Người Phụ Nữ Mặc Áo Trắng

Lượt đọc: 244 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Vii

❊ ❊ ❊

Hành lang không có đèn, nhưng nhờ ánh nến mờ ảo từ căn phòng bếp mà cô hầu gái vừa mang lên lầu, tôi thấy một phu nhân lớn tuổi lặng lẽ rón rén bước ra từ căn phòng phía sau ở tầng trệt. Bà liếc nhìn tôi với ánh mắt độc ác như loài rắn lục khi tôi bước vào hành lang, nhưng không nói gì, cứ chậm rãi đi lên lầu mà không đáp lại cái cúi chào của tôi. Sự quen thuộc của tôi với cuốn nhật ký của Marian đã đủ đảm bảo cho tôi biết rằng người phụ nữ lớn tuổi ấy chính là Madame Fosco.

Người hầu dẫn tôi đến căn phòng mà nữ bá tước vừa rời khỏi. Tôi bước vào và đối mặt trực diện với bá tước.

Ông vẫn mặc trang phục dạ tiệc, trừ chiếc áo khoác đã được vắt lên lưng ghế. Tay áo sơ mi được xắn lên đến cổ tay, nhưng không cao hơn thế. Một chiếc túi xách thảm nằm ở một bên và một cái hộp ở bên kia. Sách vở, giấy tờ và quần áo vương vãi khắp phòng. Trên chiếc bàn cạnh cửa ra vào đặt chiếc lồng nuôi chuột bạch mà tôi đã biết rất rõ qua miêu tả. Những con chim hoàng yến và con vẹt mào có lẽ được đặt ở căn phòng khác. Khi tôi bước vào, ông đang ngồi trước chiếc hộp để thu dọn đồ đạc, liền đứng dậy với vài tờ giấy trên tay để đón tiếp tôi. Gương mặt ông vẫn hằn rõ những vết tích của cú sốc từng đánh gục ông ở nhà hát. Hai má phì nhiêu trĩu xuống, đôi mắt xám lạnh lùng liếc dọc liếc ngang đầy cảnh giác; giọng nói, ánh mắt và dáng điệu đều toát lên vẻ ngờ vực cay độc khi ông bước lên một bước đón lấy tôi và lạnh lùng lịch sự mời tôi ngồi ghế.

– Ông đến đây vì chuyện làm ăn phải không, thưa ngài? – ông nói. – Tôi thật không tài nào đoán nổi công chuyện đó rốt cuộc là gì.

Sự tò mò không giấu giếm khi ông đăm đăm nhìn thẳng vào mặt tôi lúc nói câu đó đã thuyết phục tôi rằng tôi từng lọt khỏi tầm mắt của ông tại nhà hát. Ông đã nhìn thấy Pesca trước, và kể từ khoảnh khắc ấy cho đến khi rời khỏi nhà hát, rõ ràng ông chẳng chú ý đến ai khác nữa. Cái tên của tôi chắc chắn sẽ gợi cho ông suy luận rằng tôi bước chân vào nhà ông với mục đích thù địch, thế nhưng cho đến lúc này, dường như ông hoàn toàn mù tịt về bản chất thực sự trong sứ mệnh của tôi.

– Tôi thật may mắn khi tìm gặp được ông tối nay – tôi nói. – Có vẻ như ông đang chuẩn bị lên đường đi xa?

– Chuyện của ông có liên quan đến chuyến đi của tôi không?

– Phần nào là có.

– Phần nào? Ông có biết tôi sắp đi đâu không?

– Không. Tôi chỉ biết lý do vì sao ông rời khỏi Luân Đôn.

Nhanh như cắt, ông lướt qua người tôi, khóa cửa lại và đút chìa khóa vào túi.

– Cả ông và tôi, anh Hartright, đều quá rành tiếng tăm của nhau rồi – ông nói. – Khi đặt chân đến ngôi nhà này, có bao giờ ông chợt nghĩ rằng tôi không phải là kiểu người mà ông có thể giỡn mặt được chưa?

– Tôi có nghĩ đến điều đó chứ – tôi đáp. – Và tôi đến đây không phải để giỡn mặt với ông. Tôi đến đây vì một vấn đề sinh tử, và nếu cánh cửa ông vừa khóa mà đang mở ngay lúc này, thì dù ông có nói hay làm bất cứ điều gì cũng đừng hòng ép tôi bước ra khỏi đó.

Tôi tiến sâu hơn vào phòng và đứng đối diện với ông trên tấm thảm trước lò sưởi. Ông kéo một chiếc ghế ra chắn trước cửa, ngồi phịch lên đó với cánh tay trái tì lên bàn. Chiếc lồng nhốt lũ chuột bạch nằm sát bên cạnh ông, và khi cánh tay nặng nề của ông làm chiếc bàn rung lên, bọn thú nhỏ liền lỉnh khỏi chỗ ngủ, thập thò nhìn ông qua những khoảng trống giữa các thanh sắt được sơn phết bóng bẩy.

