Người Phụ Nữ Mặc Áo Trắng

Lượt đọc: 244 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1

❊ ❊ ❊

BLACKWATER PARK, HAMPSHIRE.

Ngày 11 tháng 6 năm 1850.—Sáu tháng đã trôi qua—sáu tháng dài đằng đẵng và cô quạnh kể từ lần cuối cùng Laura và tôi gặp nhau!

Tôi còn phải chờ bao nhiêu ngày nữa đây? Chỉ một ngày duy nhất! Ngày mai, ngày mười hai, những lữ khách sẽ trở về nước Anh. Tôi khó lòng nhận thức được hạnh phúc của chính mình—tôi khó lòng tin rằng hai mươi bốn tiếng nữa sẽ khép lại ngày cuối cùng xa cách giữa tôi và Laura.

Cô ấy và chồng đã ở Ý suốt mùa đông, rồi sau đó tới vùng Tyrol. Họ trở về, đi cùng với Bá tước Fosco và vợ, những người dự định định cư ở đâu đó quanh vùng London, và đã nhận lời ở lại Blackwater Park trong những tháng mùa hè trước khi quyết định nơi chốn an cư. Miễn là Laura trở về, ai đi cùng con bé cũng chẳng quan trọng. Ngài Percival có thể lấp đầy ngôi nhà từ sàn đến trần nếu hắn thích, với điều kiện vợ hắn và tôi được chung sống dưới một mái nhà.

Trong lúc này, tôi đã yên vị tại Blackwater Park, “dinh thự cổ kính và thú vị” (như cuốn sử địa phương nhã nhặn cho tôi biết) “của Ngài Percival Glyde, Nam tước,” và là chốn dung thân tương lai (như giờ đây tôi dám mạo muội tự thêm vào) của Marian Halcombe bình dị, một phụ nữ độc thân, hiện đang ngồi trong một căn phòng khách nhỏ ấm cúng, bên cạnh là một tách trà, cùng toàn bộ gia tài bầy quanh trong ba chiếc rương và một cái túi.

Tôi rời Limmeridge ngày hôm qua, sau khi nhận được bức thư tuyệt vời của Laura gửi từ Paris hôm trước đó. Trước đó tôi vẫn chưa biết chắc liệu mình sẽ gặp họ ở London hay ở Hampshire, nhưng bức thư mới nhất này cho hay Ngài Percival dự định cập cảng Southampton và đi thẳng về điền trang của mình. Hắn tiêu quá nhiều tiền ở nước ngoài đến nỗi chẳng còn chút nào để chi trả cho cuộc sống ở London trong phần còn lại của mùa mùa này, và hắn đành kinh tế quyết định trải qua mùa hè và mùa thu một cách yên bình tại Blackwater. Laura đã phải trải qua quá nhiều sự kích thích và đổi thay phong cảnh, nên rất hài lòng với viễn cảnh yên tĩnh và ẩn dật chốn thôn quê mà sự thận trọng của người chồng mang lại. Còn tôi, tôi sẵn sàng thấy hạnh phúc bất cứ nơi đâu khi được ở bên con bé. Vì vậy, khởi đầu là tất cả chúng tôi đều vô cùng mãn nguyện theo những cách riêng của mình.

Đêm qua tôi ngủ ở London, và ngày hôm nay bị giữ lại quá lâu bởi đủ thứ cuộc hẹn và việc vặt, tận sau khi trời tối tôi mới đến được Blackwater vào tối nay.

Đánh giá qua những ấn tượng mơ hồ của tôi về nơi này cho đến lúc này, nó hoàn toàn trái ngược với Limmeridge.

Ngôi nhà nằm trên một vùng đất phẳng lì, và dường như bị bao bọc—gần như ngột ngạt, theo quan điểm của một người ở miền Bắc như tôi—bởi những rặng cây. Tôi chẳng thấy ai ngoài người đầy tớ nam đã mở cửa cho tôi, và người quản gia, một phụ nữ rất lịch sự đã dẫn đường cho tôi về phòng và pha trà. Tôi có một phòng khách nhỏ xinh và phòng ngủ ở cuối một hành lăng dài trên tầng một. Lũ gia nhân và một số phòng trống nằm ở tầng hai, còn tất cả các phòng sinh hoạt đều ở tầng trệt. Tôi chưa thấy phòng nào trong số đó cả, và tôi chẳng biết gì về ngôi nhà, ngoại trừ việc một cánh nhà được cho là đã có niên đại năm trăm tuổi, nơi đây từng có hào bao quanh, và cái tên Blackwater bắt nguồn từ một hồ nước trong công viên.

Chuông mười một giờ vừa điểm, một cách đầy u ám và trang nghiêm, từ một tháp canh giữa ngôi nhà mà tôi đã thấy khi bước vào. Một con chó lớn dường như bị đánh thức bởi tiếng chuông, đang tru lên và ngáp dài đầy ảm đạm ở một góc khuất nào đó. Tôi nghe thấy tiếng bước chân vọng lại ở các hành lang phía dưới, và tiếng đập lanh lảnh bằng sắt của chốt và thanh cài ở cửa nhà. Lũ gia nhân rõ ràng là đang đi ngủ. Tôi có nên làm theo họ không?

Không, tôi chưa buồn ngủ nổi một nửa. Buồn ngủ, tôi vừa nói gì thế nhỉ? Tôi có cảm giác như mình sẽ chẳng bao giờ nhắm mắt lại được nữa. Sự mong đợi trần trụi được nhìn thấy gương mặt thân thương đó, và được nghe giọng nói quen thuộc vào ngày mai, cứ giữ tôi trong cơn sốt ruột không dứt. Ước gì tôi có được đặc quyền của một người đàn ông, tôi sẽ ra lệnh dắt con ngựa tốt nhất của Ngài Percival ra ngay lập tức, và phóng như bay trong đêm về phía đông để đón mặt trời mọc—một chuyến phi ngựa dài, bền bỉ, nặng nhọc và không ngớt suốt nhiều giờ liền, giống như chuyến đi nổi tiếng của tướng cướp đường đến York. Tuy nhiên, vì chẳng là gì ngoài một người phụ nữ, bị kết án phải kiên nhẫn, đoan trang và mặc váy suốt đời, tôi đành phải tôn trọng ý kiến của bà quản gia và cố gắng trấn an bản thân theo một cách yếu ớt và nữ tính nào đó.

