Bản Thân Không Hư Cấu

Bản Thân Không Hư Cấu

Lượt đọc: 55 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
Tám thời khắc trọng đại

❊ ❊ ❊

Ngày 5 tháng 1 năm 1964

Đây là ngày vĩ đại nhất của tôi, nếu không có ngày này, cũng sẽ không có tôi. Ngày này, chính là sinh nhật của tôi.

Sinh và tử là việc lớn nhất của đời người, nhưng chẳng ai có thể lưu lại ký ức về ngày mình chào đời hay ngày mình lìa thế. Sinh là một tiếng khóc chào đời, tử là một lần nhắm mắt. Tiếng khóc lúc sinh ra đánh thức ký ức của người khác, cái nhắm mắt lúc qua đời khép lại ký ức của chính mình. Sinh vào lúc nào, tử tại khoảnh khắc nào; cảnh tượng lúc sinh, tình trạng lúc tử, những ký ức ấy đều được lưu giữ trong tâm trí người khác. Thế nên, nói về ngày chào đời của chính mình, chẳng khác nào đang viết tiểu thuyết, bạn nói năng rành mạch, người nghe đều tin là thật, nhưng thực ra chẳng qua chỉ là nghe hơi nồi chõ mà thôi.

Thời gian được đặt trong không gian (và ngược lại), cái thời gian ban cho tôi thân phận con người: ngày 5 tháng 1 năm 1964, ngày tôi lọt lòng, đã được đặt tại một ngôi làng cổ cách Hàng Châu 41 cây số, ngôi làng có tên là Tưởng Gia Môn Khẩu, về mặt hành chính trực thuộc huyện Phú Dương (năm 1994 đổi huyện thành thị). Phú Dương là một địa danh vô danh tiểu tốt, nhưng dưới quyền quản lý của nó lại có hai gương mặt lừng lẫy: một là sông Phú Xuân, hai là Uất Đạt Phu. Sông Phú Xuân nổi tiếng gần xa nhờ bức họa truyền thế "Phú Xuân Sơn Cư Đồ" của Hoàng Công Vọng (hiện nay một nửa ở Đại lục, một nửa ở Đài Loan), còn Uất Đạt Phu là đại danh sĩ trên văn đàn hiện đại. Nhà tôi, Tưởng Gia Môn Khẩu, là ngôi làng lớn nhất Phú Dương. Đây là một ngôi làng trù phú và giàu có, sự cổ kính, sự trù phú, sự đông đúc (hiện có hơn 4000 người) của nó khiến nó trông chẳng giống một ngôi làng, mà giống một thị trấn cổ hơn. Trước khi tôi sinh ra một thế kỷ, nơi này đã có những tòa nhà ba tầng kiểu Thượng Hải, hành lang rộng rãi, ngói lưu ly đỏ thắm, kính sáng loáng, cổng gỗ đàn cao lớn (cao ba mét, rộng hai mét), xà nhà chạm trổ rồng bay phượng múa, giếng trời rộng rãi vuông vắn, đến nay vẫn khiến người ta trầm trồ thán phục. 80 năm trước, cha của ông nội tôi đã bán 40 mẫu đồi trúc, dắt theo hai con trai — ông nội tôi và ông chú tôi — bắt đầu mô phỏng tòa nhà ba tầng kiểu Thượng Hải này, tuy là phiên bản thu nhỏ — chỉ có hai tầng rưỡi, quy mô cũng nhỏ hơn nhiều, nhưng vẫn mang lại cho gia đình chúng tôi tiếng tăm lẫy lừng suốt bao năm. Hồi nhỏ, tôi thường thấy người lạ đến nhà mình tham quan, chỉ trỏ vào những bức tượng, hình khắc mà tôi đã quá quen thuộc đến mức thờ ơ để bàn tán, lưu luyến không rời. 20 năm trước, nhà văn Lý Hàng Dục dưới sự dẫn dắt của một người chú xa của tôi cũng đã tới xem, đến tận bây giờ vẫn còn nhớ như in, gặp tôi là khen ngợi hết lời.

Có thể sinh ra trong một ngôi nhà đường hoàng bề thế như vậy, lẽ ra phải là vinh hạnh của tôi, nhưng cha tôi lại không nghĩ thế. Hồi nhỏ, cha thường bảo tôi, chúng ta nhất định phải rời khỏi ngôi nhà này, nếu không gia đình ta khó mà có ngày ngóc đầu lên nổi. Nói như vậy là có lý do sâu xa, lý do nằm ở tòa nhà phía trước nhà chúng tôi. Đó cũng là một tòa nhà ba tầng, nhưng có vẻ không cầu kỳ như vậy, không có nhiều sự xa hoa lãng phí thuần túy vì thẩm mỹ. Đó là tòa nhà ba tầng có kết cấu khá đơn giản, thực dụng, dài dằng dặc, hơi giống dãy nhà ký túc xá đơn vị hiện nay, tường ngoài được quét màu đỏ, đến khi tôi còn nhỏ nó vẫn là màu đỏ. Giữa nhà chúng tôi và nhà họ chỉ có một con hẻm nhỏ hẹp chưa đầy hai mét, nói cách khác, cái "mông" của nó đối diện với cửa lớn nhà chúng tôi. Cha nói với tôi, tổ tiên chúng tôi và tổ tiên nhà này là kẻ thù không đội trời chung, họ xây nhà cao như vậy, đặt ở vị trí này (mông đối diện cửa chính nhà chúng tôi), lại còn sơn màu đỏ, mục đích chính là để trấn áp nhà chúng tôi, phá hoại phong thủy nhà chúng tôi. Kỳ lạ là, kể từ khi tòa nhà đỏ này xây xong, cảnh tượng gia tộc hưng vượng của chúng tôi ngày càng lụi bại. Ông chú tôi vì muốn chống lại sự "phá hoại" bí ẩn này, đã đích thân đến Thượng Hải theo một giáo sĩ tin vào Chúa Jesus, về đến nhà là ngày ngày làm lễ cầu nguyện trong phòng sương. Hồi nhỏ tôi thường dẫn bạn học đến xem ông chú làm lễ cầu nguyện, lầm rầm rì rì, trong âm thanh ú ớ chẳng rõ là đang nói cái gì. Nhưng cha tôi biết, cha bảo ông chú đang cầu xin Chúa Jesus phù hộ mình, và Chúa Jesus quả thực đã phù hộ ông ấy.

Cha tôi có bốn anh em, nghĩa là ông nội tôi có bốn người con trai, còn ông chú chỉ có một, là con độc đinh. Nhưng nhờ có sự phù hộ của Chúa Jesus, con trai của ông chú liên tiếp sinh cho ông bảy đứa cháu nội, còn ông nội tôi mặc dù có bốn người con trai, số cháu nội cũng chỉ có bảy. Ông nội tôi mất sớm (qua đời năm 66 tuổi, tôi chưa kịp gặp), nên không phát hiện ra bí mật này: sức mạnh của Chúa Jesus. Chính vì vậy, ông không thể sống thọ hơn. Mà cha tôi tuy đã phát hiện ra "bí mật" này, nhưng do thời thế, tuy lòng đầy mong muốn nương nhờ Chúa Jesus để vực dậy gia nghiệp, nhưng lại không dám. Bởi đó là thời kỳ đả phá mạnh mẽ phong kiến mê tín dị đoan, tin Chúa Jesus là mê tín — là mê tín sùng ngoại, tội chồng thêm tội! Cha từng dùng nhiều cách mê tín như nuôi chó, đặt tượng sư tử đá trước cửa, giết gà trống, để thoát khỏi lời nguyền của "tòa nhà đỏ" đối với gia đình chúng tôi. Nhưng thực tế dường như chứng minh rằng, những cách này quá đơn giản, thiếu sức mạnh thực sự, vực dậy gia nghiệp vẫn luôn là một giấc mơ lởn vởn trong lòng cha.