– Một vấn đề sinh tử – ông lặp lại như để tự nhẩm. – Những lời đó có lẽ nghiêm trọng hơn ông tưởng đấy. Ý ông là gì?

– Ý tôi đúng như những gì tôi nói.

Mồ hôi vã ra đầm đìa trên vầng trán rộng của ông. Bàn tay trái của ông lén lút trườn qua mép bàn. Trên bàn có một ngăn kéo có khóa, và chìa khóa vẫn đang cắm ở ổ. Ngón tay và ngón cái của ông khép chặt lấy chìa khóa nhưng không vặn nó.

– Vậy là ông biết lý do vì sao tôi rời Luân Đôn ư? – ông nói tiếp. – Xin hãy nói cho tôi nghe lý do đó xem nào. – Vừa nói, ông vừa vặn chìa khóa mở ngăn kéo.

– Tôi có thể làm tốt hơn thế – tôi đáp. – Nếu muốn, tôi có thể cho ông thấy tận mắt lý do đó.

– Bằng cách nào mà ông cho tôi thấy được?

– Ông đang cởi áo khoác đấy thôi – tôi nói. – Hãy xắn tay áo sơ mi bên tay trái lên, ông sẽ thấy nó ở đó.

Sự biến đổi tái ngắt, xám xịt từng xuất hiện trên khuôn mặt ông ở nhà hát lại lướt qua nét mặt ông lần nữa. Ánh nhìn chết chóc trong mắt ông chiếu thẳng, kiên định vào mắt tôi. Ông không nói gì. Nhưng bàn tay trái của ông từ từ kéo ngăn kéo bàn ra rồi êm ái luồn vào trong. Tiếng rít chói tai của một vật nặng nào đó đang bị ông dịch chuyển mà tôi không nhìn thấy vang lên trong giây lát rồi im bặt. Sự im lặng theo sau đó tĩnh mịch đến mức tiếng gặm nhấm lạch cạch khe khói của lũ chuột bạch vào các thanh sắt lồng bộc lộ rõ mồn một đến tận tai tôi.

Sinh mạng của tôi đang ngàn cân treo sợi tóc, và tôi thừa ý thức được điều đó. Vào thời khắc định mệnh ấy, tôi suy nghĩ bằng tâm trí của ông, cảm nhận bằng những ngón tay của ông—tôi chắc chắn đến mức như thể tận mắt nhìn thấy thứ mà ông đang cố giấu tôi trong ngăn kéo.

– Đợi một chút đã – tôi nói. – Ông đã khóa cửa rồi đấy—ông thấy đấy, tôi không hề nhích đi đâu—tay tôi hoàn toàn không cầm gì. Chờ một lát. Tôi còn vài lời muốn nói.

– Ông nói đủ lắm rồi – ông đáp, với một vẻ bình tĩnh đột ngột đến mức trái tự nhiên và ghê rợn, khiến thần kinh tôi căng thẳng hơn bất kỳ cơn bộc phát bạo lực nào.

– Tôi cần một khoảnh khắc để suy ngẫm cho riêng mình, xin vui lòng đấy. Ông có đoán được tôi đang nghĩ gì không?

– Có lẽ tôi đoán được.

– Tôi đang tự hỏi – ông điềm nhiên nhận xét – liệu mình có nên làm bừa bộn thêm căn phòng này bằng cách vãi óc ông tung tóe ra quanh lò sưởi hay không.

Chỉ cần tôi nhúc nhích vào khoảnh khắc đó, tôi đọc được trên nét mặt hắn rằng hắn sẽ làm thật.

– Tôi khuyên ông nên đọc qua hai dòng chữ tôi đang mang theo người – tôi đáp lời – trước khi đưa ra quyết định cuối cùng về vấn đề đó.

Đề nghị này có vẻ đã khơi gợi sự tò mò của hắn. Hắn gật đầu. Tôi rút giấy biên nhận thư từ của Pesca ra khỏi cuốn sổ tay, đưa cho hắn từ khoảng cách một sải tay, rồi quay lại vị trí cũ trước lò sưởi.

Hắn đọc lớn những dòng chữ ấy: “Đã nhận được thư của ông. Nếu tôi không nhận được tin tức gì từ ông trước thời điểm ông đề cập, tôi sẽ phá niêm phong khi đồng hồ điểm giờ.”