Đọc sách là điều không thể—tôi không thể tập trung tư tưởng vào sách vở. Hãy để tôi thử xem liệu mình có thể viết đến mức buồn ngủ và mệt mỏi nổi không. Nhật ký của tôi gần đây đã bị bỏ bê quá nhiều. Tôi có thể nhớ lại điều gì—khi mà giờ đây, tôi đang đứng ngưỡng cửa của một cuộc đời mới—về những con người và sự kiện, về những may rủi và đổi thay trong suốt sáu tháng qua—khoảng thời gian dài đằng đẵng, mệt mỏi và trống rỗng kể từ ngày cưới của Laura?

Walter Hartright là người hiện lên rõ nhất trong ký ức của tôi, và anh bước đi đầu tiên trong đoàn người mờ ảo của những người bạn vắng mặt. Tôi nhận được vài dòng chữ từ anh sau khi đoàn thám hiểm cập bến Honduras, được viết với tâm trạng vui vẻ và tràn đầy hy vọng hơn bất kỳ bức thư nào trước đó. Một tháng hoặc sáu tuần sau, tôi nhìn thấy một đoạn trích từ một tờ báo Mỹ, mô tả sự khởi hành của những nhà thám hiểm trong chuyến hành trình sâu vào nội địa. Lần cuối người ta thấy họ là khi bước vào một khu rừng nguyên sinh hoang dã, mỗi người mang một cây súng trường trên vai và hành lý trên lưng. Kể từ đó, nền văn minh đã mất hoàn toàn dấu tích của họ. Tôi không nhận được thêm một dòng nào từ Walter, không một mảnh tin tức nào từ cuộc thám hiểm xuất hiện trên bất kỳ tờ báo đại chúng nào.

Sự mơ hồ đặc quánh, nản lòng ấy cũng bao trùm lên số phận và vận mệnh của Anne Catherick cùng người đồng hành, bà Clements. Hoàn toàn không có chút tin tức nào về cả hai người. Họ ở trong nước hay ngoài nước, họ còn sống hay đã chết, chẳng ai biết cả. Ngay cả luật sư của Ngài Percival cũng đã mất hết hy vọng, và đã ra lệnh từ bỏ hẳn cuộc tìm kiếm vô ích những kẻ trốn chạy ấy.

Người bạn già tốt bụng Mr. Gilmore của chúng ta đã gặp phải một bước lùi buồn thảm trong sự nghiệp hành nghề năng nổ của ông. Đầu mùa xuân, chúng tôi từng hoảng hốt khi nghe tin người ta tìm thấy ông bất tỉnh bên bàn làm việc, và cơn phát bệnh được chẩn đoán là đột quỵ. Ông đã kêu ca từ lâu về cảm giác đầy trướng và nặng nề ở đầu, và bác sĩ đã cảnh báo ông về những hậu quả sẽ xảy ra nếu ông cứ cố chấp tiếp tục làm việc sớm tối như thể mình vẫn còn là một thanh niên. Kết quả là giờ đây ông dứt khoát bị lệnh phải tránh xa văn phòng ít nhất là trong một năm tới, và phải tìm kiếm sự nghỉ ngơi cho thể xác lẫn sự thư thái cho tâm hồn bằng cách thay đổi hoàn toàn lối sống quen thuộc. Công việc do đó được để lại cho đối tác của ông tiếp quản, còn bản thân ông lúc này đang ở Đức, thăm hỏi một số họ hàng đang định cư buôn bán ở đó. Thế là chúng ta lại mất đi một người bạn chân thành nữa và một cố vấn đáng tin cậy—mất đi, tôi thành tâm hy vọng và tin tưởng rằng, chỉ là tạm thời.

Tội nghiệp bà Vesey đã đi cùng tôi đến tận London. Thật không thể bỏ mặc bà sống cô độc tại Limmeridge sau khi cả Laura và tôi đều rời khỏi nhà, và chúng tôi đã sắp xếp để bà sống với người em gái chưa chồng, người đang điều hành một trường học ở Clapham. Bà ấy sẽ đến đây vào mùa thu này để thăm học trò của mình—tôi suýt có thể nói là đứa con nuôi của bà. Tôi đã đưa cụ bà tốt bụng đến nơi an toàn, và để bà lại trong sự chăm sóc của người họ hàng, yên bình và hạnh phúc với viễn cảnh được gặp lại Laura chỉ vài tháng nữa thôi.

