời còn lại. Nhưng bà không muốn như vậy, không muốn sẽ là một con người sợ hãi trước bóng tối, không bao giờ dám ra đường mà cứ phải liếc trước liếc sau nhìn xung quanh.
Bà quyết định khi về nhà sẽ lập tức kể cho Staffan nghe chuyện này. Tất nhiên bà sẽ kể phiên bản được cắt xén bớt đi nhưng vẫn đủ để chồng bà hiểu được rằng rất có thể bà đã bất ngờ chết trên đường phố chẳng vì lý do gì.
Bà biết mình đang có những phản ứng hoàn toàn bình thường sẽ xuất hiện sau một vụ tấn công: nỗi sợ hãi, tức giận, cảm giác bị làm nhục, sự buồn rầu và ham muốn trả thù. Ngay bây giờ, khi vẫn còn phải nằm lại trên giường bà cũng sẽ không phản đối khi hai gã đàn ông đã tấn công bà bị buộc phải quỳ xuống và mỗi tên nhận một viên đạn vào gáy.
Một cô y tá bước vào phòng giúp bà mặc quần áo. Bà vẫn còn thấy đau ở vùng bụng, đầu gối bị trầy da. Khi cô y tá đưa cho bà lược chải đầu và giơ gương cho bà soi, bà thấy mặt mình thật xanh xao. Thì ra khi sợ hãi, trông mình như thế này đây, bà thầm nghĩ.
Ông bác sĩ bước vào lúc bà ngồi trên giường và đã sẵn sàng trở về khách sạn.
– Có thể ngày mai bà sẽ thấy hết đau ở cổ, ông ta nói.
– Cảm ơn sự chăm sóc của ông. Trở về khách sạn bằng cách nào đây?
– Xe của bên cảnh sát sẽ đưa bà về.
Ngoài hành lang đã có ba cảnh sát chờ sẵn. Một người cầm trên tay một khẩu tiểu liên nhìn đến phát hoảng. Bà đi thang máy với họ xuống dưới tầng trệt và lên xe của cảnh sát. Bà không biết mình đang ở đâu, cả đến tên bệnh viện nơi bà được điều trị, bà cũng không biết. Phía xa, bà như nhìn thấy một mặt của Tử Cấm Thành, nhưng bà cũng không chắc lắm.
Họ không bật còi hụ. Bà biết ơn vì đã không bị đưa về khách sạn với ánh đèn nhấp nháy màu xanh. Bà xuống xe trước cửa khách sạn. Chiếc xe đã phóng đi ngay khi bà chưa kịp quay đầu lại. Bà vẫn tự hỏi làm sao họ lại biết được mình ở khách sạn nào.
Bên quầy lễ tân, bà giải thích mình đã đánh mất chiếc chìa khóa nhựa, lập tức bà nhận được một chiếc mới. Việc này diễn ra quá nhanh chóng, có lẽ chiếc chìa khóa đã được chuẩn bị sẵn cho bà. Cô gái đứng sau quầy lễ tân mỉm cười. Cô ta đã biết, bà nghĩ. Cảnh sát đã tới đây thông báo với khách sạn về vụ tấn công.
Trong lúc tới thang máy, bà tự nhủ mình nên biết ơn vì sự giúp đỡ của họ mới phải. Nhưng thay vì thế, bà lại cảm thấy bất an. Nỗi bất an không tan biến khi bà mở cửa bước vào phòng và nhận ra rằng đã có ai đó có mặt ở đây, ngoài cô dọn phòng ra. Đương nhiên có thể Karin đã tạt về lấy cái gì đó hoặc là để thay quần áo. Không loại trừ chuyện ấy. Nhưng điều gì có thể ngăn cảnh sát bí mật ghé qua căn phòng này? Hoặc là một ai khác? Ở Trung Quốc chắc chắn phải có một lực lượng cảnh sát mật có mặt ở khắp mọi nơi nhưng không để bị nhìn thấy.
Chính chiếc túi nhựa đựng bộ mạt chược đã vạch mặt vị khách xa lạ đó. Birgitta lập tức nhận ra nó không còn nằm ở chỗ cũ. Bà nhìn quanh phòng, từ từ, để không bỏ qua bất cứ điều gì. Nhưng chỉ có chiếc túi nhựa là không nằm đúng vị trí lúc trước.
