Vì sao những ô cửa trong ngôi nhà của viên álférez lại đóng kín? Đâu rồi những đường nét thô kệch cùng chiếc áo sơ mi bằng vải flannel của mụ Medusa hay Nàng thơ thuộc Lực lượng Cảnh sát Vụ khi đoàn rước đang đi qua? Phải chăng Doña Consolacion đã nhận thức được rằng trán của ả chằng chịt những đường gân dày đặc trông giống như những ống dẫn toàn giấm và mật đắng thay vì máu, cùng điếu xì gà to tướng ngậm trên đôi môi tím tái và cái liếc mắt đầy đố kỵ trông thật khó coi biết bao, nên khi nhượng bộ trước một phút giây hào phóng, ả đã không muốn làm tổn hại đến niềm vui của dân chúng bằng vẻ ngoài gớm ghiếc ấy? Ả mà có những phút giây hào phóng chắc chỉ có trong Thời Đại Hoàng Kim! Căn nhà chẳng treo đèn lồng cũng chẳng bày cờ hoa, trông ảm đạm một cách kỳ lạ giữa lúc thị trấn đang tưng bừng hội hè, đúng như lời Sinang đã nhận xét, và nếu không vì người lính canh đang đi lại trước cửa thì trông nó có vẻ chẳng khác nào một ngôi nhà hoang.
Một thứ ánh sáng lờ mờ hắt ra từ phòng khách bừa bộn, rọi qua những ô cửa ố vàng làm bằng vỏ sò đã bám đầy mạng nhện và đóng một lớp bụi dày. Bà chủ nhà, theo cái thói quen lười biếng vốn có, đang thiu thiu ngủ trên một chiếc ghế bành rộng. Ả vẫn ăn mặc như mọi khi, nghĩa là lôi thôi và kỳ dị: đầu quấn một chiếc khăn pañuelo mà từ dưới đó thò ra vài lọn tóc rối bù, bên ngoài khoác chiếc áo sơ mi bằng vải flannel xanh chùm lên một chiếc áo khác có lẽ từng một thời trắng tinh, còn bên dưới là chiếc váy phai màu phác họa rõ nét đôi chân gầy guò, phẳng lì đang chồng lên nhau và run lên bần bật. Từ khuôn miệng ả phả ra những làn khói mờ ảo mà ả thẫn thờ thổi về bất cứ hướng nào mà ánh mắt ả vô tình chạm tới mỗi khi mở mắt. Giá như lúc ấy Don Francisco de Cañamaque có mặt để nhìn thấy ả, hẳn ông sẽ tưởng ả là một tù trưởng bản địa hay một tay phù thủy mankukúlam nào đó, rồi sau đó dùng thứ ngôn ngữ chợ búa do chính ông chế ra dành riêng cho ả để bình phẩm về phát hiện kỳ thú này của mình.
Sáng hôm ấy, ả đã không đi lễ nhà thờ, không phải vì ả không muốn thế, trái lại ả rất muốn ra mắt đám đông và nghe giảng đạo, ngặt nỗi người chồng của ả đã không cho phép. Lời từ chối ấy, như thường lệ, luôn đi kèm với hai hoặc ba lời lăng mạ, chửi thề và cả những cú đá dọa nạt. Viên álférez thừa biết mụ vợ mình ăn mặc lố bịch và trông chẳng khác nào một “ả nhân tình của lính”, thế nên hắn chẳng đời nào muốn bày ả ra cho người lạ và những kẻ từ thủ phủ đến chiêm ngưỡng. Nhưng ả nào có hiểu cho cái ý ấy. Ả thừa biết mình xinh đẹp và quyến rũ, rằng ả có phong thái của một bà hoàng và ăn mặc đẹp đẽ, lộng lẫy hơn cả Maria Clara – người lúc nào cũng quấn khăn tapis trong khi ả diện toàn váy dài tha thướt. Do đó, viên álférez buộc phải đe dọa: “Hoặc câm mồm lại, hoặc tao đá cổ mày cút về cái xứ quỷ quái của mày đấy!” Doña Consolacion chẳng màng việc phải quay về quê hương dưới mũi giày của chồng, nhưng ả bắt đầu nung nấu ý định trả thù.