Còn về Mr. Fairlie, tôi tin rằng mình chẳng hề bất công chút nào nếu mô tả ông là người vô cùng nhẹ nhõm khi ngôi nhà sạch bóng lũ phụ nữ chúng tôi. Ý nghĩ rằng ông nhớ cháu gái mình thực sự là một điều quá vô lý—ngày trước ông từng để mặc cả tháng trời trôi qua mà chẳng thèm gặp con bé—còn trong trường hợp của tôi và bà Vesey, tôi xin phép được coi việc ông nói với cả hai rằng ông đau buồn đứt ruột khi chúng tôi ra đi, chẳng khác nào một lời thú nhận rằng ông đang thầm vui mừng vì tống khứ được chúng tôi. Mối thích thú bất chợt mới đây của ông đã khiến ông giữ hai thợ chụp ảnh làm việc không ngừng nghỉ để tạo ra những bức ảnh chụp bằng ánh sáng của tất cả các bảo vật và đồ kỳ lạ mà ông sở hữu. Một bản sao hoàn chỉnh của bộ sưu tập ảnh này sẽ được tặng cho Học viện Cơ khí Carlisle, được bồng trên tấm bìa cứng đẹp nhất, với những dòng chữ bằng mực đỏ phô trương ở mặt dưới: “Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng của Raphael. Thuộc sở hữu của Frederick Fairlie, Esquire.” “Đồng tiền đồng thời kỳ Tiglath Pileser. Thuộc sở hữu của Frederick Fairlie, Esquire.” “Bản khắc độc nhất của Rembrandt. Được cả châu Âu biết đến với tên gọi Vết Nhòe, do một vết mực của thợ in ở góc mà không bản sao nào khác có được. Được định giá ba trăm guineas. Thuộc sở hữu của Frederick Fairlie, Esq.” Hàng tá bức ảnh kiểu này, và tất cả đều được đề chữ theo cách đó, đã hoàn thành trước khi tôi rời Cumberland, và hàng trăm bức nữa vẫn đang chờ được làm tiếp. Với mối quan tâm mới này để bận tâm, Mr. Fairlie sẽ là một người đàn ông hạnh phúc trong nhiều tháng tới đây, và hai người thợ chụp ảnh bất hạnh sẽ phải chia sẻ nỗi tử đạo xã hội mà bấy lâu nay ông chỉ trút lên một mình người hầu phòng của mình.

Thế là đủ cho những con người và sự kiện giữ vị trí hàng đầu trong trí nhớ của tôi. Còn người duy nhất giữ vị trí hàng đầu trong trái tim tôi thì sao? Laura vẫn hiện hữu trong suy nghĩ của tôi suốt thời gian tôi viết những dòng này. Tôi có thể nhớ lại những gì về con bé trong sáu tháng qua, trước khi khép lại cuốn nhật ký cho đêm nay?

Tôi chỉ có những bức thư của con bé để làm kim chỉ nam, và về vấn đề quan trọng nhất mà thư từ chúng tôi có thể thảo luận, mọi bức thư trong số đó đều để lại cho tôi sự mù tịt.

Hắn có đối xử tử tế với con bé không? Bây giờ con bé có hạnh phúc hơn hồi tôi chia tay nó vào ngày cưới không? Tất cả các bức thư của tôi đều chứa đựng hai câu hỏi này, được đặt ra một cách trực tiếp ít nhiều, lúc dưới hình thức này, lúc dưới hình thức khác, và tất cả, chỉ riêng về điểm đó, đều vẫn không có câu trả lời, hoặc được trả lời như thể những câu hỏi của tôi chỉ liên quan đến tình trạng sức khỏe của con bé. Nó thông báo cho tôi, hết lần này đến lần khác, rằng nó hoàn toàn khỏe mạnh—rằng việc đi lại rất hợp với nó—rằng nó đang trải qua mùa đông, lần đầu tiên trong đời, mà không bị cảm lạnh—nhưng tôi chẳng tìm thấy ở đâu một từ nào nói rõ cho tôi biết rằng nó đã nguôi ngoai với cuộc hôn nhân của mình, và rằng giờ đây nó có thể nhìn lại ngày hăm hai tháng Mười hai mà không có bất kỳ cảm giác cay đắng nào của sự ăn năn và hối tiếc. Tên của người chồng chỉ được nhắc đến trong các bức thư của nó, như thể nó đang nhắc đến tên của một người bạn đang đi du lịch cùng họ, và là người đã nhận gánh vác mọi sự sắp xếp cho chuyến đi. “Ngài Percival” đã quyết định chúng tôi rời đi vào ngày này—“Ngài Percival” đã quyết định chúng ta đi theo con đường này. Thỉnh thoảng nó chỉ viết “Percival”, nhưng rất hiếm khi—cứ mười lần thì có chín lần nó gọi hắn bằng tước hiệu.

Tôi không thấy thói quen và quan điểm của hắn thay đổi hay tô điểm gì cho con bé dù chỉ là một chi tiết nhỏ. Sự biến đổi luân thường thông thường vốn ngấm ngầm diễn ra ở một người phụ nữ trẻ, tươi tắn, nhạy cảm qua cuộc hôn nhân dường như chưa từng xảy ra với Laura. Con bé viết về những suy nghĩ và ấn tượng của chính mình, giữa tất cả những điều kỳ diệu mà nó đã thấy, chính xác như thể nó có thể viết cho một ai đó khác, nếu tôi đi du lịch cùng nó thay vì chồng nó. Tôi không thấy bất kỳ sự bộc lộ nào về sự đồng cảm dưới bất kỳ hình thức nào tồn tại giữa họ. Ngay cả khi con bé đi chệch khỏi chủ đề du lịch của mình, và bận tâm đến những viễn cảnh đang chờ đón nó ở nước Anh, những suy đoán của nó vẫn xoay quanh tương lai của nó với tư cách là em gái tôi, và cố tình phớt lờ tương lai của nó với tư cách là vợ của Ngài Percival. Trong tất cả những điều này, không hề có một âm hưởng phàn nàn nào để cảnh báo tôi rằng nó hoàn toàn bất hạnh trong đời sống hôn nhân. Ấn tượng tôi thu được từ thư tín của chúng tôi không, tạ ơn Chúa, dẫn tôi đến kết luận đau buồn nào như thế. Tôi chỉ nhìn thấy một sự tê dại buồn bã, một sự thờ ơ không thay đổi, khi tôi chuyển tâm trí khỏi con bé trong nhân dạng cũ là một người chị em, và nhìn nó, qua lăng kính những bức thư của nó, trong nhân dạng mới là một người vợ. Nói cách khác, người viết thư cho tôi suốt sáu tháng qua luôn luôn là Laura Fairlie, chứ không bao giờ là Phu nhân Glyde.

Sự im lặng kỳ lạ mà con bé duy trì về chủ đề tính cách và hạnh kiểm của chồng, cũng được nó giữ gìn với quyết tâm gần như tương tự trong những lần nhắc đến ít ỏi ở những bức thư sau này về tên của người bạn tâm giao của chồng, Bá tước Fosco.

