Noli Me Tangere: Ung Thư Xã Hội

Lượt đọc: 107 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ii

❊ ❊ ❊

Và kẻ thứ ba bước tới là mụ ban phát uy quyền cho những tín điều u tối,

Silabbat-paramasa, ả phù thủy gian hùng,

Khoác chiếc áo rực rỡ muôn phương mang vỏ bọc Đức tin khiêm nhường,

Nhưng hoài bão lừa gạt linh hồn qua những nghi lễ cùng lời kinh nguyện;

Ả là kẻ giữ chìa khóa những cánh cửa ngục tối âm ti

Và mở tung Thiên đàng. “Ngươi có dám,” mụ cất lời,

“Dẹp bỏ kinh thư thánh hiến, phế truất các vị thần của chúng ta,

Làm trống không mọi đền đài, và xô ngã

Đạo luật nuôi dưỡng hàng giáo sĩ và chống đỡ giang sơn này chăng?”

Nhưng Đức Phật đáp: “Những gì ngươi bắt ta gìn giữ

Chỉ là hình thức qua mau, còn Chân lý tự do vẫn trường tồn;

Hãy lui về chốn tăm tối của ngươi đi.”

SIR EDWIN ARNOLD, Ánh sáng Châu Á.

“Hỡi những con người đơn thuần, các người mới hiểu biết làm sao về phúc lộc mà mình đang hưởng thụ! Chẳng có nạn đói, chẳng có cảnh nương thân trần trụi, cũng chẳng có thời tiết khắc nghiệt nào làm khó được các người. Chỉ với khoản thuế bảy real mỗi năm, các người được miễn mọi thứ đóng góp. Các người chẳng cần phải đóng cửa then cài. Các người không phải lo sợ lính đồn trú đến tàn phá ruộng đồng, hay giày xéo các người ngay dưới mái hiên nhà mình. Các người gọi kẻ cai trị mình là ‘cha’. Có lẽ sẽ đến một ngày các người trở nên văn minh hơn, rồi các người sẽ bùng nổ trong một cuộc cách mạng; và các người sẽ bừng tỉnh trong kinh hãi trước tiếng ầm ĩ của bạo loạn, để rồi thấy máu chảy tràn qua những cánh đồng yên ả này, thấy giá treo cổ và máy chém dựng lên giữa những quảng trường chưa từng một lần phải chứng kiến cảnh xử tử.”6 Vị du khách người Tây Ban Nha đã triết lý như vậy vào năm 1842, ngay khi thời kỳ *dolce far niente* ấy dần đi đến hồi kết. Từ lâu, những con người có tầm nhìn xa trông rộng đã bắt đầu nêu lên tại nghị viện Tây Ban Nha vấn đề về tương lai của quần đảo Philippines, hướng tới một chương trình hành động cụ thể để chăm sóc họ trong các điều kiện hiện đại và điều chỉnh [xxiv] mối quan hệ giữa họ với mẫu quốc. Thế nhưng, đó chỉ là những lời tiên tri của Cassandra – chiếc đồng hồ thời gian đang điểm nhịp cho kẻ kế vị Rome, y như nó từng điểm cho chính Rome vậy.

Thật là một đề tài kỳ thú khi tìm hiểu xem, sau ba thế kỷ bị kìm nén tư duy và bóp méo tâm hồn, sau ba thế kỷ ép một thần dân đang lớn vào chiếc áo bó chật hẹp của tư duy và hành động thời trung cổ, sau ba thế kỷ đảo ngược quy luật chọn lọc tự nhiên bằng việc liên tục loại bỏ óc sáng kiến và tinh thần lãnh đạo bản địa, ngọn lửa bùng phát sẽ bùng lên chính xác ở nơi nào. Rằng đâu đó sẽ có một cuộc nổi dậy là điều chắc chắn như việc cây cối sẽ luôn vươn về phía ánh sáng, dẫu trong những điều kiện bất lợi nhất; bởi bản chất con người chẳng qua là hợp lực của những thế lực vĩnh cửu luôn tương tác không ngừng và không thể cưỡng lại xung quanh cũng như bên trong con người, và sớm muộn gì hợp lực ấy cũng sẽ tự bộc lộ qua tư duy hoặc hành động.

Sau ba thế kỷ Tây Ban Nha thống trị tôn giáo tại Philippines, việc những kẻ được bảo hộ quay mũi giáo chống lại chính những người thầy đã áp dụng các phương pháp ấy lên họ là điều có thể đoán trước. Cũng chẳng có gì là quá ngạc nhiên khi ở một số vùng xuất hiện xu hướng rõ rệt muốn thoái lùi về thời kỳ dã man nguyên thủy; thế nhưng, việc một thiên tài sáng tạo – một nhà thơ hay nhà tiên tri – lại đồng thời xuất hiện giữa một cộng đồng mà nhìn chung còn chưa bước qua giai đoạn xã hội thị tộc hay làng xã, thì quả thực là một hiện tượng tâm lý học, đồng thời khơi gợi lên câu hỏi có phần táo bạo rằng liệu bản chất chung của con người có tồn tại những khía cạnh nào mà các bậc bác học vẫn chưa thể đưa vào sơ đồ đo đạc nhân trắc học của họ hay không.

Nằm bên bờ tây hồ Bay giữa lòng Philippines là cụm làng Kalamba, vốn do các linh mục Dòng Tên lập nên từ những ngày đầu cuộc chinh phạt, rồi đến khi họ bị trục xuất vào năm 1767 thì được triều đình tiếp quản và sau đó chuyển giao cho Dòng Đa Minh. Dưới sự chăm sóc của dòng tu này, những cánh đồng màu mỡ quanh vùng đã biến thành một trong những điền trang giàu có nhất của giáo hội. Nơi đây khó có thể gọi là một thị trấn, ngay cả theo tiêu chuẩn Philippines, mà đúng hơn là một ngôi làng chợ búa, tọa lạc ngay cửa ngõ của vùng đất trù phú bắc Batangas, trên tuyến đường thủy mở ra Manila và thế giới bên ngoài. Xung quanh làng là những cánh đồng lúa xanh mướt, trong khi đỉnh Makiling sừng sững uy nghi gần đó qua những đổi thay của mây trời và nắng ấm, bao quát khúc cong nên thơ của bờ hồ cùng làn nước gợn sóng lăn tăn ở [xxv] phía nam. Hướng về phía đông, thấp thoáng những đỉnh núi tím mờ của Banahao và Cristobal, và chỉ cách đó vài dặm về phía tây nam, ngọn Taal đang gầm rú mờ ảo, sôi sục và rung chuyển mặt đất, cất lên những tiếng gầm gừ và rên rỉ như cơn đau đẻ của trái đất. Đây là tâm điểm của một vùng đất giàu truyền thuyết và văn hóa dân gian, chìm trong giấc ngủ qua những buổi trưa bụi bặm khi tán lá cacao rủ xuống vì oi bức, thả hồn mơ màng qua những đêm trăng bạc, rồi bừng tỉnh hai hoặc ba lần mỗi tuần giữa tiếng dâm ran vô tận và tiếng chát chát không dứt của một khu chợ phương Đông – nơi những đám đông ồn ào coi việc buôn bán vừa là sinh kế, vừa là niềm vui và sự giải trí.