Khuôn mặt sầm sì của mụ đàn bà này chưa bao giờ mang lại cảm giác an toàn cho bất kỳ ai, kể cả những lúc ả son phấn là lượt, thế nhưng sáng hôm ấy nó lại khiến đám gia nhân được một phen đứng ngồi không yên, nhất là khi họ thấy ả lang thang khắp các ngóc ngách trong nhà trong một sự im lặng đến đáng sợ, tựa hồ như đang mưu tính điều gì vô cùng độc ác hoặc hiểm độc. Ánh mắt ả phản chiếu tia chớp lóe lên từ đôi mắt của một con rắn khi bị tóm gọn và chuẩn bị bị bóp bẹp; nó lạnh lùng, sắc lẹm và thấu tận tâm can, ẩn chứa một thứ gì đó vừa quyến rũ, gớm ghiếc lại vừa tàn nhẫn. Chỉ một sơ suất nhỏ nhất, một tiếng động lạ khẽ khàng nhất cũng đủ để khơi mào cho những lời thóa mạ cay độc đâm thẳng vào tận tâm can từ miệng ả, nhưng chẳng một ai dám lên tiếng đáp trả, bởi vì việc ngụy biện sẽ chỉ là một tội lỗi tày đình làm trầm trọng thêm tình hình mà thôi.
Ngày cứ thế trôi qua. Chẳng gặp phải bất kỳ chướng ngại vật nào ngáng đường – chồng ả đã được mời đi dự tiệc bên ngoài – bầu tâm trạng của ả ngập tràn mật đắng, từng tế bào trong cơ thể ả dường như bị tích điện và chực chờ bùng nổ thành một cơn cuồng phong hận thù. Mọi thứ xung quanh ả đều cụp lại như những đóa hoa trước hơi thở đầu tiên của cơn bão lớn, khiến ả chẳng tìm thấy một sự kháng cự nào, cũng chẳng có lấy một điểm tựa hay chỗ cao nào để trút bỏ cơn thịnh nộ đang hừng hực trong lòng. Lính túc trực và gia nhân đều tìm cách lánh xa ả. Để không phải nghe thấy những âm thanh vui tươi rộn rã ngoài kia, ả đã ra lệnh đóng kín các cửa sổ và dặn dò người gác cổng tuyệt đối không cho bất cứ ai bước vào. Ả quấn chặt một chiếc khăn quanh đầu như sợ nó sắp nổ tung, và dẫu mặt trời vẫn đang rọi chiếu ngoài kia, ả vẫn ra lệnh thắp đèn khắp nhà.
Như chúng ta đã thấy, Sisa đã bị bắt vì tội gây rối trật tự công cộng và bị giải về đồn. Viên álférez lúc đó không có mặt, thế nên người phụ nữ bất hạnh ấy đã phải trải qua suốt đêm ngồi trên một chiếc ghế dài với dáng vẻ thẫn thờ, bỏ mặc. Hôm sau, khi viên álférez nhìn thấy bà và lo ngại cho sự an toàn của bà giữa những ngày tháng hỗn loạn này, đồng thời cũng chẳng muốn vướng vào một rắc rối khó xử nào, hắn đã căn dặn đám lính phải chú ý chăm sóc, đối xử tử tế và cho bà ăn uống đầy đủ. Cứ thế, người đàn bà điên đã trải qua hai ngày như vậy.
Đêm nay, chẳng biết vì khoảng cách quá gần với ngôi nhà của Capitan Tiago đã vô tình mang giai điệu buồn bã của Maria Clara văng vẳng đến tai ả, hay vì những ký ức nào đó vừa đánh thức những khúc ca xưa cũ trong lòng, bất luận nguyên nhân là gì, Sisa bỗng cất tiếng hát bằng một chất giọng ngọt ngào và đầy u uất khúc kundíman thuở trẻ. Đám lính nghe thấy bỗng im bặt; những giai điệu ấy đánh thức trong họ ký ức về những ngày tháng trước khi họ bị vẩn đục tâm hồn. Doña Consolacion cũng nghe thấy tiếng hát ấy giữa nỗi chán chường tột độ của mình, và khi biết được kẻ đang cất tiếng hát là ai, sau vài khoảnh khắc trầm ngâm suy nghĩ, ả liền ra lệnh áp giải Sisa đến ngay lập tức. Một nụ cười tựa hồ như thoáng qua trên đôi môi khô khốc của ả.