Vì một lý do nào đó chưa được giải thích, Bá tước và vợ hình như đã thay đổi kế hoạch đột ngột vào cuối mùa thu năm ngoái, và đã đi Viên thay vì đi Rome, nơi mà Ngài Percival trước đó từng mong đợi sẽ tìm thấy họ khi rời nước Anh. Họ chỉ rời Viên vào mùa xuân, và đi du lịch tận vùng Tyrol để gặp cô dâu chú rể trên đường họ trở về nhà. Laura viết rất thoải mái về cuộc gặp gỡ với phu nhân Fosco, và đảm bảo với tôi rằng con bé thấy người dì đã thay đổi tốt hơn rất nhiều—trầm tính hơn rất nhiều, và ra dáng người vợ khôn ngoan hơn rất nhiều so với thời còn con gái—đến mức tôi sẽ khó mà nhận ra khi gặp lại bà ấy ở đây. Nhưng về chủ đề Bá tước Fosco (người gây cho tôi sự tò mò vô hạn hơn cả vợ ông ta), Laura lại tỏ ra cực kỳ thận trọng và im lặng một cách đáng bực mình. Con bé chỉ nói rằng ông ta làm nó thấy khó hiểu, và rằng nó sẽ không nói cho tôi biết ấn tượng của nó về ông ta là gì cho đến khi tôi tự mình gặp mặt và hình thành quan điểm riêng trước.

Theo suy nghĩ của tôi, điều này có vẻ không tốt cho vị Bá tước. Laura vẫn bảo lưu, hoàn hảo hơn rất nhiều so với hầu hết mọi người ở tuổi trưởng thành, khả năng tinh tế bẩm sinh của trẻ thơ trong việc nhận biết một người bạn bằng bản năng, và nếu tôi đúng khi cho rằng ấn tượng đầu tiên của con bé về Bá tước Fosco không mấy thiện cảm, thì bản thân tôi đang gặp chút nguy cơ nghi ngờ và mất lòng tin vị quý tộc lừng danh ấy trước cả khi kịp đặt mắt nhìn thấy ông ta. Nhưng, kiên nhẫn nào, kiên nhẫn nào—sự bất định này, và nhiều sự bất định khác nữa, không thể kéo dài lâu hơn được nữa. Ngày mai sẽ chứng kiến tất cả những hoài nghi của tôi đi đến một kết cục được làm sáng tỏ, sớm hay muộn.

Mười hai giờ đã điểm, và tôi vừa quay lại để khép lại những trang này, sau khi nhìn ra chiếc cửa sổ đang mở.

Đó là một đêm tĩnh mịch, oi bức và không trăng. Những vì sao mờ nhạt và thưa thớt. Những rặng cây che khuất tầm nhìn tứ phía trông mờ ảo, đen thẫm và vững chãi ở đằng xa, giống như một bức tường đá vĩ đại. Tôi nghe thấy tiếng ếch kêu râm ran, mờ ảo và xa xăm, cùng những tiếng vọng của chiếc đồng hồ lớn ngân nga trong bầu không khí ngột ngạt mãi lâu sau khi tiếng chuông đã dứt. Tự hỏi không biết Blackwater Park ban ngày trông sẽ thế nào nhỉ? Ban đêm thì tôi không thích nó cho lắm.

Ngày 12.—Một ngày của những cuộc dò la và khám phá—một ngày thú vị hơn, vì nhiều lý do, so với những gì tôi đã dám mạo muội mong đợi.

Tôi bắt đầu việc đi ngắm cảnh của mình, tất nhiên rồi, từ ngôi nhà.

Phần thân chính của tòa nhà thuộc thời đại của người phụ nữ bị đánh giá quá cao ấy, Nữ hoàng Elizabeth. Ở tầng trệt có hai hành lang cực kỳ dài với trần thấp chạy song song với nhau, và càng trở nên tối tăm và ảm đạm hơn bởi những bức chân dung gia tộc gớm ghiếc—mỗi bức trong số đó tôi đều muốn đem đốt đi. Các phòng ở tầng trên hai hành lang được duy trì ở mức độ có thể chấp nhận được nhưng rất hiếm khi được sử dụng. Người quản gia lịch sự, đóng vai trò hướng dẫn viên của tôi, ngỏ ý muốn dẫn tôi đi tham quan nhưng ân cần nói thêm rằng cô ấy e là tôi sẽ thấy chúng hơi bề bộn. Sự tôn trọng của tôi đối với sự nguyên vẹn của những chiếc váy và tất của chính mình vượt trội hơn hẳn sự tôn trọng của tôi đối với tất cả các phòng ngủ thời Elizabeth trong vương quốc, thế nên tôi dứt khoát từ chối việc khám phá những khu vực bụi bặm và dơ bẩn ở tầng trên với cái rủi ro làm bẩn bộ quần áo đẹp đẽ sạch sẽ của mình. Người quản gia nói, “Tôi hoàn toàn có cùng quan điểm với cô, thưa cô,” và có vẻ coi tôi là người phụ nữ khôn ngoan nhất mà cô từng gặp trong suốt một thời gian dài vừa qua.

Thế là xong phần tòa nhà chính. Hai cánh nhà được thêm vào ở hai đầu của nó. Cánh nhà nửa đổ nát bên trái (khi bạn đến gần ngôi nhà) từng là một nơi ở đứng độc lập, và được xây dựng vào thế kỷ thứ mười bốn. Một trong những tổ tiên đằng ngoại của Ngài Percival—tôi không nhớ, và cũng chẳng quan tâm là ai—đã chắp nối thêm vào tòa nhà chính, vuông góc với nó, vào thời đại của Nữ hoàng Elizabeth đã nhắc tới ở trên. Người quản gia nói với tôi rằng kiến trúc của “cánh nhà cổ,” cả bên ngoài lẫn bên trong, được coi là vô cùng tuyệt mỹ bởi những vị giám khảo sành sỏi. Qua việc tìm hiểu kỹ hơn, tôi phát hiện ra rằng những vị giám khảo sành sỏi đó chỉ có thể phát huy khả năng của mình trên mảng cổ vật của Ngài Percival bằng cách trước đó gạt bỏ khỏi tâm trí mọi nỗi sợ về ẩm ướt, bóng tối và chuột bọ. Trong hoàn cảnh đó, tôi không chút do dự thừa nhận bản thân chẳng phải là kẻ sành sỏi gì sất, và đề nghị chúng ta nên đối xử với “cánh nhà cổ” y hệt như cách chúng ta vừa đối xử với các phòng ngủ thời Elizabeth. Một lần nữa người quản gia lại nói, “Tôi hoàn toàn có cùng quan điểm với cô, thưa cô,” và một lần nữa cô nhìn tôi với sự ngưỡng mộ không giấu giếm dành cho óc phán đoán thông thường phi thường của tôi.