Năm tôi 10 tuổi, cha vay tiền xây một căn nhà mới khá đơn giản bên cạnh ngôi nhà cũ của chúng tôi, đó là hành động lớn đầu tiên của ông nhằm thoát khỏi lời nguyền của "tòa nhà đỏ". Hiệu quả dường như rất rõ rệt, anh trai tôi lập tức kết hôn, chị gái tôi cũng tìm được ý trung nhân trong thành phố. Đáng tiếc là do điều kiện lúc bấy giờ hạn chế, vị trí căn nhà mới vẫn còn khá gần tòa nhà đỏ, dường như vẫn nằm trong phạm vi uy lực của tòa nhà đỏ. Thế nên mười năm sau, năm 1982, gia đình chúng tôi lại xây nhà mới, nhà mới xây ngoài làng, có thể nói là thực sự thoát khỏi sự quấy nhiễu của tòa nhà đỏ. Nhờ đó hiệu quả dường như cũng rất rõ rệt, gia đình chúng tôi trong chớp mắt đã trở thành "hộ mười ngàn tệ" nổi tiếng địa phương. Lúc đó, tôi đã ở trong quân ngũ, cách xa cả ngàn dặm. Cha chưa bao giờ yêu cầu tôi điều chuyển về, mà luôn nói với tôi rằng, con đi càng xa càng tốt, ý nói là càng xa thì tòa nhà đỏ càng không làm gì được tôi. Cứ ngỡ đến đây cuộc chiến giữa cha và tòa nhà đỏ đã kết thúc, nào ngờ hành động lớn vẫn còn ở phía sau. Năm 1996, cha liều mình bất chấp cả luân thường đạo lý, bán tống bán tháo ngôi nhà cũ của gia đình chúng tôi, thực sự là chuyện động trời! Ở quê chúng tôi, vợ có thể bỏ, con cái có thể cho, nhưng nhà tổ tiên tuyệt đối không được bán. Tuy nhiên, tôi có thể tưởng tượng được tại sao cha lại làm như vậy, nói cho cùng, vẫn là tòa nhà đỏ đang làm quái, đang giày vò ông, đang thay đổi ông, đang tiếp thêm cho ông dũng khí và sức mạnh.

Sự nghi kỵ và chống đối khắc cốt ghi tâm nhưng kéo dài đằng đẵng của cha đối với tòa nhà đỏ, đã giúp tôi mở ra một cánh cửa nhỏ dẫn lối vào thế giới bí ẩn và u tịch ngay từ khi còn nhỏ. Đây là một cánh cửa nằm ngoài thực tại, có lẽ cũng là cánh cửa dẫn tôi vào sâu trong lãnh địa văn chương.

Ngày 10 tháng Giêng năm 1971

Ngày này, tôi tự xưng là 9 tuổi, thực ra mới có 7 tuổi.

Ở quê chúng tôi, tuổi tác con người được tính theo năm, nói bạn bao nhiêu tuổi, là nói tuổi mụ, không phải tuổi thực. Theo cách nói này, nếu bạn sinh vào ngày 30 Tết, thì trời vừa sáng, đến mùng Một Tết, đã là hai tuổi rồi. Tôi sinh vào tháng Giêng, nhưng trong năm âm lịch thì vẫn là năm cũ, là ngày 19 tháng 11 âm lịch, tính đến ngày 30 Tết vẫn còn 41 ngày. Thế nên, khi tôi sinh được 42 ngày, tôi đã được gọi là hai tuổi. Mỗi khi đến mùng Một Tết là tăng thêm một tuổi, huống chi là ngày mùng 10 tháng Giêng. Thế nên, đến ngày mùng 10 tháng Giêng năm 1971, tôi không còn nghi ngờ gì nữa là 9 tuổi rồi — thực ra mới được 7 tuổi 50 ngày. Ngày này, tôi đeo cặp sách bước vào lớp học đặt trong từ đường, sau đó tôi đau khổ nhận ra rằng, chiếc cặp sách tôi đeo đặc biệt nặng nề — đó không phải là trọng lượng của sách vở, mà là trọng lượng của nước mắt.

Tôi không biết tại sao lúc đó nơi chúng tôi lại khai giảng vào tháng Giêng, vấn đề này tôi chưa từng suy ngẫm. Tuy nhiên, tôi biết đây là lần cuối cùng, sau này đều khai giảng vào mùa hè, còn trước đó dường như chúng tôi toàn khai giảng vào tháng Giêng. Tôi cảm thấy khai giảng vào tháng Giêng có màu sắc hân hoan hơn, trong cặp sách cất giấu tiền mừng tuổi và bánh tô, cảm giác đó rất tuyệt. Nông thôn Trung Quốc mang lại ấn tượng thống nhất nhất cho người ta là nghèo, nghèo khó lạc hậu, ăn không no, mặc không ấm, bẩn thỉu, người lớn thiếu tôn nghiêm, trẻ con thiếu nét ngây thơ. Nhưng công bằng mà nói, nơi chúng tôi không phải như vậy, tôi từ nhỏ chưa từng bị đói, năm nào cũng có quần áo mới để mặc, mùa đông một bộ, mùa hè một bộ, Tết đến còn có tiền mừng tuổi, họ hàng xa cho hai hào, năm hào, họ hàng gần như ông ngoại, dì, cô ít nhất cũng cho một đồng. Tôi còn nhận bố mẹ nuôi, họ rất tiết kiệm, nhưng đối với người khác rất tốt, đặc biệt đối với tôi càng tốt hơn, tiền mừng tuổi thường cho tôi hẳn tờ tiền năm đồng. Thông thường qua một cái Tết, tôi có thể nhận được mười mấy đến hai mươi đồng tiền mừng tuổi. Đây là tiền tiêu vặt của tôi. Tôi dùng số tiền này để vào huyện xem phim, mua dép nhựa đẹp và vải terylene, mang về làm áo sơ mi.

Đây là ký ức đẹp đẽ nhất thời thiếu niên của tôi. Nói cách khác, hồi nhỏ tôi chưa từng cảm thấy khó khăn về mặt sinh tồn, không có ký ức về khía cạnh này. Những ký ức khó khăn đều đến từ tinh thần, đến từ thời thượng và thế tục. Thời đại nào cũng có thời thượng, thời thiếu niên của tôi là thời đại chú trọng thành phần và giai cấp, chia con người thành hai giai cấp: cách mạng và phản cách mạng; chia thành hai màu sắc: đỏ và loại đen. Loại đen lại chia nhỏ thành năm loại, tức là "địa chủ, phú nông, phản cách mạng, phần tử xấu, hữu khuynh", gọi tắt là "Hắc ngũ loại" (năm loại đen). Trong số "Hắc ngũ loại" này, gia đình tôi chiếm hai loại: hữu khuynh và địa chủ. Hữu khuynh là cha tôi, địa chủ là ông ngoại, hai chiếc mũ đen lớn, là hai ngọn núi đen kịt đè trên đỉnh đầu, cả nhà không ai ngẩng đầu lên nổi.