Một kẻ khác ở địa vị của hắn lúc này chắc hẳn sẽ đòi hỏi phải giải thích rõ ràng về những lời đó—cơn bá tước thì chẳng thấy có chút nhu cầu nào như vậy. Chỉ cần đọc qua bức thư một lần là hắn hiểu ngay biện pháp phòng ngừa mà tôi đã áp dụng rõ ràng chẳng khác nào hắn đứng cạnh tôi lúc tôi làm việc đó. Nét mặt hắn biến đổi tức thì, và bàn tay thò ra khỏi ngăn kéo hoàn toàn trống không.

– Tôi chưa khóa ngăn kéo của mình đâu, anh Hartright ạ – hắn nói – và tôi cũng chưa dám chắc là mình sẽ không vãi bộ óc của anh tung tóe ra lò sưởi đâu đấy. Nhưng tôi là một kẻ công bằng, ngay cả với kẻ thù của mình, và tôi thừa nhận trước rằng bộ óc đó khôn ngoan hơn tôi tưởng. Vào vấn đề chính đi, thưa ngài! Ông muốn gì ở tôi?

– Đúng vậy, và tôi nhất định phải lấy cho bằng được.

– Kèm theo điều kiện chứ?

– Không có điều kiện nào hết.

Bàn tay hắn lại thụt vào ngăn kéo.

– Cha chả! Chúng ta đang đi vòng quanh một cái vòng tròn – hắn nói – và cái bộ óc khôn ngoan ấy của anh lại đang gặp nguy hiểm rồi đấy. Giọng điệu của anh hỗn xược đến mức đáng trách đấy, thưa ngài—hãy kìm lại ngay lập tức! Rủi ro bắn chết anh ngay tại chỗ này đối với tôi còn nhỏ hơn rủi ro để anh bước ra khỏi ngôi nhà này, trừ khi phải tuân theo những điều kiện do chính tôi sai khiến và phê chuẩn. Anh không còn phải đối phó với người bạn quá cố đáng thương của tôi nữa đâu—anh đang đứng trước Fosco này đây! Nếu sinh mạng của hai mươi kẻ như anh Hartright là những bậc đá lót đường cho sự an toàn của tôi, tôi cũng sẽ giẫm đạp qua tất cả những viên đá ấy, được nâng đỡ bởi sự dửng dưng cao cả của mình, giữ vững thăng bằng nhờ sự bình tĩnh không thể lay chuyển. Hãy tỏ lòng kính trọng với tôi, nếu anh còn thiết tha đến cái mạng sống của mình! Tôi yêu cầu anh phải trả lời ba câu hỏi trước khi anh hé răng nói thêm một lời nào nữa. Lắng nghe đây—chúng rất cần thiết cho cuộc gặp gỡ này. Trả lời chúng đi—chúng là những điều TỐI QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI TÔI.” Hắn giơ một ngón tay của bàn tay phải lên. “Câu hỏi thứ nhất!” hắn nói. “Ông đến đây với những thông tin có thể đúng hoặc có thể sai—ông lấy nó ở đâu?”

– Tôi từ chối trả lời.

– Không hề gì—tự khắc tôi sẽ tìm ra. Nếu thông tin đó là sự thật—tôi xin nhấn mạnh bằng toàn bộ quyết tâm của mình rằng, nếu đúng—thì anh đang trục lợi từ nó ở đây bằng sự phản bội của chính anh hoặc sự phản bội của kẻ khác. Tôi ghi nhớ tình tiết đó để dùng đến trong tương lai với một trí nhớ chẳng bao giờ quên ai, và tiếp tục.” Hắn giơ thêm một ngón tay nữa. “Câu hỏi thứ hai! Những dòng chữ anh vừa mời tôi đọc không hề có chữ ký. Ai là người viết chúng?”

– Một người mà tôi có mọi lý do để tin tưởng, và cũng là người mà ông có mọi lý do để sợ hãi.

Câu trả lời của tôi đã đánh trúng đích. Bàn tay trái của hắn run bần bật đến mức phát ra tiếng động trong ngăn kéo.

– Anh cho tôi thời hạn bao lâu – hắn hỏi, cất câu hỏi thứ ba với giọng điệu điềm tĩnh hơn – trước khi đồng hồ điểm chuông và niêm phong bị phá vỡ?

– Đủ thời gian để ông chấp nhận các điều kiện của tôi – tôi đáp.

– Hãy cho tôi một câu trả lời rõ ràng hơn, anh Hartright. Mấy giờ thì đồng hồ điểm chuông?

– Chín giờ sáng mai.

– Chín giờ sáng mai ư? Phải, phải—cái bẫy của anh đã giăng sẵn ra để tóm tôi trước khi tôi kịp xin hộ chiếu và rời khỏi Luân Đôn. Chắc không sớm hơn thế chứ? Lát nữa chúng ta sẽ tính tiếp—tôi có thể giữ anh làm con tin ở đây, và mặc cả với anh để sai người đi lấy bức thư của anh về trước khi tôi thả anh đi. Trong lúc chờ đợi, xin phiền anh nêu ra các điều kiện của mình trước đã.