Tiếp theo chúng tôi sang cánh nhà bên phải, được xây dựng theo kiểu hoàn thiện mớ hỗn độn kiến trúc kỳ lạ tại Blackwater Park, vào thời đại của George Đệ Nhị.

Đây là phần có thể ở được của ngôi nhà, đã được sửa chữa và trang trí lại nội thất vì lợi ích của Laura. Hai căn phòng của tôi, và tất cả các phòng ngủ tốt bên cạnh đó, đều nằm ở tầng một, còn tầng trệt bao gồm một phòng khách lớn, một phòng ăn, một phòng sinh hoạt ban ngày, một thư viện, và một phòng boudoir nhỏ xinh xắn dành cho Laura, tất cả đều được trang hoàng rất đẹp mắt theo phong cách hiện đại tươi sáng, và đều được bài trí vô cùng trang nhã với những món đồ xa hoa hiện đại tuyệt thú. Không có phòng nào to và thoáng đãng như các phòng của chúng tôi ở Limmeridge, nhưng trông phòng nào cũng dễ chịu để sinh sống. Tôi đã vô cùng sợ hãi, từ những gì nghe được về Blackwater Park, rằng sẽ gặp những chiếc ghế cổ mệt mỏi, những ô cửa kính màu ảm đạm, những tấm rèm mốc meo, hôi hám, và tất cả đống rác rưởi man rợ mà những kẻ sinh ra mà không có khiếu thoải mái tích tụ xung quanh họ, bất chấp sự cân nhắc cần thiết dành cho sự tiện nghi của bạn bè mình. Thật là một sự nhẹ nhõm không thể tả xiết khi thấy thế kỷ mười chín đã xâm chiếm cái tương lai kỳ lạ này của tôi, và đã quét sạch những “ngày xưa tốt đẹp” dơ bẩn ra khỏi đường đi lối bước của đời sống hàng ngày chúng tôi.

Tôi lãng phí buổi sáng—một phần thời gian ở các phòng dưới nhà, và một phần ở ngoài trời trong khoảng sân hình vuông lớn được tạo bởi ba mặt của ngôi nhà, cùng những hàng rào và cổng sắt cao bảo vệ nó ở phía trước. Một hồ cá tròn lớn với các thành bằng đá, và một con quái vật ngụ ngôn bằng chì ở giữa, chiếm vị trí trung tâm của khoảng sân. Bản thân hồ nước đầy cá vàng và cá bạc, được bao quanh bởi một vành đai rộng bằng lớp cỏ mềm nhất mà tôi từng bước chân lên. Tôi la cà ở đây bên phía râm mát khá thoải mái cho đến giờ ăn trưa, và sau đó cầm chiếc mũ rơm rộng Vành đi lang thang một mình dưới ánh nắng mặt trời ấm áp đáng yêu để khám phá khuôn viên.

Ánh sáng ban ngày đã xác nhận ấn tượng mà tôi cảm thấy vào đêm hôm trước về việc có quá nhiều cây cối tại Blackwater. Ngôi nhà bị chúng bóp nghẹt. Phần lớn chúng còn non và được trồng dày đặc một cách thái quá. Tôi nghi ngờ rằng hẳn đã có một cuộc chặt phá cây cối tàn khốc trên khắp điền trang trước thời của Ngài Percival, và sự lo lắng đầy bực dọc từ phía người chủ sở hữu tiếp theo trong việc lấp đầy mọi khoảng trống một cách dày đặc và nhanh chóng nhất có thể. Sau khi ngó nghiêng xung quanh phía trước ngôi nhà, tôi chú ý thấy một khu vườn hoa bên tay trái và bước về phía nó để xem mình có thể khám phá được gì theo hướng đó.

Khi đến gần hơn, khu vườn hóa ra lại nhỏ bé, nghèo nàn và chăm sóc tồi tàn. Tôi bỏ nó lại phía sau, mở một cánh cổng nhỏ trong hàng rào vây quanh, và thấy mình đang ở trong một khu rừng trồng cây linh sam.

Một lối mòn uốn lượn xinh xắn, được làm nhân tạo, dẫn tôi đi giữa những hàng cây, và kinh nghiệm miền Bắc của tôi nhanh chóng cho tôi biết rằng tôi đang đến gần vùng đất cát và thạch thảo. Sau một quãng đường đi bộ hơn nửa dặm, tôi nghĩ vậy, giữa những cây linh sam, con đường rẽ ngoặt gắt—những cây cối đột ngột biến mất ở cả hai bên tôi, và tôi thấy mình bất ngờ đứng trên rìa của một không gian rộng lớn mở ra, nhìn xuống hồ Blackwater — nơi đặt tên cho ngôi nhà.