Khi Sisa được dẫn vào, bà bước đi bình thản, chẳng mảy may tỏ chút kinh ngạc hay sợ hãi nào. Bà dường như chẳng coi ả là phu nhân hay bà chủ, và điều đó đã chạm đến lòng tự ái của Nàng thơ, khiến ả phải tìm cách khơi gợi sự nể sợ và kính trọng. Ả húng hắng ho, ra hiệu cho đám lính lui ra ngoài, rồi với tay lấy chiếc roi da của chồng, cất giọng đầy hiểm độc bảo người đàn bà điên: “Mau lên, magcantar icau!”
Dĩ nhiên là Sisa chẳng thể hiểu nổi thứ tiếng Tagalog ấy, và sự dốt nát đó vô tình làm dịu bớt cơn thịnh nộ của mụ Medusa, bởi một trong những “đức tính” tuyệt vời của vị phu nhân này là cố gắng tỏ ra không biết tiếng Tagalog, hoặc ít nhất là giả vờ như không biết. Cố tình phát âm sao cho thật tệ hại, ả muốn qua đó gán cho mình vẻ ngoài của một nữ quý tộc châu Âu chính hiệu, đúng như cách mà ả vẫn thường khoe khoang. Nhưng ả làm thế lại hóa hay, bởi vì nếu ả đày đọa tiếng Tagalog, thì tiếng Tây Ban Nha cũng chẳng khá khẩm hơn là bao, từ ngữ pháp cho đến cách phát âm, mặc cho người chồng, những chiếc ghế hay đôi giày trong nhà đã làm hết sức có thể để dạy dỗ ả.
Một trong những từ ngữ ngốn của ả nhiều công sức hơn cả những ký tự tượng hình từng làm khó Champollion chính là cái tên Filipinas. Chuyện kể rằng vào ngày cưới, khi đang trò chuyện cùng chồng – lúc ấy hãy còn là một hạ sĩ – ả đã thốt lên từ Pilipinas. Người hạ sĩ thấy mình có trách nhiệm phải uốn nắn vợ bèn tát vào đầu ả một cái và dạy bảo: “Hãy gọi là Felipinas chứ, đồ ngu! Mày không biết đất nước khốn kiếp của mày được đặt tên theo vua Felipe sao?”
Người phụ nữ đang chìm đắm trong tuần trăng mật ngoan ngoãn vâng lời và thưa: Felepinas. Người hạ sĩ thấy vợ mình đã tiến gần hơn đến đáp án liền tăng thêm vài bạt tai kèm theo lời răn đe: “Nhưng này, há cái miệng ra mà phát âm từ Felipe xem nào! Đừng có quên đấy; mày biết nhà vua chứ, Đức vua Felipe – vị đời thứ năm ấy... Hãy nói Felipe, rồi thêm hậu tố nas vào sau, trong tiếng Latinh có nghĩa là ‘những hòn đảo của người da đỏ’, thế là thành tên đất nước khốn kiếp của mày rồi đấy!”
Consolacion, lúc bấy giờ vẫn chỉ là một mụ thợ giặt, vừa xoa những vết bầm tím vừa lặp lại với vẻ thiếu kiên nhẫn: “Fe-li-pe, Felipe—nas, Fe-li-pe-nas, Felipinas, thế hả?”
Hạ sĩ nhìn thấy viễn cảnh tương lai mịt mờ. Sao lại có chuyện Felipenas thay vì Felipinas cơ chứ? Chỉ có một trong hai khả năng: hoặc là Felipenas, hoặc là phải gọi là Felipi! Thế là hôm đó, một cách cực kỳ khôn ngoan, ông ta đành gác lại câu chuyện. Bỏ mặc vợ đấy, ông ta đi tìm sách để tra cứu. Đến đây thì sự kinh ngạc của ông ta đã lên đến đỉnh điểm: ông dụi mắt – để xem nào – chầm chậm thôi nhé! F-i-l-i-p-i-n-a-s, Filipinas! Hóa ra tất cả những cuốn sách được in ấn cẩn thận đều viết như thế – cả ông lẫn vợ đều trật lất!
“Thế này là thế nào nhỉ?” ông lẩm bẩm. “Lịch sử lại có thể nói dối ư? Chẳng phải cuốn sách này viết rằng Alonso Saavedra đã đặt tên cho đất nước này để vinh danh hoàng tử Don Felipe đó sao? Cái tên ấy bị bóp méo đi đường nào? Lẽ nào cái ông Alonso Saavedra đó lại là một người bản địa cơ chứ?”