Ký ức đi học của tôi bắt đầu từ việc bị sỉ nhục, nhớ đó là một ngày tuyết rơi, thầy giáo ra ngoài ngắm tuyết, chúng tôi tự học trong lớp; bông tuyết từ cửa sổ bay vào, rơi vào cổ tôi đang ngồi sát cửa sổ, tôi vô thức rụt cổ lại, đứng dậy định đóng cửa sổ, vừa hay bị thầy giáo đi thưởng tuyết từ ngoài vào nhìn thấy. Thầy đi đến trước mặt tôi, hỏi tôi định làm gì. Tôi bảo tuyết bay vào cổ em, em muốn đóng cửa sổ. Thầy hỏi tôi có phải lạnh không, tôi bảo vâng. Thằng chó đẻ thầy giáo nói: Đội trên đầu hai cái mũ đen lớn rồi mà còn sợ lạnh à.

Đang ở trong lớp đấy!

Thằng chó đẻ này!

Thầy giáo đều như vậy, huống chi là đám bạn học không biết sự đời. Cho nên, tôi không thích đi học, bởi vì đi học đối với tôi đồng nghĩa với việc bị ức hiếp. Ai cũng bảo trường học là nơi giáo dục con người, dạy người ta đạo đức, truyền thụ kiến thức, nhưng thực ra không hẳn vậy. Từ tiểu học đến sơ trung, tôi gọi thầy giáo ít nhất cũng mười mấy người, nhưng người thực sự sưởi ấm cho tôi chỉ có hai người: một nam một nữ, nam tên là Tưởng Quan Nhân, nữ tên là Vương Linh Quyên. Cô Vương là thanh niên tri thức, béo béo, từng đóng vai bà Sả. Thầy Tưởng là người nhân nghĩa — đúng như tên gọi của thầy, lên lớp không dùng thước kẻ (chỉ có một mình thầy), dáng người cao lớn, chơi bóng rổ rất giỏi. Mười mấy thầy cô, chỉ có hai người, có vẻ là ít quá. Nhưng đủ rồi, bởi vì họ đại diện cho lương thiện, chính trực, nhân nghĩa và tình yêu, là có thể lấy một địch mười. Mỗi khi tôi bị ức hiếp, lỳ lợm ở nhà không đi học (việc này giống như một căn bệnh mãn tính, một năm thế nào cũng phải tái phát một hai lần), cha và mẹ sẽ dùng hai cách hoàn toàn trái ngược để thúc giục tôi đi học, cha dùng vũ lực, lấy roi tre quất tôi, thô bạo đuổi tôi đi; mẹ thì đi cầu cứu, đem cô Vương và thầy Quan Nhân ra thuyết giáo, có khi còn trực tiếp đưa thầy cô về nhà, đến tận nơi dắt tôi đi. Cách của cha thực ra thường làm cho sự việc trở nên phức tạp hơn, tôi thường là người đi rồi, nhưng không đến trường, mà tìm một góc tường trốn, đợi tan học mới về nhà, tạo ra một màn kịch giả vờ đi học. Giả không thể thành thật được. Cô Vương (cô là chủ nhiệm lớp) thấy tôi một ngày không đến trường, buổi tối nhất định phải đến nhà tôi hỏi nguyên nhân, hỏi một câu là chân tướng lộ tẩy. Cho nên, xét về kết quả, cha dường như đang dùng một cách khác để mời thầy cô yêu thương tôi vào nhà. Tất nhiên, thầy cô đến cửa, cánh cửa trường học lại mở rộng với tôi. Tiểu học năm năm rưỡi (chỉ có năm năm rưỡi thôi), ký ức sâu đậm nhất của tôi chính là việc trốn học, khuyên học lặp đi lặp lại như vậy, cánh cửa đóng lại, rồi lại mở ra; mở ra, rồi lại đóng vào. Cứ như thế lặp đi lặp lại, trong sự lặp lại ấy, tôi không ít lần nếm trải nỗi khổ bị đa số bạn học và thầy giáo ức hiếp, cũng không ít lần nếm được vị ngọt khi được một vài thầy cô cưng chiều.

Thầy Quan Nhân, cô Vương, một nam một nữ, một cao một thấp, như một cặp thiên thần, như một thế giới hoàn mỹ, được cất giữ nơi sâu nhất, ấm áp nhất trong tim tôi. Họ đã khiến tôi của 20 năm trước để lại một bài thơ —

Trong tim tôi có ánh mặt trời

Đến từ hai vầng dương có giới tính

Một là nam, một là nữ

Rất vụng về, nhưng rất chân thực.

Tôi đã từng vô số lần nghĩ, nếu không có hai vầng dương, thiên thần này, cuộc đời tôi sẽ trở thành bộ dạng thế nào?

Ba ngày đó năm đó tháng đó

Ở đây chỉ hai thời điểm: một là ngày 11—12 tháng 6 năm 1978, hai là ngày 7—9 tháng 7 năm 1981. Trước là ngày thi từ sơ trung lên cao trung, sau là ngày thi từ cao trung lên đại học. Hai ngày này đối với tôi đều không tầm thường chút nào, có chút ý nghĩa "một nhát định đoạt". Đời người có mấy lần tranh đấu, chính là nói về những ngày như vậy. Kẻ thắng làm vua, kẻ thua làm giặc!

Lấy sự kỳ thị làm động lực, nỗ lực học tập, thông qua thành tích ưu tú khiến người khác phải nhìn bằng con mắt khác, từ đó thay đổi địa vị bất lợi bị kỳ thị, đây là một phản ứng, một tình huống bình thường của người bị kỳ thị. Tình huống khác là buông xuôi, mặc kệ, không sao cả, không cầu gì, mặc cho sự kỳ thị tự do phát triển. Tôi thuộc về nhóm trước, muốn thông qua nỗ lực để thay đổi nghịch cảnh. Thế nhưng, thời đó chúng tôi thành tích học tập không quan trọng, thi cử đều là thi mở, tốt xấu rất khó thể hiện cũng không ai quan tâm. Lúc đó, tốt xấu của chúng tôi chủ yếu thể hiện ở việc lao động có tích cực không, việc tốt làm có nhiều không, đối với thầy giáo có lễ phép không, v.v. những thứ ngoài sách vở này. Những thứ này tôi đều làm không tệ, tiểu học năm năm, tôi làm ủy viên lao động ba năm. Tôi đối nhân xử thế cũng đặc biệt lễ phép, vì tự ti, làm gì cũng nhường ba phần, đáng nhịn thì nhịn, bao gồm cả bây giờ vẫn vậy. Tôi của thuở thiếu niên ngây ngô không hề biết rằng, sự nỗ lực của tôi không thể thay đổi vận mệnh của mình. Người thay đổi vận mệnh của tôi là Đặng Tiểu Bình. Đến năm 1977, trời đã đổi, đất nước khôi phục thi đại học, trường học cũng bắt đầu cần thành tích. Lúc này tôi đang học năm thứ hai sơ trung. Tôi học sơ trung hệ hai năm, năm thứ hai là lớp tốt nghiệp. Nếu như trước đây, kiểu "Hắc ngũ loại" như tôi, học cao trung chắc chắn là không cửa. Trước đây học cao trung đều nói đến tiến cử, tỷ lệ 5%, về cơ bản là đặc quyền của con cái "cán bộ". Thế nhưng năm đó Đặng Tiểu Bình đã đổi thay bầu trời, lên cao trung phải thi cử, chọn người ưu tú mà tuyển, cơ hội của tôi liền đến.