Mặt đất dốc thoải xuống bên dưới tôi toàn là cát, với một vài gò thạch thảo nhỏ để phá vỡ sự đơn điệu của nó ở một số nơi nhất định. Bản thân hồ nước rõ ràng đã từng chảy đến tận điểm mà tôi đang đứng, và đã dần cạn kiệt và khô cạn xuống còn chưa đầy một phần ba kích thước trước đây của nó. Tôi nhìn thấy làn nước tĩnh lặng, đìu hiu của nó, cách tôi một phần tư dặm ở vùng trũng, bị chia cắt thành các vũng và ao bởi những đám sậy và cói uốn lượn, cùng những gò đất nhỏ. Ở bờ bên kia đối diện với tôi, cây cối lại mọc um tùm che khuất tầm nhìn, và hắt những cái bóng đen sì của chúng lên làn nước lờ đờ, nông cạn. Khi đi xuống hồ, tôi thấy mặt đất ở bờ bên kia ẩm ướt và lầy lội, mọc đầy cỏ dại và những cây liễu ảm đạm. Làn nước vốn khá trong ở bên bờ cát thoáng đãng, nơi có ánh nắng chiếu vào, trông đen ngòm và độc hại ở phía đối diện, nơi nó nằm sâu hơn dưới bóng râm của những bờ đất xốp, cùng những lùm cây rậm rạp treo lơ lửng và cây cối vướng víu. Lũ ếch đang kêu râm ran, và những con chuột đang trượt ra trượt vào vùng nước u ám, giống như những cái bóng sống thực sự, khi tôi đến gần hơn phía bờ hồ lầy lội. Tôi thấy ở đây, nằm một nửa trong nước và một nửa trên cạn, xác mục nát của một chiếc thuyền lật úp cũ kỹ, với một đốm nắng bệnh hoạn lấp ló qua khoảng trống giữa những tán cây trên bề mặt khô khốc của nó, và một con rắn đang sưởi nắng giữa đốm sáng đó, cuộn tròn kỳ dị và im lìm một cách hiểm độc. Cảnh sắc gần xa đều gợi lên những ấn tượng ảm đạm tương tự về sự cô độc và tàn lụi, và ánh sáng rực rỡ của bầu trời mùa hè phía trên dường như chỉ làm sâu sắc thêm và làm cho sự ảm đạm, cằn cỗi của vùng hoang vu nơi nó chiếu xuống trở nên trơ trọi hơn. Tôi quay người và lần theo bước đường cũ trở lại vùng đất thạch thảo cao, hướng chúng lệch sang một bên so với lối đi trước đây về phía một cái lồi cũ kỹ tồi tàn nằm ở rìa ngoài của khu rừng linh sam, và từ trước đến nay quá tầm thường nên không chiếm được sự chú ý của tôi ngang với khung cảnh rộng lớn, hoang dã của hồ.

Khi đến gần cái lán, tôi phát hiện ra rằng nó từng là một nhà để xuồng, và hình như người ta đã cố gắng biến nó thành một dạng chòi hóng mát thô sơ bằng cách đặt bên trong một chiếc ghế bằng gỗ linh sam, vài chiếc đẩu và một cái bàn. Tôi bước vào trong chỗ đó, ngồi xuống một lúc để nghỉ ngơi và lấy lại hơi sức.

Tôi ở trong nhà để xuồng chưa đầy một phút thì chợt nhận ra tiếng thở gấp của chính mình đang được vọng lại một cách rất kỳ lạ bởi thứ gì đó dưới chân. Tôi chăm chú lắng nghe trong giây lát, và nghe thấy một tiếng thở khò khè, thấp và nặng nhọc dường như phát ra từ mặt đất dưới chiếc ghế tôi đang ngồi. Thần kinh của tôi không dễ bị dao động bởi những chuyện vụn vặt, nhưng nhân dịp này tôi giật mình đứng phắt dậy vì sợ hãi—gọi lên—không nhận được câu trả lời—lấy lại can đảm đã mất và cúi xuống nhìn dưới ghế.

Nằm cuộn tròn ở góc xa nhất ở đó, chính là nguyên nhân khốn khổ của nỗi sợ hãi trong tôi, dưới hình hài của một con chó nhỏ tội nghiệp—một con chó spaniel lông đen trắng. Sinh vật này rên rỉ yếu ớt khi tôi nhìn và gọi nó, nhưng tuyệt nhiên không động đậy. Tôi dịch chiếc ghế ra và nhìn kỹ hơn. Đôi mắt của con chó nhỏ tội nghiệp đang mờ đục đi nhanh chóng, và có những vết máu trên bộ lông trắng mượt mà ở sườn nó. Nỗi khốn khổ của một sinh vật yếu đuối, bất lực và câm lặng chắc chắn là một trong những cảnh tượng đáng buồn nhất mà thế giới này có thể bày tỏ. Tôi bồng con chó tội nghiệp lên tay nhẹ nhàng nhất có thể, và tết tạo một dạng võng dã chiến cho nó nằm bằng cách túm vạt váy của mình xung quanh nó. Bằng cách này, tôi đưa sinh vật đó, ít đau đớn nhất có thể và nhanh nhất có thể, quay trở lại ngôi nhà.

Không thấy ai ở sảnh, tôi đi thẳng lên phòng khách của mình, làm một chiếc giường cho con chó bằng một trong những chiếc khăn choàng cũ của mình và bấm chuông. Người hầu phòng to béo nhất có thể xuất hiện, trong trạng thái ngu ngốc vui vẻ có thể làm chùng lòng kiên nhẫn của một vị thánh. Gương mặt phì nhiêu, vô hình thù của cô ta thực sự nứt ra thành một nụ cười toe toét khi nhìn thấy sinh vật bị thương trên sàn nhà.

“Cô thấy gì ở đó mà cười thế?” tôi hỏi, giận dữ như thể cô ta là đầy tớ của riêng tôi vậy. “Cô có biết con chó này của ai không?”

“Dạ không, thưa cô, chuyện đó thì chắc chắn là tôi không biết rồi.” Cô ta cúi xuống, nhìn vào mạng sườn bị thương của con chó spaniel—bỗng trở nên rạng rỡ với nguồn cảm hứng của một ý tưởng mới—và chỉ vào vết thương với tiếng khúc khích thỏa mãn, nói, “Đấy là việc của tay Baxter đấy, đúng thế đấy.”