Ngay đối diện khu chợ ấy, trong một ngôi nhà quay mặt ra nhà thờ làng, vào năm 1861 đã cất tiếng khóc chào đời – trong đại gia đình của một trong những tá đìa khấm khá nhất thuộc điền trang Dòng Đa Minh – một cậu bé sau này sẽ dung hòa trong con người mình những nét tính cách ưu tú nhất của phương Đông cùng những tinh hoa mà nền văn hóa Tây Ban Nha và châu Âu có thể bồi đắp. Cậu sẽ là người gánh trên vai nỗi đau khổ của đồng bào để bước đi trên con đường đau khổ của đấu tranh và hy sinh, kết thúc bằng sự diệt vong của chính mình giữa đống hoang tàn đổ nát của một hệ thống mà sự sụp đổ của nó lại do chính tay cậu góp phần thúc đẩy mạnh mẽ.

José Rizal-Mercado y Alonso, đó là tên của cậu khi tách mình ra khỏi sự hỗn độn của hệ thống tên họ người Philippines, mang dòng máu Mã Lai với một chút ít huyết thống Tây Ban Nha và Trung Hoa pha trộn từ xa xưa. Phả hệ của cậu cho thấy có vài nhân vật nổi bật về trí tuệ và tinh thần độc lập, đáng chú ý nhất là cặp Abelard và Eloise phiên bản Philippines – những người vì niềm đam mê học hỏi và chữ nghĩa chung đã đến với nhau và trở thành ông bà ngoại của cậu – cùng một người bác họ từng là nhà thám hiểm kiêm học giả, người đã định hướng những bước học hành đầu tiên cho cậu bé. Nhờ thế, ngay từ đầu nền tảng giáo dục của cậu đã vô cùng đặc biệt. Tâm trí cậu cũng sớm bị khuấy động bởi những rắc rối đang âm ỉ trong cộng đồng, và ngay từ những ngày thơ bé nhận thức được sự đời, cậu đã chứng kiến xung quanh mình biết bao điều bất công, oan trái mà một cường quyền bành trướng luôn gây ra khi đối phó với một thần dân yếu thế hơn. Một chi tiết thời thơ ấu cũng hiện lên vô cùng rõ nét, rất đáng được ghi chép lại: mẹ cậu dường như là một phụ nữ có học thức vượt trội so với thời đại và hoàn cảnh lúc bấy giờ. Vui mừng trước sự thông minh nhanh nhẹn của con trai, bà đã dạy cậu đọc tiếng Tây Ban Nha từ một cuốn Kinh Thánh bản Vulgata bằng thứ tiếng đó mà bà đã xoay sở cách nào để có được và giữ gìn cẩn thận – câu chuyện xưa cũ [xxvi] về Người Phụ Nữ và Cuốn Sách, vẫn lặp đi lặp lại không biết bao nhiêu lần trong những hoàn cảnh kỳ lạ, nhưng chẳng có hoàn cảnh nào kỳ lạ hơn thế. Cha cậu là người khá giả, thế nên lên tám tuổi, cậu được gửi lên Manila để theo học tại ngôi trường mới của Dòng Tên. Dĩ nhiên, trước đó cậu đã kịp khiến những người hàng giềng chất phác phải kinh ngạc bởi sự lưu loát đến kỳ lạ khi làm thơ bằng tiếng mẹ đẻ.

Cậu bắt đầu việc học tại một ngôi nhà tư trong lúc chờ đợi cơ hội được vào học tại Ateneo – tên gọi của trường Dòng Tên. Chính tại nơi đây, cậu đã chứng kiến một trong những người thầy của mình là cha Burgos bị dẫn đi chịu cái chết nhục nhã trên máy chém xiết cổ sau biến cố năm 1872. Sự kiện này để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm trí thơ ngây của cậu, và thực tế, dường như nó là một trong những nhân tố cốt lõi nhào nặn nên tư tưởng và định hình con đường sự nghiệp của cậu. Ảnh hưởng ấy mang tính lâu dài, và phán đoán sau này của cậu đã củng cố niềm tin rằng một bất công tồi tệ đã xảy ra. Điều đó được minh chứng qua tác phẩm quan trọng thứ hai của cậu, cuốn *El Filibusterismo*, viết khoảng năm 1891 và bị chính tác giả gọi nhầm là một “tiểu thuyết” – bởi thực chất nó là một chuỗi những bức tranh bằng ngôn từ cấu thành lời buộc tội đanh thép đối với toàn bộ chế độ. Tác phẩm này được đề tặng ba vị linh mục hành quyết năm 1872 bằng những lời lẽ sau: “Tôn giáo, trong việc từ chối hạ nhục các ngài, đã khiến tội danh quy cho các ngài trở thành điều đáng ngờ; chính quyền, trong việc bao bọc vụ án của các ngài trong màn sương mù và bóng tối, đã tạo lý do để người ta tin rằng có một sai lầm nào đó đã được thực hiện trong những phút giây định mệnh; và toàn thể nhân dân Philippines, khi tôn kính ký ức của các ngài và gọi các ngài là những bậc tử đạo, tuyệt đối không hề thừa nhận tội lỗi của các ngài.” Phản hồi duy nhất mà cậu nhận được cho việc này là tám viên đạn súng Remington găm vào lưng.