– Ông sẽ được nghe đây. Chúng rất đơn giản và sẽ được trình bày nhanh chóng. Ông có biết tôi đại diện cho lợi ích của ai khi đến đây không?

Hắn mỉm cười với vẻ điềm tĩnh tối thượng, và thờ thợ phất phất bàn tay phải.

– Tôi mạn phép phỏng đoán một chút nhé – hắn cười cợt. – Lợi ích của một người phụ nữ, dĩ nhiên rồi!

– Lợi ích của vợ tôi.

Hắn nhìn tôi với nét chân thành đầu tiên xuất hiện trên khuôn mặt hắn từ khi tôi có mặt ở đây—vẻ kinh ngạc đến ngẩn ngơ. Tôi có thể nhận thấy rằng từ khoảnh khắc đó, tôi đã tụt hạng trong mắt hắn thành một kẻ nguy hiểm. Hắn sập ngăn kéo lại ngay lập tức, khoanh tay trước ngực và lắng nghe tôi với một nụ cười đầy châm biếm.

– Ông thừa thừa hiểu rõ – tôi tiếp lời – hướng đi mà những cuộc điều tra của tôi đã trải qua suốt mấy tháng qua, để biết rằng bất kỳ sự chối bay chối biến nào đối với những sự thật hiển nhiên đều sẽ hoàn toàn vô ích khi đứng trước mặt tôi. Ông có tội trong một âm mưu đê tiện! Và món lợi nhuận mười ngàn bảng chính là động cơ khiến ông làm thế.

Hắn không nói gì. Nhưng khuôn mặt hắn chợt phủ một bóng mây u ám bởi mối lo âu trĩu nặng.

– Cứ giữ lấy món lợi đó đi – tôi nói. (Khuôn mặt hắn sáng bừng lên ngay lập tức, và đôi mắt mở trừng trừng nhìn tôi với vẻ kinh ngạc ngày càng lớn.) – Tôi không đến đây để tự bôi nhọ danh dự bằng cách mặc cả những đồng tiền đã qua tay ông, những đồng tiền là cái giá cho một tội ác đê hèn——

– Khoan đã, anh Hartright. Những luận điệu luân lý rẻ tiền của anh có hiệu quả xuất sắc ở nước Anh đấy—nhưng xin hãy giữ lại mà dùng cho bản thân anh và đồng bào của anh đi. Mười ngàn bảng đó là khoản tiền thừa kế để lại cho người vợ xuất sắc của tôi bởi cố ông Fairlie. Hãy đặt vụ việc trên những cơ sở đó, và tôi sẽ thảo luận với anh nếu anh thích. Tuy nhiên, đối với một người có tâm hồn như tôi, chủ đề này thực sự vô cùng tầm thường. Tôi thích bỏ qua nó hơn. Tôi mời anh tiếp tục thảo luận về các điều kiện của anh. Anh đòi hỏi những gì?

– Trước hết, tôi đòi hỏi một lời thú tội đầy đủ về âm mưu đó, được viết và ký tên chính tay ông trước mặt tôi.

Hắn lại giơ ngón tay lên. “Một!” hắn nói, gạch đầu dòng tôi với sự tập trung kiên định của một con người thực tế.

– Thứ hai, tôi đòi hỏi một bằng chứng rõ ràng, không phụ thuộc vào lời cam đoan cá nhân của ông, về thời điểm vợ tôi rời khỏi Blackwater Park và đi đến Luân Đôn.

– Ồ! Ồ! Xem ra anh có thể đặt đúng ngón tay vào chỗ hiểm đấy chứ – hắn điềm đạm nhận xét. – Còn gì nữa không?

– Hiện tại thì không còn gì nữa.