Mang theo những mối nghi ngờ ấy, ông đi tham khảo ý kiến của trung sĩ Gomez – người thời trẻ từng có nguyện vọng muốn làm linh mục. Chẳng thèm liếc nhìn người hạ sĩ lấy một cái, viên trung sĩ phả ra một ngụm khói thuốc rồi ra vẻ ta đây đáp lời: “Thời cổ đại người ta phát âm là Filipi chứ không phải Felipe. Nhưng từ khi chúng ta, những con người hiện đại, bị nhiễm phong cách Pháp hóa, chúng ta không thể chịu nổi việc có hai chữ i đứng liền kề nhau nữa, thế nên những người có học thức, đặc biệt là ở Madrid – anh đã bao giờ đến Madrid chưa? – những người có học thức, như tôi đã nói đấy, bắt đầu đổi chữ i đầu tiên thành chữ e trong rất nhiều từ. Người ta gọi đó là cách tân hóa bản thân đấy.”
Viên hạ sĩ tội nghiệp chưa từng đặt chân đến Madrid bao giờ – và đây chính là nguyên nhân khiến ông ta không tài nào giải nổi câu đố: ối giồi ôi khối thứ phải học ở Madrid! “Thế ra bây giờ người ta phải nói là...”
“Theo phong cách cổ điển chứ, đồ ngốc! Đất nước này đã có văn minh quái đâu! Theo phong cách cổ điển ấy, Filipinas!” Gomez cao giọng đáp lại một cách đầy khinh miệt.
Viên hạ sĩ, dẫu có là một nhà ngữ học tồi thì ít ra cũng là một người chồng tốt. Những gì ông vừa học được thì mụ vợ ở nhà cũng phải được thụ giáo, thế là ông bắt tay ngay vào việc giáo dục vợ: “Consola, mày gọi cái đất nước khốn kiếp của mày là gì nào?”
“Tao phải gọi thế nào chứ? Thì gọi theo đúng những gì mày dạy tao chứ bộ: Felifinas!”
“Tao ném cái ghế vào mặt mày bây giờ, đồ khốn nạn này! Hôm qua mày còn phát âm theo kiểu hiện đại chuẩn hơn cơ mà, nhưng bây giờ người ta phải phát âm theo lối cổ: Feli, ý tao là Filipinas cơ!”
“Này, nhớ cho kỹ là tao không phải đồ cổ nhé! Mày đang nghĩ cái quái gì thế hả?”
“Đừng có lôi thôi nữa! Nói Filipinas mau!”
“Tao không thèm. Tao không phải mụ già đồ cổ nào hết, tao mới có chưa đầy ba mươi tuổi đầu nhé!” ả đáp trả, vừa xắn tay áo lên chuẩn bị sẵn sàng cho một trận chiến.
“Nói mau, đồ khốn, nếu không tao phang cái ghế này vào đầu mày đấy!”
Consolacion liếc thấy hành động của chồng, ngẫm nghĩ một thoáng, rồi bắt đầu thở hồng hộc lắp bắp: “Feli-, Fele-, File—”
Bốp! Chát! Chiếc ghế đã kết thúc câu nói dở dang ấy. Và thế là bài học khép lại bằng những cú đấm đá, cào cấu và bạt tai trời giáng. Viên hạ sĩ túm lấy tóc ả; ả chồm tới cấu ngay chỏm râu dê của chồng, nhưng chẳng thể cắn được vì hàm răng đã lỏng lẻo của mình. Hắn hét toáng lên, buông tay ra và cầu xin tha thứ. Máu bắt đầu tuôn rơi, một bên mắt đỏ ngầu hơn bên kia, chiếc áo sơ mi rách tơi tả, bao nhiêu thứ bại lộ trước thanh thiên bạch nhật, chỉ riêng từ Filipinas là không tài nào thốt lên nổi.
Những sự việc tương tự cứ lặp đi lặp lại mỗi khi vấn đề ngôn ngữ được đem ra bàn luận. Viên hạ sĩ, vừa theo dõi tiến trình học ngoại ngữ của vợ vừa đau xót tính toán rằng chỉ mười năm nữa thôi là mụ vợ nhà ông sẽ quên sạch sành sanh cách nói chuyện, và quả nhiên mọi chuyện diễn ra đúng như thế thật. Khi mới cưới, ả vẫn còn biết chút tiếng Tagalog và có thể giao tiếp bập bõm bằng tiếng Tây Ban Nha, nhưng giờ đây, vào thời điểm diễn ra câu chuyện của chúng ta, ả chẳng còn nói được bất kỳ thứ tiếng nào nữa. Ả đã trở nên nghiện việc biểu đạt cảm xúc bằng các ký hiệu – và trong số đó ả toàn chọn những cử chỉ đanh thép và gây ấn tượng mạnh nhất – đến mức ả hoàn toàn có thể chấp cả nhà phát minh ra thứ ngôn ngữ quốc tế Volapuk.