Tại Ateneo, cậu nhanh chóng thu hút sự chú ý và trở thành người được mọi người yêu mến nhờ sự chuyên cần trong học tập, sự nhiệt thành đậm chất thơ khi tham gia vào mọi nghi lễ đạo đức, cùng tính cách ôn hòa. Ngay từ đầu, cậu đã bị xem là “kẻ kỳ cục” – bởi tâm lý chung thường nhìn nhận mọi thứ không vừa khuôn khổ cũ theo cách đó. Cậu có bản tính khá mộng mơ và trầm lặng, thích đọc tiểu thuyết Tây Ban Nha hơn là tham gia các trò chơi với bạn bè cùng trang lứa. Và trong tất cả các nền văn học có thể đặt vào tay một đứa trẻ giàu trí tưởng tượng, còn gì có thể khơi gợi mạnh mẽ hơn ở một tâm trí dễ tiếp thu niềm khát khao cháy bỏng về cuộc sống, gia đình, quê hương và tất cả những gì con người trân quý, hơn là thứ âm điệu du dương của ngôn ngữ [xxvii] xứ Castila với sắc thái rực rỡ và bản chất nồng nàn của nó?

Các hoạt động của cậu rất đa dạng; ngoài việc học chính, cậu còn thể hiện năng khiếu đáng kể trong việc chạm khắc gỗ và nặn sáp. Trong giai đoạn này, cậu đã giành được vài giải thưởng cho các sáng tác thơ bằng tiếng Tây Ban Nha. Dù đôi khi hình thức còn mang nét non trẻ và bám sát các mô hình văn thơ Tây Ban Nha, chúng vẫn thỉnh thoảng hé lộ những tia sáng tư duy và cách chuyển ý thể hiện rõ nét tính độc đáo. Ngay trong những sáng tác đầu đời ấy đã phảng phất âm hưởng u buồn, nốt trầm buồn bã thấm đẫm trong tất cả thơ ca của cậu, đạt đến đỉnh cao bi cảm trong những vần thơ được viết tại phòng giam trước lúc hy sinh. Cậu nhận bằng cử nhân theo hệ thống giáo dục Tây Ban Nha vào năm 1877, nhưng vẫn tiếp tục học cao học ngành nông nghiệp tại Ateneo, đồng thời theo đuổi khóa học triết học tại Đại học Santo Tomas của Dòng Đa Minh. Tại đây, vào năm 1879, cậu đã làm cho các bậc bác học kinh ngạc khi gọi Philippines là “patria” – quê hương – trong một bài thơ đoạt giải. Dị giáo chính trị này của một người sinh ra tại các hải đảo lúc bấy giờ không thu hút sự chú ý quá mức, vì người ta xem đó chỉ là sự ngông cuồng của một nam sinh; thế nhưng, dường như do một định mệnh kỳ lạ, sang năm sau cậu lại một lần nữa khơi ngào sự phẫn nộ của các tu sĩ, đặc biệt là Dòng Đa Minh, khi giành giải nhất vượt qua một số thành viên của dòng tu này trong một cuộc thi văn học được tổ chức để tôn vinh tác giả cuốn *Don Quixote*.

Nền giáo dục cổ lỗ sĩ tại Santo Tomas nhanh chóng làm cậu chán ngản và dẫn đến những bất đồng với các giảng viên, khiến cậu hướng tầm mắt sang Tây Ban Nha. Kế hoạch cho chuyến đi và thời gian lưu trú tại đó phải được thực hiện với sự cẩn trọng tối đa, bởi gia đình cậu sẽ chẳng gặp may chút nào nếu lộ chuyện con trai của một tá đìa trên điền trang vốn thuộc tài sản hiến tặng của trường đại học lại đang du học ở châu Âu. Cậu đặt chân đến lãnh thổ Tây Ban Nha trước tiên tại Barcelona, cái nôi của chủ nghĩa cấp tiến. Nơi đây, cậu được nghe rất nhiều lời bàn tán cách mạng, nhưng chúng dường như chẳng để lại mấy ấn tượng trong cậu, bởi suốt sự nghiệp của mình, sự rộng mở trong tư duy và ý chí kiên định luôn được thể hiện qua thái độ kiên quyết phản đối mọi hình thức bạo lực.

Tại Madrid, cậu theo học các ngành y khoa và triết học, nhưng một thực tế còn mang ý nghĩa quan trọng hơn cả thành tích học tập chính là việc cậu kiên trì học ngoại ngữ và [xxviii] đọc sách một cách ngấu nghiến. Cậu giao du với những người Philippines khác đang hoạt động theo lối khá phô trương – những người bị định hướng sai lầm nhiều hơn là được dẫn dắt bởi cái gọi là phe tự do Tây Ban Nha nhằm đòi hỏi sự đối xử khoan dung hơn cho Philippines. Thế nhưng, dù ở giữa họ, cậu không hòa nhập vào họ; thói quen ham học hỏi và tính nền nã, kín đáo khó lòng khiến cậu trở thành tâm điểm hay được yêu thích giữa những kẻ đang tận hưởng cuộc sống rộng mở và phóng túng ngoài kia. Hơn nữa, cậu nhanh chóng vượt xa họ về mặt tư duy khi nhận ra rằng họ đang bắt đầu từ cái đuôi của công việc. Ngay từ thời điểm đó, bằng một nhận thức suýt soát được xem là cảm hứng thiên tài – bởi trong nền tảng học vấn của cậu chẳng có dấu hiệu nào gợi ý điều đó – cậu đã nhận ra rằng niềm hy vọng cho đồng bào mình nằm ở việc cải thiện điều kiện sống của họ, rằng bất kỳ lợi ích thực sự nào cũng phải bắt đầu từ những con người tăm tối ở quê nhà, và việc áp dụng những cải cách mà họ chưa chuẩn bị tinh thần đón nhận sẽ trở nên vô ích, thậm chí nguy hiểm cho họ. Đây hoàn toàn không phải là quan điểm phổ biến trong số các đồng đạo của cậu và đã dẫn đến những bất đồng nghiêm trọng với các thủ lĩnh của họ. Bởi phong cách của họ là con đường lao tâm khổ tứ chạy theo những ảo ảnh hào nhoáng, vạch ra những kế hoạch vĩ đại rồi gửi về quê nhà kêu gọi gây quỹ để duy trì công tác tuyên truyền – mà thực chất phần lớn là những buổi tiệc tùng và yến tiệc dành cho các chính khách Tây Ban Nha.