– Tốt! Anh đã nêu các điều kiện của mình, giờ thì hãy lắng nghe điều kiện của tôi. Trách nhiệm trước bản thân tôi khi thừa nhận điều mà anh gọi là “âm mưu” có lẽ nhìn chung còn nhẹ nhàng hơn trách nhiệm đánh gục anh nằm chết ngay trên tấm thảm lò sưởi kia. Cứ cho là tôi chấp thuận đề xuất của anh—nhưng theo các điều kiện của riêng tôi. Bản tường trình mà anh yêu cầu sẽ được viết ra, và bằng chứng rành rành sẽ được đưa ra. Tôi cho rằng anh gọi bức thư từ người bạn quá cố đáng kính của tôi, thông báo ngày giờ vợ ông ta đến Luân Đôn, được chính tay ông ấy viết, ký tên và ghi ngày tháng, là một bằng chứng chứ? Tôi có thể giao thứ đó cho anh. Tôi cũng có thể chỉ cho anh đến gặp người thuê xe chở vị khách của tôi từ ga tàu vào ngày bà ấy đến—sổ ghi đơn hàng của ông ta có thể giúp anh tìm ra ngày tháng, ngay cả khi người đánh xe chở tôi có vô tích sự đi chăng nữa. Những điều này tôi làm được, và sẽ làm, nhưng phải theo điều kiện. Tôi xin đọc lại chúng. Điều kiện thứ nhất! Madame Fosco và tôi sẽ rời khỏi ngôi nhà này vào bất cứ lúc nào và bằng cách nào chúng tôi muốn, mà không vấp phải bất kỳ sự can thiệp nào dưới mọi hình thức từ phía anh. Điều kiện thứ hai! Anh chờ ở đây, cùng với tôi, để gặp người đại diện của tôi, kẻ sẽ đến lúc bảy giờ sáng để giải quyết công việc của tôi. Anh đưa cho người đại diện của tôi một giấy ủy quyền bằng văn bản gửi cho kẻ đang giữ bức thư niêm phong của anh, yêu cầu giao lại quyền sở hữu nó. Anh chờ ở đây cho đến khi người đại diện của tôi đặt bức thư đó nguyên vẹn vào tay tôi, và sau đó anh cho phép tôi đúng nửa tiếng đồng hồ để rời khỏi nhà—sau khi hết giờ, anh hoàn toàn khôi phục quyền tự do hành động và muốn đi đâu tùy ý. Điều kiện thứ ba! Anh phải đền bù danh dự cho một quý ông vì hành vi xâm phạm đời tư của tôi, và vì những ngôn từ mà anh đã cho phép mình sử dụng đối với tôi trong buổi gặp mặt này. Thời gian và địa điểm ở nước ngoài sẽ được ấn định trong một bức thư do chính tay tôi viết khi tôi đã đặt chân an toàn lên lục địa, và bức thư đó sẽ kèm theo một dải giấy đo chính xác chiều dài thanh kiếm của tôi. Đó là các điều kiện của tôi. Hãy cho tôi biết anh có chấp nhận chúng hay không—Có hoặc Không.

Sự pha trộn phi thường giữa sự quyết đoán chớp nhoáng, sự xảo quyệt có tầm nhìn xa và vẻ nghênh ngang của một kẻ bịp bợm trong bài diễn văn này đã làm tôi chao đảo trong giây lát—và chỉ trong giây lát mà thôi. Vấn đề duy nhất cần cân nhắc là, liệu tôi có được phép hay không khi nắm giữ phương tiện chứng minh thân phận của Laura phải đánh đổi bằng việc để cho gã khốn đã cướp mất nó thoát thân mà không hề hấn gì. Tôi thừa biết rằng động cơ bảo đảm sự công nhận đúng đắn cho vợ tôi tại nơi chốn mà từ đó nàng từng bị đuổi đi như một kẻ mạo danh, và việc công khai xóa đi lời dối trá vẫn đang bôi nhọ tấm bia mộ của mẹ nàng, trong sáng hơn rất nhiều—hoàn toàn không vướng chút vẫn đục nào của những cảm xúc tàn ác—so với động cơ trả thù đã pha tạp vào mục đích của tôi từ thuở ban đầu. Dù vậy, tôi không thể thành thật nói rằng những niềm tin đạo đức của chính tôi đủ mạnh mẽ để tự mình quyết định cuộc đấu tranh nội tâm đó. Chúng được củng cố nhờ ký ức của tôi về cái chết của Sir Percival. Ôi chao, vào những giây phút cuối cùng, sự trừng phạt đã bị giật khỏi đôi bàn tay yếu đuối của tôi một cách thật đáng sợ làm sao! Tôi là cái thá gì mà dám quyết định, trong sự dốt nát phàm trần của mình về tương lai, rằng kẻ này cũng phải thoát tội chỉ vì hắn trốn tránh được tôi? Tôi đã nghĩ đến những điều đó—có lẽ bằng sự mê tín vốn có trong bản chất tôi, có lẽ bằng một nhận thức xứng đáng hơn là sự mê tín. Thật khó khăn biết bao, khi tôi cuối cùng đã tóm chặt được hắn trong tay mà lại phải buông lơi theo ý mình—nhưng tôi tự ép bản thân phải hy sinh. Nói một cách dễ hiểu hơn, tôi quyết định để bản thân được dẫn dắt bởi một động cơ cao cả duy nhất mà tôi chắc chắn, đó là động cơ phục vụ cho chính nghĩa của Laura và chính nghĩa của Sự Thật.