Do đó, Sisa lại có được may mắn là không tài nào hiểu nổi ả đang nói gì, thế là mụ Medusa giãn nhẹ đôi lông mày đang cau lại, trong khi một nụ cười thỏa mãn bừng sáng trên khuôn mặt; không còn nghi ngờ gì nữa, ả không biết tiếng Tagalog, ả chính là một nữ quý tộc orofea thực thụ rồi!
“Này nhóc, bảo nó hát bằng tiếng Tagalog đi! Nó có hiểu tao nói gì đâu, nó chẳng hiểu tiếng Tây Ban Nha đâu!”
Người đàn bà điên hiểu ý cậu nhóc và bắt đầu cất tiếng hát Khúc Ca Đêm. Doña Consolacion ban đầu lắng nghe với một nụ cười khẩy, nhưng nụ cười ấy cứ nhạt dần rồi biến mất khỏi khóe môi ả từ lúc nào. Ả trở nên tập trung, rồi nghiêm túc, và thậm chí có đôi chút trầm ngâm. Giọng hát, tình cảm ẩn giấu trong từng câu chữ và chính giai điệu bài hát ấy đã chạm đến con người ả – trái tim khô cằn vàéo hắt ấy có lẽ đang khao khát những giọt mưa giội rửa biết bao. Ả hiểu rõ lắm chứ: “Nỗi buồn, cái lạnh và sự ẩm ướt trút xuống từ bầu trời khi màn đêm buông tấm choàng bao phủ”, khúc kundíman cứ thế vang lên, dường như cũng đang trút cả xuống cõi lòng đang héo mòn của ả. “Đóa hoa héo tàn và phai sắc từng một thời kiêu hãnh khoe mã giữa ban ngày, khao khát những lời ca tụng và ngập tràn lòng kiêu hãnh, đến lúc hoàng hôn buông xuống, đầy hối hận và vỡ mộng, đang nỗ lực vươn những cánh hoa rũ rượi lên bầu trời, tìm kiếm một khoảng râm mát để nép mình ẩn náu và ra đi trong tĩnh lặng, tránh xa những lời chế giễu của thứ ánh sáng từng chứng kiến thời hoàng kim của nó, tránh xa việc phải nhìn ngắm sự phù phiếm trong niềm kiêu hãnh của chính mình, và khẩn cầu được dăm ba giọt sương mai nhỏ lệ khóc thương... Loài chim đêm rời khỏi chốn ẩn náu cô độc, trong hốc cây cổ thụ lâu đời, và làm xáo trộn sự cô đơn tĩnh mịch của những khoảng không bao la...”
“Không, đừng hát nữa!” ả thét lên bằng một thứ tiếng Tagalog chuẩn xác, vừa đứng phắt dậy với vẻ đầy kích động. “Đừng hát nữa! Những câu thơ ấy làm ta đau đớn.”
Người đàn bà điên im bặt. Cậu nhóc thốt lên: “Abá! Mụ ta biết nói tiếng Tagalog kìa!” rồi đứng trân trân nhìn bà chủ với ánh mắt đầy ngưỡng mộ. Nhận ra mình đã lỡ miệng bộc lộ điểm yếu, ả cảm thấy vô cùng hổ thẹn, nhưng vì bản tính chẳng phải dạng hiền lành gì của một người phụ nữ bình thường, nỗi hổ thẹn ấy nhanh chóng biến tướng thành cơn thịnh nộ và lòng căm hùn; thế là ả xua tay đuổi cổ cậu nhóc vô tích sự ra ngoài và bồi thêm một cú đá trời giáng đóng sầm cánh cửa lại sau lưng nó.
Vừa vặn chiếc roi da trong đôi bàn tay đang run lên vì bấn loạn, ả đi đi lại lại vài vòng quanh phòng, rồi đột ngột khựng lại trước mặt người đàn bà điên, cất giọng lạnh lùng ra lệnh bằng tiếng Tây Ban Nha: “Nhảy đi!” Nhưng Sisa vẫn đứng im bất động.
“Nhảy, mau nhảy đi chứ!” ả lặp lại với một giọng điệu đầy hiểm ác.