Quan điểm của cậu, như được bộc lộ qua các trước tác thuần túy chính trị, có thể được trình bày súc tích, bởi cậu sở hữu tài năng diễn đạt chưa từng chừa lại bất kỳ chỗ trống nào cho sự hoài nghi về ý nghĩa. Đồng bào cậu có quyền tự nhiên được sinh trưởng và phát triển, và mọi trở ngại ngáng đường sự sinh trưởng và phát triển ấy đều phải bị dẹp bỏ. Cậu nhận thức rõ ràng rằng quần chúng đồng bào mình đang chìm đắm trong nghèo đói và ngu dốt, khom lưng luồn cúi trước quyền lực chính trị, bò lê quỳ lạy trước mê tín dị đoan; nhưng đối với cậu, đây không phải là đề tài để đùa cợt hay thờ ơ phớt lờ – đó là một tình trạng nghiêm trọng cần được cải thiện, và hy vọng nằm ở việc cấy vào khối xã hội tê liệt ấy chất men của nỗ lực cá nhân có ý thức nhằm phát triển một nhân cách rõ nét, đầy trách nhiệm. Cậu vô cùng trân trọng mọi điều tốt đẹp mà Tây Ban Nha đã làm, nhưng không hề thấy điều đó mâu thuẫn với ước nguyện làm sao để lòng biết ơn ấy ngày càng dâng cao, qua đó gắn kết Philippines với mẫu quốc bằng [xxix] những mối dây bền chặt của tư tưởng và lợi ích chung; bởi những trước tác thời kỳ đầu của cậu không hề phảng phất điều gì ngoài sự ngưỡng mộ, tôn kính và lòng trung thành dành cho Tây Ban Nha cùng các thể chế tiên tiến của xứ sở ấy. Vấn đề đối với cậu rất rõ ràng và cậu luôn cố gắng giữ cho nó được rạch ròi như thế.

Quả thực, chính chứng cận thị quản lý – xuất phát phần lớn từ lòng tham mù quáng – đã dung túng cho các dòng tu tu sĩ đánh đồng những phản đối nhằm vào hệ thống áp bức của họ với một cuộc tấn công nhắm vào chủ quyền Tây Ban Nha, từ đó kéo sự việc từ tồi tệ đến mức tồi tệ hơn, khơi sục ác cảm và cuối cùng đẩy đến bước đường cùng tuyệt vọng. Chính sách ích kỷ, nông cạn này cũng hợp lý và vững chắc chẳng khác gì cái ý tưởng nền tảng của nó – thứ thường xuyên được tung hô với vẻ đáng ngờ hệt như một nỗ lực ngụy biện nhằm che đậy sự lười biếng tư duy bằng một khái niệm chung chung lấp lánh: “rằng người Philippines chỉ là một đứa trẻ to xác và cần đến một chính phủ gia trưởng vững chắc”. Đó là một tư tưởng hoàn toàn phớt lờ quy luật tự nhiên rằng khi một đối tượng dễ bị tác động rơi vào tầm ảnh hưởng của một thế lực mạnh mẽ hơn từ một nền văn minh cao hơn, kẻ đó rất có thể sẽ mãi là một đứa trẻ – có lẽ là một đứa trẻ còi cọc – chừng nào còn bị đối xử như thế. Lô-gic ấy cũng có lý và công bằng chẳng khác gì việc nhốt một đứa trẻ sơ sinh vào trong những dải băng quấn rồi lại trách nó không biết cách đi đứng. Không một sinh linh nào chịu mãi làm một đứa trẻ khỏe mạnh đến cuối đời; thay vào đó, như Tây Ban Nha đã phải trả giá đắng cay, chúng sẽ rất dễ dàng – khi đấng sinh thành ngày một suy yếu và chúng bắt đầu cảm nhận được sức mạnh của mình – chứng tỏ là một đối tượng khó bề cai quản, qua đó đảo ngược quy luật tự nhiên mà sự soีย sánh trên đã gợi ý, và đẩy nền chính trị kiểu Sancho-Panza ấy cuối cùng phải ngụp lặn qua một mớ hỗn độn tuyệt vọng để đi đến một kết quả ngớ ngẩn chẳng kém gì chính phủ trên đảo của ông ta.

Rizal không phải là một trong số những kẻ cách mạng cuồng tín, vụ lợi – những kẻ chỉ chăm chăm lật đổ chính quyền rồi duy trì hệ thống cũ với bản thân họ ngồi vào những vị trí đặc quyền của những kẻ cai trị trước đây; cậu cũng không thể bị xếp vào hàng ngũ những kẻ nhiệt thành lầm đường lạc lối – những kẻ bằng những đòi hỏi quá khích và hành xử bồng bột chỉ càng tiếp thêm sức mạnh cho những kẻ đang nắm quyền. Cậu nhận thức đầy đủ rằng những sự kìm kẹp mà người dân đã quen chịu đựng để sắp đặt cuộc sống của họ cần phải được gỡ bỏ dần dần khi họ tiến bộ dưới sự dẫn dắt thích hợp và có khả năng tự điều chỉnh để thích nghi với những điều kiện mới mẻ, tốt đẹp hơn. Họ nên tiếp thu tất cả những điều hay lẽ phải được trao tặng từ bất kỳ [xxx] nguồn nào, đặc biệt là những gì phù hợp với bản chất mà họ có thể hấp thụ trọn vẹn. Cậu chưa từng biểu lộ sự kiên nhẫn nào đối với những người đồng bào của mình – những nhân vật ghê tởm nhất trong các tác phẩm của cậu chính là loại người này – những kẻ tự biến mình thành những con khỉ, con vẹt bắt chước, trang hoàng bản thân bằng một lớp vỏ mỏng những đặc tính ngoại lai đáng ngờ, nhưng lại chẳng có lấy một nhân cách hay sự vững vàng nào của riêng mình, xét cho cùng chỉ trưng ra một cảnh tượng khiến quỷ sứ phải cười chê và thiên thần phải rơi lệ, thậm chí còn thiếu cả cái ưu điểm trông có vẻ dễ coi của một sản phẩm nuôi trong nhà kính.