– Tôi chấp thuận các điều kiện của ông – tôi nói. – Với một sự bảo lưu từ phía tôi.

– Sự bảo lưu đó là gì thế? – hắn hỏi.

– Nó đề cập đến bức thư niêm phong – tôi đáp. – Tôi yêu cầu ông phải hủy nó đi mà không được bóc ra trước mặt tôi ngay khi nó được trao vào tay ông.

Mục đích của tôi khi đưa ra điều kiện này đơn giản là để ngăn hắn mang theo bằng chứng bằng văn bản về bản chất cuộc trao đổi giữa tôi với Pesca. Sự thật về buổi trao đổi của tôi chắc chắn hắn sẽ phát hiện ra, khi tôi cung cấp địa chỉ cho đại diện của hắn vào buổi sáng. Nhưng hắn chẳng thể lợi dụng được gì từ lời khai đơn phương của mình—ngay cả khi hắn thực sự mạo hiểm thử nghiệm điều đó—điều mà có thể khiến tôi phải lo lắng mảy may vì lợi ích của Pesca.

– Tôi chấp thuận yêu cầu bảo lưu của anh – hắn đáp, sau khi suy ngẫm vấn đề một cách nghiêm túc trong vòng một hoặc hai phút. – Nó chẳng đáng để tranh chấp—bức thư sẽ bị tiêu hủy ngay khi nó lọt vào tay tôi.

Vừa nói, hắn vừa đứng dậy khỏi chiếc ghế đã ngồi đối diện với tôi từ nãy đến giờ. Chỉ với một cử động, hắn dường như trút bỏ được toàn bộ áp lực đè nặng từ cuộc trao đổi giữa hai chúng ta nãy giờ. – Ồ! – hắn kêu lên, vươn vai một cách sảng khoái – cuộc giáp lá cà vừa rồi thật gay cấn làm sao. Mời ngồi đi, anh Hartright. Từ nay về sau chúng ta gặp nhau với tư cách là kẻ thù không đội trời chung—hành xử như những trang nam nhi hào hiệp, hãy trao nhau những lời chào hỏi lịch sự trong lúc chờ đợi. Cho phép tôi được mạn phép gọi vợ mình ra nhé.

Hắn mở khóa và mở cửa ra. – Eleanor! – hắn cất tiếng gọi bằng chất giọng trầm ấm của mình. Người phụ nữ với gương mặt độc ác bước vào. – Madame Fosco—anh Hartright – bá tước vừa nói vừa giới thiệu chúng tôi với một vẻ đường hoàng thoải mái. – Thiên thần của anh ơi – hắn nói tiếp, quay sang hướng về phía vợ – liệu công việc thu dọn hành lý có cho phép em chút thời gian để pha cho anh một tách cà phê thật đậm và ngon không? Anh có công việc giấy tờ phải giải quyết với anh Hartright—và anh cần trí óc mình phải thật minh mẫn để làm cho phải đạo.

Madame Fosco cúi đầu hai lần—một lần lạnh lùng với tôi, một lần phục tùng với chồng, rồi lướt ra khỏi phòng.

Bá tước bước đến chiếc bàn viết gần cửa sổ, mở hộc tủ lấy ra vài tập giấy và một bó bút lông ngỗng. Hắn rải đống bút khắp bàn để chúng nằm sẵn sàng ở mọi hướng, tiện với tay lấy bất cứ lúc nào khi cần, rồi cắt đống giấy thành một chồng dải hẹp, đúng kiểu dáng mà các nhà văn chuyên nghiệp dùng để viết báo. – Tôi sẽ biến đây thành một tài liệu phi thường – hắn vừa nói vừa liếc nhìn tôi qua vai. – Thói quen sáng tác văn chương đã quá quen thuộc với tôi rồi. Một trong những thành tựu trí tuệ hiếm có nhất mà một người có thể sở hữu chính là năng lực vĩ đại trong việc sắp xếp các ý tưởng. Đặc ân vô biên! Tôi đang sở hữu nó đấy. Còn anh thì sao?

Hắn bước đi bước lại trong phòng cho đến khi cà phê được mang lên, vừa đi vừa lẩm bẩm ngâm nga, thỉnh thoảng lại dùng lòng bàn tay đập lên trán để đánh dấu những chỗ gặp trở ngại trong việc sắp xếp ý tưởng. Sự táo tợn tột cùng khi hắn chớp lấy tình thế mà tôi đặt vào để biến nó thành cái bệ phóng cho sự kiêu ngạo của bản thân nhằm phục vụ mục đích duy nhất là khoe mẽ, đã bóp nghẹt sự kinh ngạc của tôi bằng sức mạnh tuyệt đối. Dù tôi có căm ghét con người này đến đâu đi nữa, sức mạnh phi thường trong tính cách của hắn, ngay cả ở những khía cạnh tầm thường nhất, vẫn khiến tôi phải kính nể bất chấp ý muốn của bản thân.