Bà đi vào phòng tắm. Chiếc túi đựng đồ trang điểm của bà vẫn ở chỗ mà buổi sáng bà đã để, vẫn y nguyên như cũ.
Bà trở ra phòng ngoài, ngồi xuống chiếc ghế gần cửa sổ. Va li của bà vẫn nằm đó, nắp được mở ra. Bà đứng dậy kiểm tra đồ đạc bên trong, nhấc ra từng thứ áo xống một. Nếu như có ai đó đã lục lọi thì họ cũng không để lại dấu vết gì.
Mãi tới lúc chạm đáy va li bà mới sững lại. Ở đây phải có chiếc đèn pin và hộp diêm. Những thứ này bà luôn đem theo trong các chuyến du lịch sau cái lần đi nghỉ ở Madeira hồi một năm trước khi kết hôn và phải trải qua lần mất điện kéo dài hai mươi tư tiếng đồng hồ. Hôm đó bà đi dạo chơi vào buổi tối, leo lên các mỏm đá dựng đứng ở ngoại vi Funchal. Bỗng xung quanh bà tối om. Phải mất mấy tiếng đồng hồ bà mới mò mẫm về tới được khách sạn. Từ lần đó trở đi lúc nào trong va li của bà cũng có bao diêm. Trên hộp diêm, có nhãn hiệu màu xanh lá cây của một tiệm ăn ở Helsingborg.
Bà giũ lại đống quần áo một lần nữa, nhưng không thấy bao diêm đâu cả. Hay là bà đã để nó trong túi xách? Đôi khi cũng xảy ra như vậy. Tuy nhiên bà không nhớ đã lấy nó ra khỏi va li. Nhưng ai lại đi mò vào lục lọi đồ trong một phòng khách sạn để lấy đi bao diêm cơ chứ?
Bà lại ngồi xuống chiếc ghế bên cửa sổ. Những giờ đồng hồ vừa qua ở bệnh viện, khi ấy mình đã thấy là không cần thiết, bà nghĩ. Họ hy vọng sẽ biết được gì khi thẩm vấn mình? Có thể đó chỉ là cái cớ giữ mình lại cho tới khi cảnh sát lục soát xong căn phòng? Nhưng tại sao? Rốt cuộc mình mới là người bị tấn công!
Có tiếng gõ cửa. Bà giật mình. Nhìn qua lỗ cửa, bà thấy có một vài cảnh sát đứng ở ngoài hành lang. Bà mở cửa, đầy lo lắng. Đó là những cảnh sát khác, không phải những người ở bệnh viện. Trong số họ có một người phụ nữ nhỏ nhắn, trạc tuổi Roslin. Bà ta là người lên tiếng:
– Chúng tôi chỉ muốn biết chắc chắn là mọi chuyện đã ổn.
– Cảm ơn.
Bà ta tỏ thái độ muốn được vào trong phòng. Birgitta Roslin bước qua một bên. Một cảnh sát đứng lại ở trước cửa, còn người thứ ba đứng ngoài hành lang. Người phụ nữ dẫn Birgitta Roslin đến bên mấy chiếc ghế gần cửa sổ, đặt cặp tài liệu lên mặt bàn. Có gì đó rất khó tả trong thái độ của bà ta khiến cho Birgitta ngạc nhiên.
– Tôi muốn bà xem một vài tấm ảnh. Chúng tôi đã có lời khai của các nhân chứng, có thể chúng tôi biết kẻ nào đã gây ra vụ này.
– Nhưng tôi không nhìn thấy gì cả. Chỉ trừ một cánh tay. Làm sao tôi có thể nhận dạng được?
Bà cảnh sát không buồn nghe, cứ lấy một tập ảnh từ trong cặp tài liệu trải ra trước mặt Birgitta. Tất cả đều là những thanh niên còn trẻ.
– Có thể bà đã nhìn thấy một cái gì đó mà không nhớ ngay ra được.
Birgitta Roslin thấy có phản đối cũng vô nghĩa. Bà xem từng tấm ảnh và thầm nghĩ có thể một ngày nào đó những thanh niên này sẽ phải chết vì những gì mình đã làm. Đương nhiên là bà không nhận ra ai trong số họ. Bà lắc đầu nói:
– Tôi chưa bao giờ nhìn thấy họ.
– Bà có chắc vậy không?
– Tôi chắc chắn.
– Không một ai trong số họ?
– Không một ai.