Đúc kết lại thành một hình thức cụ thể, ước nguyện của lớp lãnh đạo trẻ tuổi đầy tư duy đang lớn lên trong hàng ngũ người Philippines là biến Quần đảo Philippines thành một tỉnh của Tây Ban Nha, có đại diện tại Nghị viện Cortes cùng với quyền tự do ngôn luận và chỉ trích đi kèm. Tất cả những gì được yêu cầu trực tiếp chỉ là một sự tham gia đáng kể vào việc quản lý các công việc địa phương, đồng thời cắt giảm quyền lực độc đoán của các quan chức cấp thấp, đặc biệt là các linh mục quản xứ thuộc các dòng tu – những kẻ cấu thành trở ngại chính cho nền giáo dục và sự phát triển của người dân.

Tuy nhiên, các dòng tu tu sĩ nắm quyền lực tối cao, không chỉ tại Philippines mà còn ở cả Madrid, nơi họ không hề tiếc rẻ việc sử dụng một phần tài sản của mình để duy trì tầm ảnh hưởng. Nỗ lực của những người Philippines ở Tây Ban Nha, dẫu bị giám sát chặt chẽ, dường như không hề nhận được sự quan tâm quá mức nghiêm túc nào, bởi nhà chức trách Tây Ban Nha chắc chắn thừa hiểu rằng chừng nào những thanh niên ấy còn ở lại Madrid viết các bản tuyên ngôn bằng thứ ngôn ngữ mà chưa đầy một phần trăm đồng bào của họ có thể đọc được, và ném tiền vào các thành viên của Nghị viện Cortes, thì khó lòng có nguy cơ xảy ra bạo loạn ở Philippines. Hơn nữa, bản thân các bộ trưởng Tây Ban Nha dường như cũng có thiện cảm với những nguyện vọng ôn hòa hơn của người Philippines – một thực tế được minh chứng qua số lượng các thay đổi được ra lệnh định kỳ trong bộ máy hành chính Philippines; thế nhưng họ hoàn toàn bất lực trước sức mạnh và tầm ảnh hưởng địa phương của các dòng tu tôn giáo. Cứ thế, mọi việc lê lết bước đi trong mệt mỏi cho đến khi xuất hiện một biến cố bất ngờ và chấn động, một cuộc đấu giữa David và Goliath, và chắc chắn chẳng có ai ngoài một thiên tài mới có thể mài giũa được “hòn đá nhẵn” đủ sức giáng đòn chí mạng vào tên khổng lồ.

Người ta kể rằng ý tưởng viết một tiểu thuyết mô tả thực trạng tại quê hương lần đầu tiên đến với Rizal từ việc đọc cuốn *Do Thái lưu lạc* của Eugène [xxxi] Sue khi cậu còn là sinh viên ở Madrid, dẫu cho hình mẫu cho phần lớn tác phẩm rõ ràng là những phác thảo thú vị trong *Don Quixote*, bởi chính tác giả sở hữu một cách xuất sắc cái chạm tay mang phong cách Cervantes – thứ đưa những điều bình thường, thậm chí tầm thường, vươn lên những đỉnh cao nghệ thuật. Tuy nhiên, phải đến khi cậu trải qua một thời gian ở Paris để tiếp tục việc học y khoa, và sau đó là ở Đức, thì mới có bất kỳ kết quả cụ thể nào thành hình. Dẫu vậy, vào năm 1887, cuốn *Noli Me Tangere* đã được in tại Berlin, tại một cơ sở mà người ta đồn rằng tác giả đã làm việc một phần thời gian ở đó với tư cách là thợ sắp chữ để trang trải chi phí trong lúc tiếp tục việc học. Một ấn bản giới hạn đã được xuất bản nhờ sự trợ giúp tài chính từ một người bạn đồng hành người Philippines, rồi được gửi đến Hồng Kông để từ đó lén lút đưa vào Philippines.

Vào thời điểm tác phẩm ra đời, nhan đề *Noli Me Tangere* (“Chớ chạm vào tôi”) mang một sự phù hợp kỳ lạ. Không chỉ gợi ý một cách tài tình về sự so sánh với loài hoa thông thường mang tên ấy, thuật ngữ này trong y học còn được dùng để chỉ một khối u ung thư ác tính ăn mòn mọi xương cốt và mô trong cơ thể; và việc tác giả nghĩ đến ý nghĩa sau cùng này được thể hiện qua lời đề tặng cũng như qua phần tổng kết tình hình Philippines trong cuộc đối thoại cuối cùng giữa Ibarra và Elias. Thế nhưng, trong một bức thư gửi cho một người bạn ở Paris vào thời điểm đó, chính tác giả cho biết nhan đề được lấy từ phân cảnh trong Sách Phúc Âm khi Chúa Cứu Thế phục sinh hiện ra với Ma-đalê-na, người mà Ngài đã ngỏ những lời ấy – một phân cảnh từng là đề tài của vài bức tranh nổi tiếng.

Liên quan đến vấn đề này, thật thú vị khi ghi nhận suy nghĩ của chính cậu về tác phẩm, cùng tuyên bố thẳng thắn của cậu về những gì cậu đã cố gắng thực hiện, được đưa ra ngay khi cuốn sách chuẩn bị xuất bản: “*Noli Me Tangere*, một thành ngữ được lấy từ Phúc Âm Thánh Lu-ca,7 có nghĩa là *chớ chạm vào tôi*. Cuốn sách chứa đựng những điều mà cho đến nay chưa ai từng lên tiếng, bởi chúng quá nhạy cảm đến mức chưa từng cho phép bất kỳ ai dù là ai đụng chạm đến. Về phần mình, tôi đã mưu sự làm điều mà chưa một ai khác sẵn sàng làm: Tôi đã dám đáp lại những lời vu khống đã giáng xuống đầu chúng tôi và đất nước chúng tôi từ bao thế kỷ nay. Tôi đã viết về tình trạng xã hội và đời sống, [xxxii] về những niềm tin, hy vọng, khát khao, những lời phàn nàn và nỗi buồn đau của chúng tôi; tôi đã lột mặt nạ sự đạo đức giả dưới chiếc áo khoác tôn giáo đã len lỏi vào giữa chúng tôi để bần cùng hóa và ngu dân hóa chúng tôi; tôi đã phân biệt tôn giáo chân chính với tôn giáo giả hiệu, với những thứ mê tín dị đoan buôn thần bán thánh để kiếm tiền và bắt chúng tôi tin vào những điều vô lý mà Công giáo sẽ phải đỏ mặt nếu như họ từng hay biết về chúng. Tôi đã phơi bày những gì bị che khuất đằng sau những ngôn từ dối trá và lấp lánh của các chính phủ. Tôi đã nói với đồng bào mình về những lầm lỗi, thói hư tật xấu, những khuyết điểm và sự dễ dãi yếu mềm của chúng tôi trước những khốn khổ ở đó. Nơi nào tìm thấy đức hạnh, tôi đã ca ngợi hết lời để bày tỏ lòng kính trọng; và nếu tôi không khóc khi kể về những bất hạnh của chúng ta, thì tôi đã cười nhạo chúng, bởi chẳng ai muốn khóc cùng tôi trước những nỗi truân chuyên, và tiếng cười luôn là phương pháp che giấu nỗi buồn tốt nhất. Những sự việc tôi kể lại đều có thật và đã thực sự xảy ra; tôi có thể cung cấp bằng chứng cho điều đó. Cuốn sách của tôi có thể có (và quả thực có) những khiếm khuyết dưới góc độ nghệ thuật và thẩm mỹ – điều này tôi không phủ nhận – nhưng không ai có thể chối cãi tính xác thực của những sự kiện được trình bày.”8