Người đàn bà điên ngẩn ngơ nhìn ả với đôi mắt dại ra, vô hồn, trong khi vị phu nhân nâng một bên tay lên, rồi lại nhấc bên kia lên và lắc lư chúng, nhưng hoàn toàn vô ích vì Sisa chẳng thể hiểu nổi. Thế là ả bắt đầu tự nhảy nhót và uốn éo thân hình, cố gắng khuyến khích Sisa bắt chước theo mình. Văng vẳng từ đằng xa là tiếng nhạc của đoàn rước đang tấu lên một khúc hành khúc trang nghiêm và hùng hồn, nhưng Doña Consolacion thì nhảy múa một cách cuồng loạn theo một tiết tấu khác, theo một thứ âm thanh khác đang gầm rú vang dội trong tận tâm trí ả. Sisa ngẩn ngơ đứng nhìn mà chẳng mảy mang bước chân, trong khi ánh mắt toát lên vẻ tò mò và một nụ cười nhàn nhạt tựa hồ như thoáng hiện trên đôi môi nhợt nhạt: điệu nhảy của mụ đàn bà kia khiến bà thấy buồn cười. Thấy vậy, ả khựng lại như thể đang thẹn quá hóa giận, vung chiếc roi da lên – thứ vũ khí kinh hoàng vốn gieo rắc nỗi kinh hoàng cho bao kẻ trộm cắp và binh lính, được làm tại Ulango và được viên álférez trau chuốt thêm bằng những sợi dây kẽm xoắn – rồi gằn giọng: “Đến lượt mày nhảy đấy – nhảy mau!”
Ả bắt đầu dùng roi quất nhẹ vào đôi chân trần của người đàn bà điên. Khuôn mặt Sisa co rúm lại vì đau đớn và bà buộc phải dùng đôi tay để che chắn.
“A ha, mày bắt đầu chuyển động rồi đấy chứ!” ả thét lên với một niềm vui man dại, chuyển nhịp độ từ chậm rãi sang nhanh dần đều đầy hứng khởi.
Sisa bất hạnh cất lên một tiếng thét đau đớn và vội vã nhấc thốc chân lên.
“Mày phải nhảy, đồ da đen khốn kiếp...!” Tiếng roi vung vẩy réo lên xé gió.
Sisa ngã quỵ xuống sàn nhà, hai tay ôm lấy đầu gối trong khi trân trân ngước nhìn kẻ hành hạ mình bằng đôi mắt trợn ngược trừng trừng. Hai vệt roi quất phăng vào bả vai khiến bà buộc phải đứng phắt dậy, và thứ thoát ra từ cổ họng người phụ nữ bất hạnh ấy không chỉ là một tiếng kêu đơn thuần mà là một tiếng hú xé lòng. Chiếc áo sơ mi mỏng tang rách tơi tả, da thịt rách bươm và máu tươi bắt đầu rỉ ra.
Cảnh tượng giỏ máu khơi dậy bản năng loài hổ; dòng máu của nạn nhân đã đánh thức con mãnh thú trong người Doña Consolacion. “Nhảy đi, đồ khốn, nhảy mau! Quỷ tha ma bắt cái mụ sinh ra mày đi!” ả gào thét. “Nhảy, nếu không tao quất cho mày chết tươi thì thôi!” Nói đoạn, ả dùng một tay túm lấy Sisa, tay kia vung roi quất xối xả, vừa nhảy nhót quay cuồng quanh nạn nhân.
Cuối cùng thì người đàn bà điên cũng hiểu ra và bắt đầu làm theo bằng những động tác khua khoay tay chân vụng về, cứng nhắc. Một nụ cười thỏa mãn cong cớn hiện lên trên khóe môi của “người cô giáo”, nụ cười của một ả Mephistopheles phiên bản nữ khi huấn luyện thành công một đại đệ tử xuất chúng. Ở nụ cười ấy chứa đựng đầy rẫy sự thù hận, khinh miệt, giễu cợt và tàn nhẫn; dẫu có bật ra những tiếng cười quỷ quái đến đâu đi chăng nữa cũng chẳng thể biểu lộ hết sự tột cùng của nó.