Tôi tức giận đến mức suýt thì tát vào tai cô ta. “Baxter?” tôi nói. “Cái tên vũ phu mà cô gọi là Baxter ấy là ai?”

Con cô ta lại toe toét cười tươi hơn bao giờ hết. “Lạy Chúa cô! Baxter là người giữ rừng, và khi hắn thấy những con chó lạ sổng đi săn quanh đây, hắn liền tóm lấy và bắn chúng. Đó là bổn phận của người giữ rừng mà thưa cô. Tôi nghĩ con chó đó sắp chết rồi. Đây là chỗ nó bị bắn phải không ạ? Đấy là việc của Baxter đấy, đúng thế đấy. Việc của Baxter đấy thưa cô, và là bổn phận của Baxter.”

Tôi gần như đủ độc ác để ước gì Baxter đã bắn cô hầu phòng thay vì con chó. Thấy rằng việc kỳ vọng nhân vật ngu ngốc không thể xuyên thủng này có thể giúp ích gì cho mình trong việc cứu giúp sinh vật đang đau khổ dưới chân là hoàn toàn vô ích, tôi bảo cô ta đi mời bà quản gia đến với lời chào trân trọng của tôi. Cô ta bước ra đúng y như lúc bước vào, cười toe toét từ tai này sang tai khác. Khi cánh cửa khép lại sau lưng, cô ta thì thầm với chính mình, “Đấy là việc của Baxter và là bổn phận của Baxter—chính là thế đấy.”

Bà quản gia, một người có học thức và thông minh, chu đáo mang lên lầu một ít sữa và nước ấm. Ngay khoảnh khắc nhìn thấy con chó trên sàn nhà, bà giật mình đổi sắc.

“Ơ, lạy Chúa tôi,” bà quản gia kêu lên, “đó chắc chắn là con chó của bà Catherick!”

“Của ai cơ?” tôi hỏi với vẻ kinh ngạc tột độ.

“Bà Catherick. Có vẻ như cô biết bà Catherick, thưa cô Halcombe?”

“Không phải cá nhân, nhưng tôi đã nghe nói về bà ấy. Bà ấy sống ở đây à? Bà ấy có tin tức gì về con gái mình chưa?”

“Không, thưa cô Halcombe, bà ấy đến đây để dò hỏi tin tức.”

“Khi nào?”

“Mới hôm qua thôi. Bà ấy nói có ai đó báo tin rằng một người lạ có ngoại hình giống con gái bà ấy đã được nhìn thấy ở vùng chúng ta. Không có bản báo cáo nào như thế đến được với chúng tôi ở đây, và cũng không có tin tức nào như vậy trong làng khi tôi cử người đi dò hỏi ở đó vì lợi ích của bà Catherick. Bà ấy chắc chắn đã mang theo con chó nhỏ tội nghiệp này khi đến, và tôi đã thấy nó lững thững lẽo đẽo theo sau khi bà ấy rời đi. Tôi đoán con sinh vật này đã đi lạc vào các khu rừng và bị bắn trúng. Cô tìm thấy nó ở đâu vậy, thưa cô Halcombe?”

“Trong cái lán cũ hướng ra hồ.”

“À vâng, đó là phía rừng trồng, và tội nghiệp con vật chắc đã lê lết, tôi đoán vậy, đến chỗ trú ẩn gần nhất, như bản tính loài chó, để chết. Nếu cô có thể làm ẩm môi nó bằng sữa, thưa cô Halcombe, tôi sẽ rửa sạch phần lông bị bết máu ở vết thương. Tôi rất e là đã quá muộn để làm được điều gì tốt đẹp. Tuy nhiên, chúng ta cứ thử xem sao.”

Bà Catherick! Cái tên vẫn văng vẳng bên tai tôi, như thể bà quản gia chỉ vừa mới khoảnh khắc đó làm tôi ngạc nhiên khi thốt ra nó. Trong lúc chúng tôi đang chăm sóc con chó, những lời cảnh báo của Walter Hartright dành cho tôi lại hiện về trong ký ức: “Nếu có lúc nào Anne Catherick ngáng đường cô, hãy tận dụng cơ hội đó thật tốt hơn tôi, thưa cô Halcombe.” Việc tìm thấy con chó spaniel bị thương đã dẫn dắt tôi đến việc phát hiện ra chuyến viếng thăm của bà Catherick tới Blackwater Park, và sự kiện đó có thể lần lượt dẫn đến một điều gì đó nhiều hơn nữa. Tôi quyết tâm tận dụng tối đa cơ hội đang được trao cho mình, và thu thập càng nhiều thông tin càng tốt.

“Cô có nói rằng bà Catherick sống ở đâu quanh vùng này không?” tôi hỏi.

“Ồ không, thưa cô,” bà quản gia nói. “Bà ấy sống ở Welmingham, hoàn toàn ở tận đầu bên kia của hạt—cách đây ít nhất hai mươi nhăm dặm.”

“Tôi đoán cô đã biết bà Catherick được vài năm rồi nhỉ?”

“Ngược lại thưa cô Halcombe, tôi chưa bao giờ gặp bà ấy trước khi bà ấy đến đây ngày hôm qua. Đương nhiên là tôi đã nghe nói về bà ấy, bởi vì tôi đã nghe về sự tử tế của Ngài Percival trong việc đưa con gái bà ấy đi chữa bệnh. Bà Catherick là một người có phong thái khá kỳ lạ, nhưng trông vô cùng đáng kính. Bà ấy có vẻ vô cùng bực bội khi phát hiện ra chẳng có căn cứ nào—ít nhất là không có căn cứ nào mà bất kỳ ai trong chúng tôi có thể tìm ra—cho cái tin đồn con gái bà ấy đã được nhìn thấy ở vùng lân cận này.”

“Tôi khá hứng thú về bà Catherick,” tôi tiếp tục, kéo dài cuộc trò chuyện lâu nhất có thể. “Ước gì tôi đến đây đủ sớm để gặp bà ấy ngày hôm qua. Bà ấy có ở lại lâu không?”