Cha còn coi trọng cơ hội này hơn cả tôi, và quy kết cơ hội này là do chúng tôi đã xây nhà mới. Thực ra lúc đó nhà mới của chúng tôi rất nhỏ, cả nhà một nửa vẫn ở nhà cũ, nhưng tôi ở nhà mới. Nhà mới cách xa tòa nhà đỏ mà. Kể từ đó cha điều chỉnh phòng cho tôi trong nhà mới, chuyển đến căn phòng phía tây xa tòa nhà đỏ hơn, vàchuyên môn (chuyên môn) giảng cho tôi một tràng dài. Những lời này là khởi đầu cho một loạt sự hiểu biết dài dằng dặc sau này của tôi, có thể nói không ngoa rằng, những lời này gần như quyết định cách nhìn của tôi về thế giới, đến nay vẫn đang phát huy tác dụng với tôi. Cha xoay quanh chủ đề hy vọng tôi nỗ lực học tập, nói mãi nói mãi, trở nên như một triết gia, nói với tôi một đạo lý chân thực nhất: Vạn ban giai hạ phẩm (vạn sự đều tầm thường), duy hữu đọc sách cao. Tôi đã quên cha có trích dẫn nguyên văn hay không (hoàn toàn có thể), nhưng những lời bộc bạch được phát huy từ đó, đến nay tôi vẫn không quên. Cha nói, văn hóa giống như ánh mặt trời, lửa không đốt được, nước không dìm được, chính phủ cũng không tịch thu được (lúc đó chính phủ thường xuyên tịch thu đồ đạc cá nhân, ngay cả việc nhà bạn nuôi thêm một con gà cũng bị tịch thu, gọi là cắt đuôi tư bản chủ nghĩa), một người có văn hóa, có kiến thức, là phúc khí và vận may lớn nhất. Vân vân.

Ví kiến thức văn hóa như ánh mặt trời từ trên trời cao chiếu xuống, đây là phát minh của cha tôi. Nói thật, trước đây tình cảm của tôi đối với cha rất phức tạp, một mặt tôi thấy ông rất tuyệt vời, đối với cuộc sống và sự việc đặc biệt có kiến giải, có theo đuổi, giống như một triết gia, mặt khác tôi lại thấy ông hồ đồ, thường xuyên giả thần giả quỷ, giống như một người ngu muội. Ngoài ra, tính khí cha tôi rất xấu, hơi tí là hỉ nộ vô thường, động một chút là đánh người. Bây giờ tôi lại không nhìn như vậy nữa. Bây giờ tôi thấy cha tôi chính là một người tuyệt vời, chỉ là thời vận không may, hổ xuống đồng bằng, biến thành một con cừu mà thôi.

Nói đi nói lại, kể từ sau lần trò chuyện này với cha, tôi bắt đầu nỗ lực học tập, sự đền đáp nhận được là thi đỗ cao trung. Năm đó, hai lớp Giáp Ất của chúng tôi tổng cộng 98 bạn học, cuối cùng thi đỗ cao trung chỉ có năm người. Lên cao trung, mọi người đều nỗ lực học tập, tôi tuy cũng nỗ lực, nhưng thành tích trong lớp luôn ở mức trung bình, không nổi bật.

Năm 1981, tôi tham gia thi đại học, tỷ lệ trúng tuyển thi đại học lúc bấy giờ đại khái chỉ có 3%, theo thành tích bình thường của tôi chắc chắn là không thi đỗ. Kết quả năm đó thi đại học, lớp chúng tôi 54 bạn học chỉ thi đỗ ba người, trong đó có tôi. Tôi là người thứ hai, cao hơn điểm trúng tuyển không nhiều, thuộc về thắng hiểm. Mặc dù vậy vẫn gây chấn động thầy cô và bạn học, và lập tức lưu truyền một cách nói rất độc địa, nói rằng tôi "đã giở trò" khi thi.

Đây là đánh rắm!

Nhưng, tôi cũng đang nghĩ, tại sao thành tích bình thường của tôi tầm trung, mà thi đại học lại thi tốt như vậy? Hoàn toàn dùng vận may để nói thì có chút không thông, bởi vì ba ngày thi đại học, hai ngày sau tôi đều bị sốt. Tôi ứng thí trong trạng thái hôn mê, chỉ có tôi biết, nếu không tôi nhất định sẽ thi tốt hơn.

Vậy thì, là cái gì?

Bây giờ tôi cũng không biết.

Bao gồm cả cha tôi, ông vốn là người thích tìm tòi sự bí ẩn nhất, nhưng cũng không tìm tòi ra được một nguyên do khoa học nào cho tôi, mà đưa ra một câu trả lời đại chúng: Đây chính là mệnh của tôi.

Câu trả lời này thực ra còn bí ẩn hơn, phức tạp hơn cả chính vấn đề.

Ngày 29 tháng 8 năm 1981

Ánh mặt trời đều bị lá cây cắt vụn, cắt thành từng mảng hình thù bất quy tắc, lúc lắc chao đảo nổi chìm trên đường nhựa. Đây là con đường trong thành phố Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang. Đây là ngày 29 tháng 8 năm 1981. Ngày này, tôi như bước vào giấc mơ, bị một chiếc xe tải mang biển số quân đội kéo từ Phú Dương đến Hàng Châu, rồi kéo đến nhà khách Bộ tư lệnh Quân khu tỉnh Chiết Giang, sau khi dừng lại chốc lát ở nhà khách, lại ào ào kéo đi nhà ga. Trên đường đi, tôi nhớ kỹ một điều kỳ lạ, đó là ánh mặt trời như một tấm vải trắng lớn, bị lá cây che kín bầu trời cắt nát vụn, trải trên con đường nhựa đen bóng, trắng đen rõ rệt, lúc lắc chao đảo, giống như cảnh tượng trong mơ. Mặc dù lúc này tôi vẫn mặc thường phục, nhưng nghiêm túc mà nói lúc này tôi đã là một quân nhân, hưởng thụ đãi ngộ mà quân nhân nên có. Ví dụ như khi vào nhà ga, chúng tôi đi lối đi dành riêng cho quân nhân, lên tàu hỏa, tiếp viên rót nước châm trà cho chúng tôi, chúng tôi cũng lau sàn lau cửa sổ giúp tiếp viên, thân như người một nhà, tình như cá với nước.

Tôi học Học viện Kỹ thuật Công trình Giải phóng quân, nay đổi tên thành Đại học Kỹ thuật Thông tin Giải phóng quân, ở Trịnh Châu. Đây là đại học trọng điểm của quân đội lúc bấy giờ, điểm trúng tuyển rất cao, khi phía học viện đến trường chúng tôi tuyển sinh, mức điểm sàn hồ sơ họ dự định ban đầu cao hơn mức điểm trúng tuyển 40 điểm. Tôi thuộc về thắng hiểm, chênh lệch rất xa, tự nhiên là nghĩ cũng không dám nghĩ. Nhưng, những người xuất sắc điểm cao đó sau khi được phía học viện đưa đến bệnh viện khám sức khỏe, có thể nói là tan tác như quân bại trận, bảng đo thị lực "Sơn" chữ Hán cứ như một khẩu súng máy, ngay lập tức hạ gục 14 người trong số 20 người, cộng thêm những cửa ải khác loại bỏ đi, cuối cùng chỉ còn lại hai người. Cần biết rằng, đây không phải khám sức khỏe học sinh thông thường, đây là khám sức khỏe nhập ngũ, là yêu cầu theo yêu cầu của quân nhân. Thế là, lại vạch lại mức điểm sàn hồ sơ, thấp hơn lần trước một nửa. Nhưng đối với tôi vẫn không đủ, vẫn còn chênh lệch xa.