Cứ thế, mải mê chìm đắm trong niềm vui bệnh hoạn của cảnh tượng trước mắt, ả hoàn toàn không hay biết về sự xuất hiện của người chồng cho đến khi hắn tung một cú đá trời giáng mở toang cửa bước vào. Viên álférez xuất hiện với gương mặt xanh mét và tối sầm, và khi chứng kiến những gì đang diễn ra trước mắt, hắn ném một cái nhìn giận dữ đến tột cùng về phía vợ mình – kẻ vẫn đứng nguyên tại chỗ và nhe răng cười nhạo hắn một cách trơ trẽn.
Viên álférez nhẹ nhàng đặt tay lên vai của nữ vũ công kỳ quặc nọ hết mức có thể rồi ra hiệu bắt ả dừng lại. Người đàn bà điên thở dài thườn thượt rồi từ từ khuỵu xuống sàn nhà ngập chìm trong vũng máu của chính mình.
Căn phòng chìm trong sự tĩnh lặng đến nghẹt thở. Viên álférez thở hồng hộc, trong khi vợ hắn vẫn dán mắt vào hắn với ánh mắt đầy truy vấn. ả nhặt chiếc roi lên và cất giọng ngọt sệt, nũng nịu hỏi: “Anh bị làm sao thế hả? Thậm chí anh còn chẳng thèm chúc em một câu tối tốt lành nữa cơ đấy.”
Viên álférez chẳng thèm đáp lời, thay vào đó hắn gọi cậu nhóc gia nhân lại và dặn: “Đưa người phụ nữ này ra ngoài, bảo con Marta lấy cho bà ấy bộ quần áo khác và chăm sóc vết thương. Cho bà ấy ăn gì đó và chuẩn bị một chiếc giường đàng hoàng. Hãy cẩn thận đấy, đừng để ai đối xử tệ bạc với bà ấy! Ngày mai bà ấy sẽ được đưa về nhà Señor Ibarra.”
Nói đoạn, hắn cẩn thận khép cửa lại, sập chốt cài rồi bước đến sát vợ. “M mày đang chọc tức để tao giết tươi mày đấy nhé!” hắn gầm lên, hai bàn tay siết chặt thành những nắm đấm.
“Anh bị cái quái gì thế hả?” ả hỏi, vừa đứng phắt dậy vừa lùi ra xa hắn.
“Tao bị cái gì á!” hắn thét lên bằng một giọng rền vang sấm sét, phun ra một tràng chửi thề rồi giơ trước mặt ả một tờ giấy chi chít những nét chữ nguệch ngoạc. “Chẳng phải mày đã viết cái bức thư này gửi cho ngài thị trưởng, trong đó bịa đặt rằng tao nhận húp háp tiền đút lót để làm ngơ cho nạn cờ bạc hoành hành đấy à, hả? Tao cũng chịu không hiểu sao tao vẫn chưa nện cho mày một trận nhừ tử đến chết đi được.”
“Giỏi thì nhào vô xem nào! Thử làm đi nếu mày dám!” ả đáp trả bằng một tràng cười khẩy đầy thách thức. “Cái kẻ muốn nện chết tao ấy, ít ra phải là một người đàn ông đích thực hơn mày nhiều cơ!”
Nghe thấy lời lăng mạ cay đắng ấy, hắn tức điên người nhưng tầm mắt lại vướng ngay chiếc roi da. Chộp lấy một cái đĩa trên bàn, hắn ném thẳng vào đầu ả, nhưng vốn đã quá nhẵn mặt với những trận đòn roi kiểu này, ả lẹ làng né người sang một bên khiến chiếc đĩa vỡ tan tành trên vách tường. Số phận của một cái tách và đĩa lót đi kèm cũng chẳng khá khẩm hơn là bao.
“Đồ hèn nhát!” ả thét lên nghênh ngang; “mày sợ không dám bén mảng lại gần tao chứ gì!” Và để chọc tức hắn hơn nữa, ả nhổ thẳng một bãi nước bọt vào mặt hắn.
Viên álférez giận đến mức tối sầm cả mặt mày, gầm lên một tiếng rồi lao sầm vào ả, nhưng với tốc độ chớp nhoáng đến kinh ngạc, ả vung roi quất thẳng một nhát vào mặt hắn rồi co giò chạy vụt vào căn phòng phía trong, đóng sầm cửa lại và sập chốt cài chặt cứng. Gầm rú vì đau đớn và tức giận, hắn lao theo, nhưng chỉ kịp tông đầu vào cánh cửa đóng kín, khiến hắn tức hộc máu mồm và tuôn ra một tràng chửi rủa không ngớt.