Thế nhưng, trong khi mục đích tiên quyết và tác dụng ban đầu của tác phẩm là kết tinh tâm lý chống tu sĩ, tác giả đã vượt lên trên một cuộc tấn công cá nhân đơn thuần vốn chỉ mang lại giá trị nhất thời, và bằng cách miêu tả đời sống của nhân dân mình một cách rõ ràng, đầy cảm thông, cậu đã tạo ra một tác phẩm văn học thực sự, mang ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh họ đang bị cuốn vào thời đại mới. Bất kỳ kẻ ngốc nào cũng có thể chỉ ra những sai lầm và khuyết điểm nếu chúng lộ rõ ra ngoài, và việc kiên trì lùng sục chúng chỉ vì bản thân chúng là dấu hiệu chắc chắn nhất của một tâm địa tiểu nhân; thế nhưng tác giả đã gạt phăng mọi cân nhắc vụn vặt ấy sang một bên và, dẫu có ý thức hay không, đã để lại một tác phẩm có giá trị trường tồn cho đồng bào mình và khơi gợi sự quan tâm của tất cả những ai yêu mến nhân loại. Nếu có một vùng đất nào từng bị nguyền rủa bởi giống loài chuyên bới lông tìm vết đáng ghét, cả bản địa lẫn ngoại lai, thì vùng đất đó chính là Philippines; thế nên quả thực thật sảng khoái khi quay lưng lại với vùng đất hoang vu buồn tẻ của những lời chỉ trích bới móc, những phân tích “khoa học” máy móc và những nửa sự thật đầy mỉa mai để đến với một câu chuyện đập rộn nhịp sống, khắc họa [xxxiii] người Philippines như một con người bằng xương bằng thịt với những đức tính và thói hư tật xấu, những tình yêu và lòng căm thù, những hy vọng và nỗi sợ hãi.

Sự ra mắt của cuốn *Noli Me Tangere* gợi lên một ngẫm suy rằng câu chuyện về gót chân Achilles chỉ là thần thoại về mặt hình thức mà thôi. Niềm tin rằng bất kỳ định chế, hệ thống, tổ chức hay sắp xếp nào đã đạt đến hình thái tuyệt đối chính là giới hạn xa nhất mà sự ngu ngốc của con người có thể vươn tới. Các dòng tu tu sĩ tự xem mình là đỉnh cao của thành tựu nhân loại trong việc trị dân và thuyết phục Chúa, được Thiên Chúa chỉ định cai trị, vững chãi trên ngai quyền, vượt lên trên mọi sự hoài nghi. Thế nhưng họ lại bị ám ảnh bởi nỗi sợ hãi thầm kín, nhạy cảm về việc bị phơi bày – thứ luôn lảng vảng như bóng ma bên dưới chiếc áo choàng ngụy biện của thói đạo đức giả. Thế nên, khi tác phẩm này của một “tên da sậm khốn khổ” xuất hiện – kẻ dám miêu tả họ cùng những thực trạng do sự kiểm soát của họ đẻ ra một cách chính xác y như bản chất của chúng (bởi cái chạm tay vô định hình giúp tác giả truyền tải vẻ chân thực không thể chối cãi vào câu chuyện có lẽ làσ ưu điểm nghệ thuật lớn nhất của nó) – thì tác động lên khí chất thất thường của người Tây Ban Nha, nói một cách nhẹ nhàng, mang tính điện giật. Sự táo bạo tột cùng của sự việc đã khiến các tu sĩ chết lặng.

Một hội đồng gồm các bậc bác học đến từ Santo Tomas được chỉ định kiểm tra tác phẩm đã không tiếc lời chê bai không thương tiếc, cho rằng nó tấn công mọi thứ từ quốc giáo cho đến tính toàn vẹn của các lãnh thổ thuộc địa Tây Ban Nha; do đó, việc lưu hành tác phẩm ở Philippines tất nhiên bị cấm ngặt tuyệt đối, và điều đó vô tình làm cho nhu cầu tìm đọc càng tăng cao. Những khoản tiền lớn được chi trả cho từng bản sao lẻ tẻ – mà nhân tiện cũng cần lưu ý rằng bản thân tác giả hầu như chẳng nhận được xu nào; các quỹ quyên góp từ xưa đến nay vẫn luôn có một thói quen kỳ lạ là thường hay bốc hơi ở Philippines.

Mặc dù việc một người Philippines cất giữ một bản sao trong nhà thường đồng nghĩa với án tù túng hoặc lưu đày chớp nhoáng, đôi khi đi kèm với việc tịch thu tài sản để làm lợi cho một “tấm lòng yêu nước” nào đó, cuốn sách vẫn được chuyền tay nhau đọc rộng rãi trong các gia đình danh giá và đạt được hiệu quả mong muốn là kết tinh tâm lý chống tu sĩ, qua đó dọn đường cho hành động chung đồng lòng. Cuối cùng thì bức tượng thần cũng đã bị xem thường, mở đường cho tất cả mọi người cùng lên tiếng tấn công. Chưa đầy một năm sau khi sách bắt đầu lưu hành ở Philippines, một bản kiến nghị đã được đệ trình lên Tổng Giám Mục bởi một bộ phận khá đáng kể tầng lớp người Philippines tại Manila, yêu cầu trục xuất các dòng tu tu sĩ khỏi đất nước; thế nhưng điều này chỉ dẫn đến kết quả là mọi người ký tên vào đơn mà chính phủ tóm được đều bị đem đi lưu đày. Họ bị phân phát theo đúng nghĩa đen về bốn phương trời: người thì tới quần đảo Ladrone, người tới Fernando Po ngoài khơi bờ biển phía tây châu Phi, kẻ vào nhà tù Tây Ban Nha, người khác bị đày đến những vùng xó xỉnh hẻo lánh của Philippines.