Nhưng cũng chưa chắc.

Ngày đó, tôi đến bệnh viện tham gia khám sức khỏe. Trời rất nóng, mùi vị trong bệnh viện rất khó ngửi, tôi đi ra tầng dưới, trú mát dưới một cái cây nhỏ. Không lâu sau, đi ra một đồng chí đeo kính, tầm 50 tuổi, béo tròn, ông rõ ràng là đến trú mát, đứng bên cạnh tôi. Đúng là giờ trưa, cái cây lại là một cái cây nhỏ, cái bóng râm che ra chỉ là một mảng rất nhỏ, muốn chứa hai người có chút khó khăn, trừ khi chúng tôi sát gần nhau. Tôi do từ nhỏ bị người ta kỳ thị, đã rèn luyện được (có lẽ là bị ép buộc) thói quen lịch sự nhường nhịn người khác, thấy tình hình này chủ động nhường mảng lớn bóng râm cho ông. Ông thân thiện cười với tôi, bắt chuyện với tôi, lúc này tôi mới biết ông chính là thủ trưởng phụ trách tuyển sinh của "Công viện". Tôi bày tỏ với thủ trưởng rằng, tôi rất sẵn lòng đến trường của họ, chỉ là thành tích kém quá. Thủ trưởng hỏi điểm thi của tôi, cho rằng điểm số của tôi quả thực hơi thấp, nếu không ông có thể cân nhắc nhận tôi. Nhưng, sau đó khi thủ trưởng biết được toán tôi được điểm tuyệt đối, vật lý cũng có điểm cao 98, ông kinh ngạc nhìn tôi một lát, nghiêm túc hỏi tôi có phải thực sự muốn vào học trường của họ không.

Tôi xúc động nói: Là thật ạ.

Năm phút sau, tôi thay đổi lộ trình khám sức khỏe, chuyển đến tầng bốn, tiếp nhận cuộc khám sức khỏe khắt khe có quân nhân giám sát tại hiện trường. Tình trạng cơ thể của tôi tốt hơn tôi tưởng tượng, đáng tự hào, dọc đường kiểm tra đi xuống, thế mà dọc đường đèn xanh, ngay cả lòng bàn chân cũng đạt tiêu chuẩn (không phải chân vịt). Chiều hôm đó, khi tôi rời khỏi bệnh viện, thủ trưởng nắm tay tôi nói: Về nhà đợi thông báo đi.

Ngày thứ năm, tôi nhận được thông báo do chính tay thủ trưởng ký.

Ngẫm lại những điều này, tôi bàng hoàng cảm thấy mình như đang viết tiểu thuyết.

Ngày 15 tháng 1 năm 1988

Đây là thời gian phát hành của một tạp chí văn học, tên tạp chí là "Côn Lôn", kỳ số là số 1 năm 1988. Tiểu thuyết đầu tay của tôi "Biến Điệu" đã được đăng trong kỳ này, biên tập viên chịu trách nhiệm là Hải Ba.

Tôi thực sự bắt đầu viết tiểu thuyết là vào năm 1986, mấy năm trước đó tôi luôn viết nhật ký, viết được mấy quyển lớn, tính về số chữ chắc là trên mấy trăm ngàn. Tổng thể mà nói, tôi là người đắm chìm trong nội tâm, không thích náo nhiệt, không giỏi ngôn từ, viết nhật ký là một cách thư giãn của tôi, cũng là thói quen. Tôi thích giao mình cho mình, giao mình cho quyển nhật ký. Trong ký túc xá đối diện tôi, có một người Phúc Kiến, họ Dương, cậu ta cũng mỗi ngày phải vẽ nguệch ngoạc một hồi trên quyển nhật ký. Tôi cảm thấy cậu ta là người cùng hội cùng thuyền, cố ý tiếp cận cậu ta, dần dần kết thành bạn bè. Đã là bạn bè rồi, thì có thể nói vài chuyện riêng tư, một ngày nọ cậu ta kể cho tôi một bí mật, nói rằng những gì ghi trong nhật ký của cậu ta không phải là nhật ký, mà là tiểu thuyết.

Cậu ta đang viết tiểu thuyết!

Đây quả thực là một bí mật kinh thiên động địa. Mặc dù nhà trường không có văn bản quy định học viên không được viết tiểu thuyết, nhưng chúng tôi vẫn không dám chắc, việc này có "rước họa vào thân" hay không. Là học viên trường quân đội, hành động của chúng tôi dường như đều được văn bản quy định cả, chuyện không có quy định, chúng tôi không chắc đúng sai, thông thường cứ cẩn thận là tốt nhất, không làm thì hơn. Cho nên, tiểu thuyết tốt nhất là viết trong nhật ký, âm thầm làm việc riêng, tránh phạm phải quy tắc nào đó do giáo viên tự thiết lập trong lòng. Cậu ta còn nói với tôi, điểm khác biệt giữa tiểu thuyết và nhật ký nằm ở chỗ, nhật ký ghi chép chuyện thật, người thật việc thật, có chứng cứ để tra cứu, tiểu thuyết viết chuyện giả, ví dụ như viết thầy giáo dạy toán Trương và cô giáo dạy môn chuyên ngành Hoàng thành một cặp tình nhân bí mật, đây có lẽ chính là tiểu thuyết.

Cánh cửa tiểu thuyết của tôi dường như cứ thế mà mở toang ra. Năm đó, tôi viết tiểu thuyết đầu tiên, tất nhiên là viết trong nhật ký. Tôi viết câu chuyện một ông lão cận thị nặng đi nhầm nhà vệ sinh, bạn Dương đọc xong, cho rằng không tệ, khuyên tôi sửa lại một chút gửi cho tạp chí "Thanh Xuân" ở Nam Kinh. Tôi sửa, gửi đi, như ném xuống biển khơi mênh mông, bặt vô âm tín. Mặc dù vậy, lại không hề nản lòng, vẫn "tâm huyết sáng tác", có chút ý vị say mê không đổi, vui trong đó, đến mức bỏ bê học nghiệp. Nền tảng học tập của tôi vốn không vững, học tập đều là "ôm chân Phật lúc lâm chung", dùng làm gói cứu thương, dùng xong là vứt, không chữa trị tận gốc, vết thương vẫn ở đó, và đang ngày càng lớn hơn. Đến trước khi tốt nghiệp, thành tích môn chuyên ngành của tôi trong lớp gần như rơi xuống mấy hạng cuối, nhưng tôi không thấy xấu hổ, bởi vì "tôi biết viết tiểu thuyết". Khoảng thời gian đó, viết tiểu thuyết trở thành một tấm gương soi tự thưởng thức, thậm chí khinh thường chuyên ngành, cực kỳ thỏa mãn lòng hư vinh, tâm lý phản nghịch của tuổi trẻ tôi. Nhưng thực ra cái gọi là tiểu thuyết viết lúc đó, đều là một đống rác rưởi chó má không thông.