“Vâng,” bà quản gia nói, “bà ấy ở lại một lúc; và tôi nghĩ bà ấy sẽ còn ở lại lâu hơn nếu tôi không bị gọi đi để nói chuyện với một quý ông lạ mặt—một quý ông đến hỏi khi nào Ngài Percival dự kiến quay về. Bà Catherick đã đứng dậy và rời đi ngay khi nghe cô hầu phòng nói cho tôi biết mục đích của vị khách là gì. Lúc chia tay, bà ấy bảo tôi rằng không cần thiết phải kể cho Ngài Percival nghe chuyện bà ấy đến đây. Tôi nghĩ đó là một nhận xét khá kỳ lạ, đặc biệt là với một người ở cương vị chịu trách nhiệm như tôi.”

Tôi cũng thấy đó là một nhận xét kỳ lạ. Ngài Percival chắc chắn đã dẫn dắt tôi tin tưởng, tại Limmeridge, rằng sự tin tưởng tuyệt đối tồn tại giữa ông ta và bà Catherick. Nếu đúng là như vậy, tại sao bà ấy lại phải lo lắng giấu giếm chuyến ghé thăm Blackwater Park khỏi sự biết đến của hắn?

“Có lẽ,” tôi nói, thấy rằng bà quản gia đang mong đợi tôi đưa ra ý kiến về những lời chia tay của bà Catherick, “có lẽ bà ấy nghĩ việc thông báo về chuyến thăm của mình có thể làm Ngài Percival phiền lòng một cách vô ích, bằng cách nhắc nhở ông ta rằng đứa con gái lạc mất vẫn chưa tìm thấy. Bà ấy có nói nhiều về chủ đề đó không?”

“Rất ít,” bà quản gia đáp. “Bà ấy chủ yếu nói về Ngài Percival, và đặt rất nhiều câu hỏi về việc ông ấy đã đi du lịch ở đâu, và người vợ mới của ông ấy là một quý bà thế nào. Bà ấy có vẻ chua chát và bực bội hơn là đau khổ khi không tìm thấy bất kỳ dấu vết nào của con gái mình ở những vùng này. ‘Tôi từ bỏ nó,’ là những lời cuối cùng bà ấy nói mà tôi có thể nhớ; ‘Tôi từ bỏ nó, thưa cô, vì nó đã mất tích rồi.’ Và từ đó bà ấy chuyển thẳng sang các câu hỏi về Phu nhân Glyde, muốn biết liệu cô ấy có phải là một quý bà xinh đẹp, dễ mến, duyên dáng, khỏe mạnh và trẻ trung——Ôi, trời ạ! Tôi cứ nghĩ mọi chuyện sẽ kết thúc ra sao chứ. Nhìn kìa, thưa cô Halcombe, cuối cùng thì con vật tội nghiệp cũng thoát khỏi nỗi thống khổ của nó rồi!”

Con chó đã chết. Nó đã phát ra một tiếng kêu rên rỉ yếu ớt, nó đã trải qua một cơn co giật chân tay trong chốc lát, ngay lúc những lời cuối cùng ấy, “duyên dáng, khỏe mạnh và trẻ trung,” thốt ra từ môi bà quản gia. Sự thay đổi đã diễn ra với tốc độ đáng ngạc nhiên—chỉ trong một khoảnh khắc, sinh vật đó đã nằm bất động dưới đôi tay chúng tôi.

Tám giờ tối. Tôi vừa trở về sau bữa tối dưới nhà trong sự cô độc một mình. Ánh hoàng hôn đang rực đỏ trên vùng rừng hoang vu mà tôi nhìn thấy từ cửa sổ của mình, và tôi lại đang cặm cụi đọc nhật ký của mình, để xoa dịu sự thiếu kiên nhẫn trước sự trở lại của những lữ khách. Theo tính toán của tôi, lẽ ra họ phải đến trước thời điểm này rồi. Ngôi nhà mới tĩnh mịch và cô quạnh làm sao trong buổi chiều chập choạng yên bình! Trời ơi! Còn bao nhiêu phút nữa trước khi tôi nghe thấy tiếng bánh xe ngựa và chạy ù xuống nhà để thấy mình trong vòng tay của Laura?

Con chó nhỏ tội nghiệp! Ước gì ngày đầu tiên của tôi tại Blackwater Park không gắn liền với cái chết, mặc dù đó chỉ là cái chết của một con động vật đi lạc.

Welmingham—tôi thấy, khi nhìn lại qua những trang riêng tư này của mình, rằng Welmingham là tên cái nơi mà bà Catherick đang sống. Tờ ghi chú của bà ấy vẫn còn trong tay tôi, bức thư trả lời cho bức thư về đứa con gái bất hạnh của bà ấy mà Ngài Percival buộc tôi phải viết. Một ngày nào đó, khi tìm được cơ hội an toàn, tôi sẽ mang theo tờ ghi chú đó như một thứ giấy thông hành và thử xem mình có thể moi được gì từ bà Catherick trong một cuộc gặp gỡ trực tiếp. Tôi không hiểu tại sao bà ấy lại muốn giấu giếm chuyến ghé thăm nơi này khỏi sự hiểu biết của Ngài Percival, và tôi không cảm thấy chắc chắn một nửa như bà quản gia có vẻ nghĩ, rằng con gái bà ấy Anne rốt cuộc không có ở vùng lân cận này. Walter Hartright sẽ nói gì trong tình huống khẩn cấp này đây? Hartright thân yêu tội nghiệp! Tôi đã bắt đầu cảm thấy sự thiếu vắng lời khuyên chân thành và sự giúp đỡ sẵn lòng của anh ấy rồi.

Chắc chắn là tôi vừa nghe thấy cái gì đó. Có phải là tiếng bước chân xôn xao ở tầng dưới không? Đúng vậy! Tôi nghe thấy tiếng móng ngựa—tôi nghe thấy tiếng bánh xe lăn——

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Wilkie Collins

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.