Nữ cảnh sát cất những tấm ảnh đó vào cặp tài liệu. Birgitta Roslin để ý thấy móng tay bà ta bị gãy.
– Chúng tôi sẽ tóm được bọn người đã tấn công bà, bà ta nói trước khi rời khỏi phòng. Bà còn ở lại Bắc Kinh bao lâu?
– Bốn ngày.
Bà ta gật đầu, cúi đầu chào rồi ra khỏi phòng.
Điều này thì bà biết quá rõ rồi, Roslin thầm nghĩ, cảm thấy phẫn nộ khi móc sợi xích an toàn vào chốt cửa. Sao lại còn hỏi tôi? Tôi không dễ bị đánh lừa thế đâu.
Bà đến bên cửa sổ, nhìn xuống đường phố. Mấy người cảnh sát ra khỏi khách sạn, chui vào ô tô và nó lập tức phóng đi. Bà lên giường nằm. Bà vẫn chưa biết điều gì ở người phụ nữ kia đã khiến mình chú ý.
Bà nhắm mắt và nghĩ mình nên gọi điện về nhà.
Lúc bà thức dậy, bên ngoài trời đã tối. Cổ bà đã đỡ đau. Nhưng lúc này ký ức về vụ tấn công có vẻ như đáng sợ hơn. Bà có một cảm giác kỳ lạ rằng điều tệ hại nhất vẫn còn ở phía trước. Bà cầm máy di động gọi về Helsingborg. Staffan không có nhà, cũng không bắt máy di động. Bà để lại tin nhắn, định gọi cho các con rồi lại đổi ý.
Bà nghĩ đến chiếc túi xách tay của mình, cố nhớ lại xem trong túi có những thứ gì. Bà đã bị mất sáu mươi đô la. Nhưng bà đã cất phần lớn tiền mặt của mình trong chiếc két nhỏ ở phòng khách sạn. Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu, bà đứng dậy mở tủ quần áo. Két sắt vẫn đóng. Bà ấn số bí mật rồi kiểm lại số tiền. Hoàn toàn không mất một đồng nào cả. Bà đóng két và khóa lại. Bà vẫn nghĩ đến thái độ kỳ lạ của nữ cảnh sát. Bà tới bên cửa ra vào, cố gắng nắm bắt điều mình đã bỏ qua. Vô ích. Bà lại nằm lên giường, lật giở trong đầu một lần nữa những tấm ảnh người ta đã cho bà xem.
Bỗng bà ngồi bật dậy. Bà đã mở cửa. Nữ cảnh sát ra hiệu bảo bà tránh sang một bên. Rồi bà ta tức khắc đi ngay đến chỗ mấy chiếc ghế ở gần cửa sổ. Bà ta không hề nhìn sang hai bên, không nhìn vào cửa phòng tắm để mở, không nhìn vào căn phòng có chiếc giường đôi.
Birgitta Roslin chỉ thấy có một cách giải thích duy nhất cho hiện tượng này: trước đó nữ cảnh sát đã tới căn phòng này. Bà ta không cần phải xem lại vì đã biết căn phòng như thế nào rồi.
Birgitta Roslin trân trân nhìn chiếc bàn nơi bà ta đã để cặp tài liệu với những tấm ảnh lên trên đó. Một ý nghĩ ban đầu rối rắm dần trở nên rõ ràng hơn trong đầu bà. Bà đã không nhận ra khuôn mặt nào trong các tấm ảnh. Và nếu đó chính là điều mà cảnh sát muốn kiểm tra? Rằng bà không thể nhận dạng được một ai? Đây không phải là việc để rồi qua đó sẽ bắt được thủ phạm, mà hoàn toàn ngược lại. Cảnh sát muốn chắc chắn rằng thực sự bà hoàn toàn không nhìn thấy gì hết.
Nhưng tại sao? Bà lại đến đứng bên cửa sổ, lại nghĩ về điều đã từng nghĩ đến tại Hudiksvall.
Chuyện đã xảy ra thật quá nghiêm trọng, quá bí ẩn, tới mức bà khó mà tưởng tượng nổi.
Nỗi sợ hãi bất ngờ xâm chiếm bà. Phải hơn một tiếng đồng hồ bà mới vượt qua được nó và đi xuống tiệm ăn của khách sạn.
Trước khi bước qua cửa kính bà đưa mắt nhìn quanh. Nhưng không có một ai.