Thực sự có chút cảm giác là đến năm 1986, tôi đọc "tiểu thuyết tuổi trẻ" "Người Bắt Trẻ Đồng Xanh" của nhà văn Mỹ Salinger, cảm giác đầu tiên của tôi là, nó giống nhật ký của một thanh niên phản nghịch, cảm giác thứ hai — tôi thấy tôi nên viết tiểu thuyết giống như viết nhật ký trước đây. Đi một vòng lớn, hóa ra tiểu thuyết có thể viết giống như nhật ký! Phát hiện này cho tôi nhiệt tình và sức mạnh. Thế là tôi quay về quá khứ, quay về trạng thái một mình lẩm bẩm tự nói, cứ thế hì hục ra một thứ gần hai vạn chữ, tôi đặt tên cho nó là "Sổ Tay Cá Nhân". Gửi trước cho "Văn Học Phúc Kiến", bị từ chối, nhưng biên tập viên cảm thấy đó là thứ tốt, khi từ chối bản thảo còn chuyên môn (chuyên môn) đính kèm thư, cổ vũ tôi, còn khách sáo mời tôi đến nhà cậu ấy chơi. Tôi cũng đến, còn mang theo một cuốn tiểu thuyết khác, nhưng biên tập viên đọc xong lại thấy không bằng "Sổ Tay Cá Nhân". Đúng lúc này, Bộ Văn hóa Quân khu tổ chức một lớp sáng tác văn học tại Thượng Hải, cấp cho đơn vị chúng tôi một suất, do Phòng Tuyên truyền xác định nhân sự, điều kiện tiên quyết là người đi phải mang theo một cuốn tiểu thuyết. Lúc đó tôi có chút tiếp xúc với một cán bộ Phòng Tuyên truyền, cậu ấy biết tôi đang viết tiểu thuyết, liền sắp xếp cho tôi đi. Thứ tôi mang theo chính là "Sổ Tay Cá Nhân", các nhà văn phụ trách tổ chức lớp lúc bấy giờ, như Giang Kỳ Đào, Hà Hiểu Lỗ, đọc đồ của tôi rất phấn chấn, long trọng tiến cử tôi cho nhà văn đang rất nổi tiếng lúc bấy giờ, cũng là biên tập viên của tạp chí "Côn Lôn" là Hải Ba. Hải Ba đọc xong, cũng cảm thấy không tệ. Đến lúc này, thứ này và tôi mới đón nhận được một tia hy vọng sống.

Tiểu thuyết cuối cùng đổi tên thành "Biến Điệu" đăng trên "Côn Lôn" số 1 năm 1988 — đây chính là tác phẩm đầu tay của tôi. Trước đó, Hải Ba liệt tôi vào danh sách tác giả trọng điểm ông bồi dưỡng, sắp xếp tôi tham gia hai hoạt động, một lần ở quần đảo Vạn Sơn, Quảng Đông, chủ yếu là đọc sách, thảo luận; một lần khác là bên hồ Côn Minh, Bắc Kinh, chủ yếu là viết lách, bị nhốt một tháng, viết một cuốn trung thiên, tức "Nhân Sinh Bermuda", cũng đăng trên "Côn Lôn", số 5 năm 1988, còn đạt giải tác phẩm xuất sắc năm đó của tạp chí "Côn Lôn". Chính nhờ giải thưởng này, năm sau tôi vào Học viện Nghệ thuật Giải phóng quân. Quân Nghệ lúc đó rất hot, đã đào tạo ra những đại nhà văn như Mạc Ngôn, đến mức lúc đó có người đùa trên hội nghị rằng: Quân Nghệ là mảnh đất màu mỡ để nhà văn lớn mạnh, đến đây, cho dù bạn là một chiếc đũa, cũng sẽ lớn thành một cây trúc. Xúc động đến mức tôi như nhìn thấy mình đã lập tức thấy hiệu quả, xanh tươi mướt mắt.

Nhưng hai năm sau, khi tôi rời khỏi Quân Nghệ, tôi cảm thấy mình vẫn là một chiếc đũa. Nói cách khác, tôi ở Quân Nghệ không mở được cửa, nhưng cũng không đóng cửa. Cánh cửa tiểu thuyết của tôi kể từ sau khi mở ra, dường như liền đóng không được nữa. Đã đóng không được, thì cứ liều mạng mà mở nó ra đi, không mở được cũng phải mở. Đây là câu nói tôi nghe mình nói nhiều nhất trong nhiều năm qua. Tôi cảm thấy chính câu nói này đã cho tôi biết bí mật của tiểu thuyết.

Ngày 1 tháng 7 năm 1992

Đây là một ngày về mặt pháp lý, rất khô khan, không có gì để nói. Nếu nhất định phải nói, thì chính là nói: kể từ ngày này, pháp luật thừa nhận có một người phụ nữ là vợ tôi, hoặc nói là tôi là chồng của cô ấy. Tên người phụ nữ này là Hoàng Doãn. Đối với một số người mà nói, sự thừa nhận của pháp luật có lẽ là một ngày rất quan trọng, nhưng đối với tôi và Hoàng Doãn mà nói, đây là một ngày rất "không có gì cả". Đối với chúng tôi mà nói, ngày quan trọng nằm ở ba năm trước, khi cả nước xôn xao phong trào học sinh sinh viên, một ngày nọ tôi cùng bạn thân lúc đó đang ở Nam Kinh là Lỗ Dương đến Đại học Nam Kinh xem báo tường. Xem xong báo tường, Lỗ Dương vẫn không muốn về nhà, muốn gặp một nữ sinh. Cậu ta biết nữ sinh ở tòa nhà số mấy phòng số mấy: phòng 208 tòa nhà số 8. Nhưng chỉ biết thôi không được, bởi vì ký túc xá nữ đàn ông không vào được. Lúc đó cũng không có điện thoại di động, làm thế nào mới có thể gọi nữ sinh cậu ta muốn gặp xuống lầu nhỉ? Chỉ có cách cất giọng to hết cỡ mà gọi, không còn lựa chọn nào khác. Vậy thì gọi đi! Nhưng Lỗ Dương lại yêu cầu tôi gọi, cậu ta nói ở đây không ai quen cậu, cậu gọi đi, không sao đâu. Rõ ràng, cậu ta đang coi tôi là cậu ta. Cậu ta lúc đó đang làm thơ, thơ triết lý, thơ trữ tình, cả hai loại thơ đều là người bất đồng chính kiến với cuộc sống thế tục, khiến cuộc sống của cậu ta bớt đi không ít hơi hướm thế tục.

Nếu chúng tôi đổi chỗ cho nhau, tôi nghĩ cậu ta có thể sẽ giúp tôi gọi, cậu ta có khí chất nghĩa hiệp và lá gan dám chơi. Nhưng tôi đâu có cái dũng khí này? Đánh chết tôi cũng không gọi. Cho dù người được gọi xuống là của tôi, cũng không gọi. Kết quả cũng không cần chúng tôi gọi, trong tòa nhà đi ra hai nữ sinh, cậu ta nhìn chăm chú, lặng lẽ tiến lên, chặn họ lại. Hóa ra hai người họ tâm linh tương thông rồi. Không chỉ tâm linh tương thông với cậu ta, với tôi dường như cũng có chút linh khí, vô tình dẫn theo một người đến, thế là hình thành bố cục tốt đẹp hai nam hai nữ, nếu không chẳng phải tôi trở thành bóng đèn à? Để ám hợp với thuyết duyên phận, sau này Hoàng Doãn nói, đêm đó họ vốn dĩ đã ra khỏi tòa ký túc xá, nhưng cô cảm thấy thời tiết hơi mát, liền quay lại ký túc xá lấy một chiếc áo khoác, nếu không thì đã lỡ mất rồi.

