Ngày 1 tháng 4 năm 2007
Tôi vẫn luôn không tin rằng tiểu thuyết của chúng ta có lý do gì để yêu cầu mọi người phải chú ý, đó là chuyện của ca sĩ hay ngôi sao nào đó, chứ không phải của tiểu thuyết gia chúng ta. Tôi khăng khăng cho rằng sáng tác tiểu thuyết là một việc thuần túy cá nhân, giống như tình yêu của chúng ta vậy, là kín đáo, sâu sắc, là tưởng tượng, cũng là dục vọng, trong đó gói ghém những cái tôi, khoảnh khắc quý giá của đời ta, cùng với những đổi thay, chuyển biến và các hoạt động kết nối của chúng. "Tôi muốn nói về những dòng suy tư tinh tế của mình lúc này", "Tôi muốn tạm thời rời xa hiện thực một chút". Tôi luôn bắt đầu viết mỗi cuốn tiểu thuyết theo cách này hay cách khác, ánh đèn ấm áp, yên tĩnh là nhu cầu khách quan để tôi viết từng con chữ. Giữa ban ngày ban mặt, hay giữa tiếng sóng triều của thành phố, bạn có âu yếm vuốt ve người phụ nữ mà bạn trân quý từ tận đáy lòng không? Lúc đó, người phụ nữ bị bạn vuốt ve rất có thể chỉ là món đồ chơi của bạn. Vì món đồ chơi đó có thể theo người khác bất cứ lúc nào, bay theo gió mà đi, nên bạn phải tranh thủ thời gian để chiếm hữu, chiếm hữu, chiếm hữu triệt để — a, thật khoái lạc biết bao — giống như một con chó đang sung sướng vậy.
Tôi cũng gán cho việc viết lách của mình một trách nhiệm, nhưng không phải trách nhiệm thông thường. Tôi không tin vào châm ngôn của Goldoni: Nghệ thuật hiện đại đòi hỏi tiếng cười, đòi hỏi sự nuôi dưỡng của tính hài hước. Tôi cũng không tin vào tính hiện thực và sự cao cả của việc "giáo dục thông qua giải trí". Tôi cho rằng trách nhiệm quan trọng nhất của một nhà văn là phải quan tâm đến tâm hồn của chính mình, phải luôn đoàn kết với tâm hồn mình. Đọc sách, lấy được chút trải nghiệm hay chi tiết cuộc sống từ sách rồi mới viết, đó không phải là thói quen sáng tác mà tôi tôn trọng. Để viết cái gì đó mà phải lặn lội sớm hôm đến đâu đó sống một năm nửa năm, tinh thần sáng tác kiểu này khiến tôi khâm phục, nhưng cũng chỉ đến thế mà thôi. Có một ngày, tôi nhận được điện thoại của một người đàn ông lạ mặt, ông ta gào khóc nức nở với tôi trong điện thoại một hồi rồi phát hiện gọi nhầm người, chẳng nói chẳng rằng liền cúp máy. Mấy ngày sau, tôi bắt đầu viết "Cuốn sổ tay của Trần Hoa Nam", tiếng khóc của người đàn ông vô danh đó cứ mãi đồng hành cùng việc viết lách của tôi, đến nỗi tôi không thể nào ban cho Trần Hoa Nam lấy một nụ cười. Tôi viết tiểu thuyết như vậy đấy, viết trong tưởng tượng và mong muốn.
Ngoài việc phải đoàn kết với tâm hồn, tôi nghĩ một nhà văn còn nên bắt tay chặt chẽ với ngôn ngữ sáng tác của chính mình. Đây không phải là chuyện tào lao. Ngôn ngữ là thứ dễ lừa dối nhất, nhưng tuyệt đối đừng để nó lừa dối chính bạn - nhà văn. Có người nói, ngôn ngữ cũng giống như tiền giấy, trong quá trình lưu thông đã bị người ta sử dụng đến mức bẩn thỉu cũ kỹ. Đây vừa là một sự thật, vừa là một lời cảnh tỉnh, một niềm hy vọng: mọi người đang hy vọng phát hành một loại tiền tệ mới! Nếu trong một thiên tiểu thuyết không nhặt ra nổi một hai câu có chút đặc sắc, tôi liền cảm thấy thiên tiểu thuyết này bốc mùi xú uế, đáng bị đánh đổ. Đây là sự cố chấp và ngang ngược của tôi, nhưng... biết nói sao nhỉ? Tôi tin rằng một nhà văn quan tâm đến ngôn ngữ sáng tác của mình, chính là quan tâm đến vận mệnh của mình. Nói cách khác chính là: chúng ta nên quan tâm đến ngôn ngữ sáng tác của mình giống như quan tâm đến vận mệnh của chính mình vậy. Tôi thường nghĩ, tại sao không thể có một loại ngôn ngữ như thế này: nó giản đơn, trong sự giản đơn lại hàm chứa sự rắn rỏi về chất và nhịp điệu của cái đẹp, giống hệt như hình hài con người vậy. Tôi cho rằng, cảm nhận về ngôn ngữ của nhân loại nên như dòng nước đối với một hòn đá vậy, theo dòng thời gian trôi qua mà ngày càng bóng bẩy, tinh luyện, rắn rỏi và tràn đầy sức sống. Nghĩa là, ngôn ngữ của chúng ta không nên giống như tiền giấy, mà nên giống như vũ khí, như một cây súng!
Tuy nhiên, tôi buộc phải thừa nhận rằng, những mong muốn này của tôi khi đặt cạnh thực tại xung quanh, dường như là đặt Gia-vê và Satan cạnh nhau, trong khi tôi cảm thấy vô cùng khó xử, cũng cảm thấy cô độc, hoảng loạn bội phần.