Trong khi đó, tác giả đã quay trở lại Philippines để thăm gia đình, trong khoảng thời gian đó ông luôn được tháp tùng bởi một sĩ quan Cận vệ Dân sự, được phân công với cái cỏ vỏ bọc là làm vệ sĩ. Mọi di chuyển của ông đều bị giám sát chặt chẽ, và chỉ sau vài tháng, Toàn quyền đã “khuyên” ông rời khỏi đất nước, đồng thời yêu cầu một bản sao cuốn *Noli Me Tangere*, với lý do là những đoạn trích được kiểm duyệt gửi lên đã đánh thức mong muốn được đọc toàn bộ tác phẩm. Rizal quay trở lại châu Âu qua đường Nhật Bản và Hoa Kỳ – những nơi dường như chẳng để lại mấy ấn tượng đặc biệt trong ông, dẫu cho chỉ ít lâu sau đó ông đã đưa ra lời tiên tri rằng khi Tây Ban Nha mất quyền kiểm soát Philippines, một sự cố mà ông xem là chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai không xa, Hoa Kỳ sẽ là kẻ kế vị tiềm năng.9

Trở lại châu Âu, ông dành một khoảng thời gian ở Luân Đôn để chuẩn bị ấn bản tác phẩm *Sucesos de las Filipinas* của Morga, một công trình được xuất bản tại Mexico vào khoảng năm 1606 bởi nhân vật chính trong một số khung cảnh sôi động nhất thời kỳ hình thành bộ máy chính quyền Philippines. Đây là một tư liệu có tầm quan trọng hàng đầu trong lịch sử Philippines, và việc phục hồi nó là một đóng góp không nhỏ cho đất nước. Rizal bổ sung những chú thích nhằm chứng minh rằng người Philippines từng sở hữu một nền văn hóa và văn minh đáng kể trước thời kỳ chinh phạt của Tây Ban Nha, và ông thậm chí còn ám chỉ rằng họ đã thụt lùi thay vì tiến bộ dưới sự kèm cặp của Tây Ban Nha. Thế nhưng, một quan điểm cực đoan như thế phải được quy cho ngọn lửa nhiệt huyết ái quốc, bởi bản thân Rizal, dù sở hữu cái phẩm chất vô hình thường được gọi là thiên tài và được đào tạo một phần ở Bắc Âu, lại chính là sự bác bỏ đanh thép nhất cho lập luận đó trong chính nhân cách của mình.

Sau đó, tại Ghent, ông xuất bản cuốn *El Filibusterismo*, được ông gọi là phần tiếp theo của *Noli Me Tangere*, nhưng thực chất chẳng có mối liên hệ nào hơn ngoài việc một vài nhân vật [xxxv] xuất hiện trở lại và được giải quyết số phận.10 Hầu như chẳng có cốt truyện xuyên suốt nào trong đó và gần như chẳng có hành động gì, nhưng vẫn giữ nguyên lối khắc họa nhân cách sắc sảo cùng những đường nét minh họa rõ ràng về hoàn cảnh giống như tác phẩm trước. Đây là một tác phẩm chín muồi hơn và là một luận điểm chính trị có sức nặng hơn, do đó nó thiếu đi nét quyến rũ và sự giản dị từng đưa *Noli Me Tangere* lên vị trí kiệt xuất trong nền văn học Philippines. Lối châm biếm nhẹ nhàng của tác phẩm trước được thay thế bằng sự mỉa mai cay đắng được truyền tải với ý đồ tính toán kỹ lưỡng, bởi trải nghiệm mở rộng cùng nhận thức rằng công lý từ bàn tay một nước Tây Ban Nha suy đồi chỉ là giấc mơ lung linh sắc cầu vồng thời trai trẻ đã hằn sâu vào tâm can ông. Nhà chức trách Tây Ban Nha tại Philippines cũng chẳng hề ngồi yên; gia đình thân tộc của ông đã phải chịu đựng mọi nỗi phiền toái, bức bối từ những hành vi quấy rối vặt vãnh, cuối cùng mất đi phần lớn tài sản, trong khi một số người thân phải chịu cảnh lưu đày.

Vào năm 1891, ông trở lại Hồng Kông hành nghề y, và tại đây ông gặt hái được những thành công vang dội trong nghề nghiệp, thậm chí còn được đồng bào chất phác xem như một phù thủy giữa những lời đồn đại kỳ diệu về năng lực phép thuật của ông. Ông đặc biệt thành thạo ngành nhãn khoa, và ca phẫu thuật đầu tiên của ông sau khi trở về từ những năm tháng du học châu Âu là trả lại ánh sáng cho người mẹ bằng cách bóc cườm mắt cho bà – một thành tựu chắc chắn đã tạo nên nền tảng cho những câu chuyện thần kỳ. Thế nhưng, những bất hạnh của đồng bào luôn là ưu tiên hàng đầu trong tâm trí ông, thế nên ông đã viết thư xin phép Toàn quyền cho phép di dời đại gia đình đông đúc của mình sang đảo Borneo để lập một khu định cư tại đó, và phía chính phủ Anh đã đưa ra những nhượng bộ vô cùng rộng rãi cho mục đích này. Yêu cầu ấy đã bị bác bỏ, đồng thời bị gắn nhãn bôi nhọ là một mưu đồ “phản quốc” nhằm làm giảm dân số Philippines trong bối cảnh nguồn lao động vốn đã khan hiếm. Đó là câu trả lời mà ông nhận được cho một thỉnh cầu hợp lý, ngay sau khi nhà cửa của gia đình ông, bao gồm cả nơi sinh ra chính ông, bị lực lượng quân sự tàn nhẫn tàn phá trong lúc một tranh chấp về quyền sở hữu và tiền thuê nhà vẫn đang còn treo lơ lửng tại tòa án. Toàn quyền đương thời khi ấy là Valeriano Weyler – công cụ tàn nhẫn của các thế lực phản động do các dòng tu tu sĩ giật dây, kẻ sau này [xxxvi] được cử sang Cuba để áp dụng ở đó những biện pháp trấn áp từng tỏ ra vô cùng hiệu quả tại Philippines, qua đó châm ngòi cho sự can thiệp của Hoa Kỳ nhằm chấm dứt quyền lực thuộc địa của Tây Ban Nha – tất cả những điều đó gợi lên ngẫm suy rằng đâu đó vẫn còn những kẻ ngụy biện u mê dám hoài nghi sự tồn tại thực sự của Nữ thần Báo oán Nemesis.