Đêm này, chúng tôi giao thời gian cho một quán cà phê tên là Ba Cây Cổ Thụ gần Đại học Nam Kinh. Đây hình như là lần đầu tiên tôi "đi bar", cũng là lần đầu tiên tôi gặp Hoàng Doãn. Lúc đó, chúng tôi đều không biết đêm này có ma lực, sẽ bí ẩn sản sinh ra vô số đêm tương tự. Những đêm như vậy nhiều lên, chúng tôi liền bắt đầu bàn chuyện cưới xin, trước là nói trong lòng, sau là nói ngoài miệng, kế đến là cơ thể nói, cuối cùng là pháp luật nói. Nói thật, ban đầu hai chúng tôi đối với chuyện pháp luật đều xem thường một chút, thậm chí bài xích nó, chúng tôi cảm thấy nói trong lòng mới là quan trọng nhất. Lúc đó, chúng tôi đều hy vọng làm một cặp vợ chồng không có ý nghĩa pháp luật, nhưng thực tế chứng minh pháp luật nói là rất quan trọng. Pháp luật nói rồi, tôi liền từ Nam Kinh điều đến Thành Đô, danh chính ngôn thuận, bạn bè và tổ chức đều vì thế mà cung cấp sự giúp đỡ đáng có, ví dụ như nhà ở, ví dụ như kỳ nghỉ. Đây chính là ý nghĩa và lợi ích của pháp luật.

Là một người chồng, tôi là một người khác, không phải là người nhìn thấy bên ngoài. Ở bên ngoài, tôi đối xử với người khá ôn hòa, xử sự cũng khá bình tĩnh, gặp chuyện có tình có lý, thích nhường nhịn, rất nhiều chuyện để trong lòng giải quyết, không thích phô trương, không thích náo nhiệt, tổng thể mà nói là một người khiêm tốn cẩn thận. Cho nên, vợ tôi thường nói, cô ấy thích làm bạn của tôi, chứ không phải là vợ. Câu trả lời của tôi rất thô bạo, tôi nói: Cô là đồ ngu — hoàn toàn là một người khác! Đối với người này, vợ anh ta rất lâu không có cách nào với anh ta, đành phải nhịn, không nhịn được thì rơi lệ. Bây giờ hình như tìm được cách rồi, chính là làm bức tường phản âm, dùng âm thanh lớn hơn đáp lại: Anh mới là đồ ngu! Có khi trước chữ "ngu" còn thêm một chữ "đại": Đồ đại ngu! Hai đồ ngu đối đầu với nhau thì phiền phức rồi. Lúc này, con trai tôi liền dựng hai ngón cái nhỏ xíu về phía chúng tôi: Hòa rồi, hòa rồi! Đây là con học được ở trường. Tôi cảm thấy đây là kiến thức tốt nhất mà nó học được ở trường cho đến nay, có sức mạnh vô cùng — kiến thức chính là sức mạnh mà.

Tạ ơn Chúa!

Tiện thể nói một tư tưởng phản động của tôi — trước hết tuyên bố là phản động, đừng so đo, coi như trò đùa mà nghe. Tôi cảm thấy vợ chồng với nhau phải học cách cãi nhau, vợ chồng không biết cãi nhau là nguy hiểm, vợ chồng tương kính như tân là không chân thực, vợ chồng lén lút là đáng xấu hổ, vợ chồng chỉ có con cái trong lòng là đáng thương. Được rồi, dừng ở đây thôi, dùng lời của cụ Tolstoy mà nói: Gia đình hạnh phúc đều giống nhau, gia đình bất hạnh... thực ra cũng giống nhau.

Ngày 16 tháng 5 năm 1997

Đây là ngày tôi làm cha.

Có người nói, tác phẩm là đứa con của tác giả, vậy thì có thể nói ngược lại không, đứa con là tác phẩm của cha mẹ? Nên là như vậy. Tuy nhiên, tác phẩm này viết quá mệt. Quá mệt quá mệt! Một số chuyện bây giờ nghĩ lại đều thấy mệt, ví dụ như... nói hai chuyện cụ thể nhé. Trước khi con trai chào đời, vợ tôi và tôi đều bị một nỗi sợ hãi không nói nên lời bao trùm: Nếu tiểu vật nhỏ chui ra có chỗ nào khiếm khuyết thì làm sao? Càng gần ngày sinh, nỗi sợ hãi này càng hung hiểm, thường làm vợ gặp ác mộng không thôi. Ngày hôm sau chính là ngày dự sinh, nửa đêm tôi bị tiếng khóc xé lòng của "người mẹ ngày mai" đánh thức. Hỏi sao vậy, người mẹ tương lai chỉ khóc không nói, nước mắt chảy làm người ta đau lòng. Tôi bảo nói ra đi, nói ra thì tốt rồi. Cô ấy bảo cô ấy mơ thấy sinh ra một con khỉ. Tôi xem giờ đã hơn ba giờ sáng, liền bảo giấc mơ sau giờ Tý đều là ngược lại, chứng tỏ em sắp sinh ra một kim đồng ngọc nữ rồi. Cô ấy rõ ràng không hài lòng với cách nói này của tôi, liên tiếp tìm ra mấy giấc mơ cũ phản kích tôi. Tôi đành tìm đường khác, hỏi trong bụng cô ấy có cảm giác ngứa ngáy không? Cô ấy cảm nhận một chút rồi bảo không. Tôi bảo nếu là khỉ, thứ đầy lông lá, sao lại không có cảm giác ngứa ngáy? Cô ấy lúc này mới nín khóc. Ngày hôm sau, tiểu vật nhỏ không ra đúng hạn, mẹ nó càng hoảng loạn suốt ngày không yên, nói nó chắc chắn là sợ chúng ta ghét bỏ (không tốt mới ghét bỏ) nên không chịu ra. Tôi bảo đứa trẻ nào sinh ra chẳng khóc, ở trong tử cung thoải mái như vậy ai muốn ra, con trai ra đời xong tôi đều tình nguyện vào thay chỗ con trai đây. Dù sao cả ngày cứ dỗ dành nửa thật nửa giả như vậy. Thực ra miệng tôi nói nghe hay, lòng cũng đang run cầm cập. Đối với việc sinh con đẻ cái, tuổi của tôi và vợ đều quá lớn rồi, tôi thật sự lo lắng ban đầu vì muốn vui chơi, trì hoãn vài năm phải bắt chúng tôi trả giá đắt. Nếu thật như vậy, không nghi ngờ gì là làm cả đời chúng tôi chơi hỏng mất. Cứ như vậy, đợi chờ đứa trẻ chào đời, giống như đợi chờ ông trời phán xét, từng giây từng phút đều bị sự kỳ vọng và nỗi sợ hãi quá mức kéo dài ra lại kéo dài ra.