“Mạt kiếp cái giống nhà mày, cái đồ lợn cái! Mở cửa ra, mau mở cửa ra không tao đập nát đầu mày bây giờ!” hắn gào thét, đấm đá cả tay lẫn chân thình thịch vào cánh cửa.
Chẳng có một lời đáp trả nào vọng ra, thay vào đó là tiếng kéo lê ghế và những chiếc hòm lộc cục tựa hồ như ả đang dựng lên một chiến lũy kiên cố bằng đồ đạc trong nhà. Căn nhà rung chuyển bần bật dưới những cú đá và tràng chửi rủa của viên álférez.
“Đừng có bước vào đây, cấm bén mảng vào!” cái giọng chua ngoét vang lên từ phía bên trong. “Nếu mày dám ló mặt vào, tao bắn thủng sọ đấy.”
Dần dần, hắn có vẻ bình tĩnh trở lại và tự lôi thôi giải khuây bằng cách đi đi lại lại dọc căn phòng giống hệt như một con mãnh thú bị nhốt trong chuồng sắt.
“Ra đường mà hóng gió cho mát cái đầu đần độn của mày đi!” mụ vợ vẫn tiếp tục cất giọng châm chọc, lúc này có vẻ như ả đã hoàn tất mọi công tác chuẩn bị phòng thủ.
“Tao thề có Chúa, nếu bắt được mày thì đến Chúa cũng chẳng cứu nổi cái mạng mày đâu, con lợn cái già khú đế này!”
“Ừ, bây giờ thì mày muốn sủa gì mà chẳng được. Hồi sáng chính mày chứ ai, có cho tao đi lễ nhà thờ đâu nào! Mày có cho tao thực hiện bổn phận tôn giáo của mình đâu cơ chứ!” ả đáp trả với một giọng điệu mỉa mai cay độc mà chỉ có riêng mụ ta mới có tài sử dụng điêu luyện đến thế.
Viên álférez đội mũ sắt lên đầu, chỉnh đốn lại y phục đôi chút rồi sải những bước nặng nề bước ra ngoài, nhưng chỉ vài phút sau lại quay về mà không phát ra dù chỉ là một tiếng động nhỏ, bởi hắn đã cởi phăng đôi giày ra từ bao giờ. Bám sát những cuộc cãi vã cơm bữa này, đám gia nhân vốn đã quá nhà chán ngấy ngán, thế nhưng chiêu trò tháo giày mới lạ này lại thu hút sự chú ý của họ, khiến họ đưa mắt nhìn nhau nháy nháy ra hiệu. Viên álférez lặng lẽ kéo ghế ngồi phịch xuống bên cạnh bức bình phong và kiên nhẫn chờ đợi suốt hơn nửa tiếng đồng hồ.
“Mày thực sự đã biến đi rồi hay vẫn còn lảng vảng ở đấy hả, đồ dê già?” giọng nói bên trong lại cất lên hỏi với giọng điệu thay đổi liên tục các mỹ từ và cao vút tông giọng. Cuối cùng thì người bên trong cũng bắt đầu dọn dẹp đống đồ đạc từng món một. Hắn nghe thấy tiếng động và mỉa mai cười nhạt.
“Này nhóc, ông chủ của mày đi vắng rồi à?” Doña Consolacion cất tiếng gọi.
Theo hiệu lệnh bằng mắt của viên álférez, cậu nhóc đáp ngay: “Dạ thưa bà, ngài ấy đi ra ngoài rồi ạ.”
Một tràng cười khoái chí vang lên từ phía ả khi thanh chốt cửa được kéo lụt ra. Chầm chậm, người chồng đứng dậy, cánh cửa hé mở một khoảng nhỏ...
Một tiếng thét xé rúng động, âm thanh của một thân hình ngã rầm xuống đất, những tiếng chửi thề, gào thét, nguyền rủa, những cú đấm đá thụp bịp, những giọng nói khàn đặc – nào ai có thể biết chuyện gì thực sự đã xảy ra trong bóng tối của căn phòng đó?
Khi cậu nhóc bước ra khu bếp, nó liền đưa mắt ra hiệu đầy ẩn ý với tay đầu bếp, gã liền cằn nhằn với nó: “Mày rồi sẽ phải trả giá đắt cho xem.”
“Tôi á? Đằng nào thì cả cái thị trấn này cũng phải trả giá thôi! Mụ ta hỏi tôi là ông chủ đã đi vắng chưa, chứ có hỏi là lão ta đã quay về chưa đâu cơ chứ!”