Cà phê được Madame Fosco mang vào. Hắn hôn lên tay bà để bày tỏ lòng biết ơn rồi hộ送 bà ra tận cửa; sau đó quay lại, tự rót một tách cà phê cho mình và mang ra bàn viết.

– Tôi có thể mời anh chút cà phê chứ, anh Hartright? – hắn hỏi trước khi ngồi xuống.

Tôi từ chối.

– Gì chứ! Anh nghĩ là tôi sẽ bỏ độc hại anh à? – hắn hào hứng nói. – Trí tuệ Anh Quốc thì vững vàng, xét về một mức độ nào đó – hắn tiếp tục, ngồi phịch xuống ghế bên bàn – nhưng nó có một khiếm khuyết trầm trọng—đó là luôn luôn thận trọng sai chỗ.

Hắn nhúng bút vào mực, đặt tờ giấy đầu tiên trước mặt rồi đập mạnh một cú lên bàn làm việc, hắng giọng và bắt đầu. Hắn viết với tiếng động lớn và tốc độ chóng mặt, chữ viết to và đậm, khoảng cách giữa các dòng rộng đến mức hắn viết xong trang giấy chỉ trong chưa đầy hai phút tính từ lúc bắt đầu ở dòng đầu tiên. Mỗi tờ giấy khi viết xong đều được đánh số trang và hất qua vai rơi xuống sàn nhà cho khuất mắt. Khi cây bút đầu tiên mòn vát đi, nó cũng bay qua vai nốt, và hắn chộp ngay lấy cây bút thứ hai từ đống được bày biện rải rác trên bàn. Tờ giấy này nối tiếp tờ giấy khác, từng tá, từng năm mươi, từng hàng trăm tờ, bay vèo qua vai hắn ở cả hai phía cho đến khi hắn vùi lấp chính mình trong núi giấy ngập tràn xung quanh chiếc ghế ngồi. Hết giờ này qua giờ khác trôi qua—và tôi cứ ngồi đó canh chừng, còn hắn cứ ngồi đó viết lách. Hắn chẳng hề dừng lại, ngoại trừ để nhấm nháp ngụm cà phê, và khi cà phê cạn sạch, thỉnh thoảng lại đập vào trán. Một giờ sáng điểm, hai, ba, bốn—và những tờ giấy vẫn bay tung tóe xung quanh hắn; cây bút không biết mệt mỏi vẫn mi mải cạo sột soạt từ đỉnh trang xuống tận đáy, đống giấy trắng hỗn độn cứ cao dần lên quanh chiếc ghế của hắn. Lúc bốn giờ, tôi nghe thấy tiếng ngòi bút sạt mạnh một cái, báo hiệu nét hoa văn điệu nghệ khi hắn ký tên vào cuối bài. – Hoan hô! – hắn kêu lên, tung người đứng dậy với sự lanh lẹ của một thanh niên và nhìn thẳng vào mặt tôi với nụ cười chiến thắng rạng ngời.

– Xong rồi, anh Hartright! – hắn tuyên bố với một cú đấm tự phục hồi sức lực vào lồng ngực vỡ vạc của mình. – Đã xong, với sự thỏa mãn sâu sắc của chính tôi—và sự kinh ngạc tột độ của anh khi đọc những gì tôi vừa viết. Chủ đề đã cạn kiệt: nhưng con người—Fosco—thì chưa. Tôi tiến hành sắp xếp các trang giấy của mình—rồi biên tập lại các trang giấy—rồi đọc lại các trang giấy—dành riêng để rót vào đôi tai riêng tư của anh. Đồng hồ vừa điểm bốn giờ. Tốt! Sắp xếp, biên tập, đọc lại, từ bốn đến năm giờ. Chợp mắt hồi sức ngắn ngủi cho bản thân từ năm đến sáu giờ. Chuẩn bị lần cuối từ sáu đến bảy giờ. Vụ việc với người đại diện và bức thư niêm phong từ bảy đến tám giờ. Đúng tám giờ, lên đường. Kìa, chương trình là thế đấy!

Hắn ngồi bệt khoòng chân trên sàn nhà giữa đống giấy tờ của mình, xâu chuỗi chúng lại bằng một cái đục lỗ và một đoạn dây thừng—biên tập lại chúng, viết toàn bộ tước hiệu và danh dự mà hắn được vinh danh cá nhân lên đầu trang giấy đầu tiên, rồi đọc bản thảo cho tôi nghe với ngữ điệu kịch nghệ vang dội cùng những cử chỉ khoa trương phóng khoáng. Chẳng mấy chốc nữa, người đọc sẽ có cơ hội tự đưa ra nhận định của riêng mình về tài liệu đó. Chỉ cần đề cập ở đây rằng nó đã đáp ứng đúng mục đích của tôi là đủ.