Ngày dự sinh là mùng 9, ngày 15 vẫn không động tĩnh, sự kiên nhẫn của cả hai đến giới hạn, mạnh mẽ yêu cầu bác sĩ áp dụng biện pháp, cho dù phải chịu một dao cũng không từ chối. Thế là ăn cơm thúc sinh. Tiểu vật nhỏ lại không chịu nổi thúc, cơm thúc sinh vừa ăn vào liền phát tác, hơn nữa thế tới hung mãnh, ba lần bốn lượt, chỉ mất năm tiếng là ra rồi. Dám nhìn xem, trên người không lông, mũi mắt gì đó cũng đều mọc đúng chỗ cả, trong lòng lập tức nhẹ nhõm. Muốn xem kỹ hơn, đã bị bác sĩ bọc lại, chỉ lộ ra một khuôn mặt, không nhìn được những cái khác. Về phòng bệnh, vợ hỏi tôi đã xem mông của con chưa, tôi bảo xem mông làm gì? Cô ấy không nói. Nhưng tôi nhìn ra tâm tư của cô ấy, bản thân tôi vì thế cũng có lo lắng. Xem hay không xem? Cả hai đều có chút do dự, bởi vì đứa trẻ được bọc kín mít, chúng tôi thậm chí không biết làm thế nào để mở ra. Nhưng do dự ba lần bảy lượt, chúng tôi vẫn kiên quyết và khó khăn mở lớp bọc ra. Trước xem mông — không mọc thêm cái đuôi nào, cũng không thiếu cái hậu môn nào. Sau đó bẻ từng ngón tay ra xem, bẻ ngón tay xong bẻ ngón chân. Đều không có dị dạng, tự nhiên yên tâm vui mừng. Nào ngờ tiểu vật nhỏ đúng lúc hắt hơi một cái vang dội, lập tức làm nỗi vui mừng của chúng tôi sợ bay mất, lo lắng có phải để nó bị cảm lạnh không. Những ngày đó cứ sợ hãi như vậy, cẩn thận từng chút một. Nhưng tổng thể mà nói, tiểu vật nhỏ còn tính là thương chúng tôi, đối với từng nỗi lo lắng của chúng tôi đều rút lui tránh né, thỉnh thoảng dính líu, cũng chỉ là điểm đến là dừng, chơi một ván có kinh không hiểm mà thôi. Chúng tôi nghĩ như vậy là tốt rồi. Như vậy chúng tôi liền cái gì cũng thỏa mãn rồi.

Một ngày nọ, nắng rực rỡ, tôi bế con trai đứng bên cửa sổ, con trai vươn cổ nhìn ra xa, dường như nhìn thấy gì đó, khiến tôi vô cùng vui mừng. Theo lời mọi người nói, trong vòng trăm ngày trẻ sơ sinh có mắt không quang, mà con trai lúc này còn lâu mới trăm ngày. Tôi nhìn lâu vào đôi mắt mở tròn của con trai, niềm vui từ trong lòng trào dâng. Đột nhiên, tôi cảm thấy trên con ngươi đen mắt trái của con trai dường như có dị vật, nhìn kỹ lại — á, trong cái màu đen kia lại còn chồng lên một chấm đen! Hình dáng và con ngươi to tròn như nhau, vị trí ở ngay phía trên con ngươi, cung dưới tiếp xúc ngoài với cung trên con ngươi, cung trên tiếp xúc trong với cung trên của con ngươi đen, màu sắc sâu thẳm hơn con ngươi, lại nhạt hơn con ngươi. Nhìn trái nhìn phải, chắc chắn không sai, lập tức niềm vui tiêu tan lo âu dâng lên! Nói thật, tôi không dám nói với vợ, bởi vì điều đó thực sự có chút đáng sợ. Cho dù đó là một nốt ruồi, tôi biết, nốt ruồi trên da là không đáng kể, nhưng lại có ai có thể nói với tôi, nốt ruồi trên con ngươi cũng là không đáng kể? Huống chi tôi không biết đó có phải là một nốt ruồi không. Từ đó, một nỗi lo lắng đầy đủ chiếm đóng trong lòng tôi. Từ đó, tôi cũng bắt đầu công việc kiểm chứng và xác minh dài đằng đẵng và phức tạp, đi khắp nơi cầu y hỏi người, dùng đủ loại phương pháp thủ đoạn kiểm tra thị lực mắt trái của nó. Nhưng, câu trả lời nhận được đều là nửa đúng nửa sai. Tôi dường như chỉ có kiên nhẫn chờ đợi, đợi qua trăm ngày, thậm chí lâu hơn nữa. Do quá mức hy vọng, tôi tự nhiên nảy sinh nỗi sợ hãi tột cùng. Tôi không biết sự chờ đợi này đến ngày nào mới kết thúc, chỉ cảm thấy trong sự chờ đợi vô hạn, tôi đã trở nên ngày càng đáng thương mà không biết làm sao.

Lại một ngày, con trai nửa đêm quấy khóc không thôi, tôi bế nó từ phòng ngủ dỗ dành đến phòng khách. Phòng khách tắt đèn, sự quấy khóc của con trai lập tức biến thành sự tò mò nhìn đông nhìn tây, đầu lắc mạnh tới lui, như muốn đâm thủng bóng tối. Đột nhiên, đầu con trai một cái rạp trên vai tôi bất động, hơn nữa cơ thể đang gắng sức lao về phía sau lưng tôi. Tôi thuận thế lùi lại, đến tận trước cửa, mà đầu con trai vẫn giãy giụa vượt qua vai tôi, lao về phía cánh cửa sắt lạnh lẽo. Tôi tưởng nó bị ngứa trán, liền đổi tay, muốn gãi ngứa cho nó. Lúc này, tôi ngoảnh đầu một cái phát hiện, trong bóng tối mắt cửa tròn nhỏ giống như một viên ngọc sáng rực rỡ. Hóa ra, hành lang đang bật đèn, mà nhà tôi tối đen, mắt cửa là điểm sáng duy nhất. Tôi cuối cùng cũng hiểu ra, vội vàng thử giúp mắt trái của con trai áp vào điểm sáng đó, kết quả con trai vô cùng hợp tác áp mắt trái vào mắt cửa, hai chân vui sướng đá mạnh. Tôi say sưa hồi lâu trong sự say sưa của con trai, nước mắt từng giọt chảy xuống. Cứ như vậy, tôi có đủ lý do tin rằng, đó chẳng qua là một nốt ruồi đen, nốt ruồi đen kỳ diệu, nốt ruồi đen không đáng kể. Cứ như vậy, tôi có phần biết ơn đầu tiên đối với con trai, cảm giác giống như con trai cõng tôi lấy tính mạng đi phá một kỷ lục thế giới kinh khủng nào đó, tính mạng không mất, kỷ lục đó tự nhiên liền trở thành vinh hạnh lớn của tôi, cũng là của con trai.

Điều tôi muốn nói là, đây chỉ mới là bắt đầu.

Điều tôi muốn hỏi là, cái này khi nào mới có thể kết thúc?

Ngày 28 tháng 8 năm 1997

Ai cũng bảo doanh trại sắt dòng nước binh, tôi tuy không phải binh, nhưng cũng là một giọt nước chảy. Ngày này, tôi chảy ra khỏi doanh trại quân đội đã chứa chấp tôi 17 năm đằng đẵng, chảy đến địa phương, nhận lấy cuốn thẻ căn cước cư dân đầu tiên trong đời này.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.