Kế nhiệm Weyler là Eulogio Despujols, người đã có những nỗ lực chân thành nhằm cải cách bộ máy hành chính và rất được lòng người dân Philippines. Đáp lại những lời thỉnh cầu liên tiếp của Rizal xin được phép trở lại Philippines bình an vô sự, cuối cùng một hộ chiếu đã được cấp cho ông và ông lên đường về Manila. Động thái này của ông, ngoài mong muốn tự nhiên là được sống giữa đồng bào mình, còn xuất hiện hai lý do đặc biệt: ông muốn điều tra và ngăn chặn nếu có thể việc lạm dụng trái phép tên tuổi của ông trong các chiến dịch quyên góp tiền bạc luôn mang vẻ mờ ám không rõ ràng về tài chính, đồng thời ông bị thu hút bởi một mưu kế được trù tính và thực hiện một cách có chủ ý khi mẹ ông nhiều lần bị bắt giữ một cách hách dịch và nhồi nhét như một tội phạm thông thường nhằm tác động vào tình cảm hiếu thảo của người con, qua đó lừa ông quay trở lại trong tầm với của quyền lực Tây Ban Nha – điều mà các sự kiện tiếp theo và các nghiên cứu sau này đã chứng minh chính là mục đích thực sự khi cấp tấm hộ chiếu ấy. Tuy nhiên, hoàn toàn không mảy may nghi ngờ bất kỳ động cơ thầm kín nào, chỉ vài ngày sau khi đặt chân đến nơi, ông đã triệu tập một cuộc tụ họp ô hợp gồm những người Philippines thuộc mọi tầng lớp xã hội – bởi ông dường như chỉ có chút ít mối quan hệ quen biết trong đồng bào mình và hoàn toàn mù tịt về vũ điệu Walpurgis rắc rối của chính trị Philippines – và trình bày trước họ bản hiến pháp của một tổ chức mang tên *Liga Filipina* (Liên đoàn Philippines), một hội đoàn hướng tới mục tiêu tăng cường sự đoàn kết giữa những người dân và hợp tác vì tiến trình phát triển kinh tế. Liên đoàn này chắc chắn là kết quả từ những quan sát của ông tại Anh và Đức, và bất chấp hình thức đáng ngờ của nó như một hội kín phục vụ mục đích chính trị và kinh tế, đó quả quyết là một bước đi đúng ng hướng; thế nhưng thật không may, ý nghĩa của nó lại vượt quá tầm hiểu biết của đồng bào ông – phần lớn trong số họ chỉ nhìn thấy ở đó một cơ hội để quấy rối chính quyền Tây Ban Nha, điều mà tất cả đều sẵn sàng hưởng ứng.

Mọi di chuyển của ông đều bị giám sát chặt chẽ, và chỉ vài ngày sau khi về nước, ông bị bắt với cáo buộc tàng trữ tài liệu phản động trong hành lý. Các tu sĩ đã [xxxvii] ráo riết đòi lấy mạng ông, nhưng Despujols dường như có thiện cảm với Rizal hơn là với những kẻ mà ông buộc phải đóng vai trò là con rối trong tay chúng. Không cần qua xét xử, Rizal bị ra lệnh đày tới Dapitan, một khu định cư nhỏ trên bờ biển phía bắc đảo Mindanao. Sắc lệnh ra lệnh đày ải này cùng với việc tiêu hủy mọi bản sao sách của ông tìm thấy ở Philippines là một kiệt tác ngụy biện, bởi theo lời của một nhà văn Tây Ban Nha đương thời, “trong tài liệu này, chúng ta không biết nên kinh ngạc hơn về điều gì: sự ngây thơ của ngài Toàn quyền, vì qua sắc lệnh này ông ngầm thừa nhận sự yếu đuối và bản tính dễ sai lầm của mình, hay sự khờ khạo của Rizal, kẻ từng tin rằng mọi nẻo đường đều được rải đầy hoa hồng.”11 Thế nhưng hoàn toàn rõ ràng rằng Despujols đang chơi ván bài hai mặt, và dường như ông ta cảm thấy khá hổ thẹn về điều đó, bởi ông đã ban hành những mệnh lệnh nghiêm ngặt nhằm giữ kín các bản sao của sắc lệnh không cho Rizal hay biết.

Tại Dapitan, Rizal vùi đầu vào việc nghiên cứu và hành nghề y đối với những ai tìm đến chốn hẻo lánh ấy, bởi tiếng tăm về tay nghề của ông lan đi rất rộng, và ông được phép sống yên bình dưới lời hứa danh dự rằng sẽ không tìm cách trốn thoát. Cùng với một nhà truyền giáo dòng Tên, ông tập hợp xung quanh mình một số thanh thiếu niên bản địa và điều hành một ngôi trường thực tế theo mô hình của Đức, đồng thời tham gia tranh luận tôn giáo qua thư từ với những người quen thuộc Dòng Tên, bên cạnh đó chập chờn làm việc với một vài trước tác chưa bao giờ hoàn thành, nổi bật trong số đó là một công trình nghiên cứu bằng tiếng Anh về động từ tiếng Tagalog.

Thế nhưng, trong khi ông đang sống yên tĩnh tại Dapitan như thế, những biến cố định đoạt số phận của ông đang tự méo mó hình thành tại Manila. Hòn đá trên sườn núi đã bị lật nhào và đang lao đi trong cơn cuồng nộ, vượt hoàn toàn khỏi tầm kiểm soát của ông.

[xxxviii]

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của José Rizal

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.