Tiếp đó, hắn viết cho tôi địa chỉ của người đã cho hắn thuê chiếc xe ngựa một ngựa, rồi trao tận tay tôi bức thư của Sir Percival. Bức thư được đề ngày từ Hampshire vào ngày 25 tháng 7, và nó thông báo về chuyến hành trình của “Lady Glyde” đến Luân Đôn vào ngày 26. Như vậy, ngay vào ngày (25 tháng 7) mà giấy chứng nhận của bác sĩ tuyên bố rằng nàng đã qua đời ở St. John’s Wood, thì theo chính lời của Sir Percival, nàng vẫn còn sống ở Blackwater—và vào ngày hôm sau, nàng sẽ thực hiện một chuyến đi! Khi có được bằng chứng về chuyến đi đó từ người đánh xe, thì mọi chứng cứ sẽ hoàn toàn trọn vẹn.

– Mười lăm phút qua năm rồi – bá tước nói khi nhìn đồng hồ. – Đến giờ cho giấc ngủ chợp mắt hồi sức của tôi đây. Như anh có lẽ đã nhận ra, anh Hartright, cá nhân tôi rất giống với Napoléon Đại đế—tôi cũng giống như con người bất tử ấy ở khả năng tự bắt mình chợp mắt bất cứ lúc nào tôi muốn. Xin lỗi anh một lát nhé. Tôi sẽ gọi Madame Fosco đến để giữ cho anh khỏi thấy buồn chán.

Thừa hiểu như hắn rằng hắn đang gọi Madame Fosco đến để đảm bảo tôi sẽ không rời khỏi ngôi nhà trong lúc hắn ngủ, tôi không đáp lại lời nào, chỉ cặm cụi cột bó giấy tờ mà hắn vừa giao phó vào với nhau.

Người phụ nữ bước vào, điềm tĩnh, xanh xao và đầy nọc độc như mọi khi. – Hãy giải trí cho anh Hartright nhé, thiên thần của anh – bá tước nói. Hắn kéo ghế cho bà, hôn tay bà lần thứ hai, lui về phía chiếc ghế dài và chỉ ba phút sau, đã ngủ say sưa và hạnh phúc như bất kỳ người đạo đức nào trên đời.

Madame Fosco cầm một cuốn sách trên bàn lên, ngồi xuống và nhìn tôi với vẻ thù hằn kiên định của một người phụ nữ chẳng bao giờ quên và chẳng bao giờ tha thứ.

– Tôi đã nghe hết cuộc trò chuyện của anh với chồng tôi rồi đấy – bà ta nói. – Nếu tôi ở vị trí của ông ấy—tôi đã cho anh nằm chết ngay trên tấm thảm lò sưởi rồi.

Nói xong những lời đó, bà mở sách ra và từ khoảnh khắc ấy cho đến khi chồng tỉnh dậy, bà không hề liếc nhìn tôi hay nói với tôi nửa lời.

Hắn mở mắt và đứng dậy khỏi chiếc ghế dài, chính xác chuẩn xác từng phút tính từ thời điểm hắn chìm vào giấc ngủ.

– Tôi cảm thấy tỉnh táo hẳn người – hắn nhận xét. – Eleanor, người vợ hiền của tôi, em đã chuẩn bị xong xuôi hết trên lầu chưa? Tốt lắm. Việc thu dọn đồ đạc cỏn con của tôi ở đây có thể hoàn thành trong mười phút—trang phục du hành sẽ được mặc vào trong mười phút nữa. Còn lại gì trước khi người đại diện đến nhỉ? – Hắn nhìn quanh phòng và chú ý đến chiếc lồng nhốt lũ chuột bạch. – A! – hắn kêu lên đầy thương cảm – vẫn còn một sự dằn vặt cuối cùng đối với tâm can tôi. Những cưng yêu vô tội của tôi ơi! Những đứa con nhỏ được nâng niu của tôi ơi, tôi phải làm sao với các em đây? Hiện tại chúng ta chẳng định cư ở đâu cả; hiện tại chúng ta cứ di chuyển không ngừng—càng mang ít hành lý càng tốt cho bản thân. Con vẹt mào của tôi, những chú chim hoàng yến của tôi và những bé chuột nhỏ của tôi—ai sẽ chăm sóc chúng khi Papa tốt bụng của chúng đã đi rồi đây?

Hắn đi đi lại lại trong phòng với vẻ đăm chiêu sâu sắc. Hắn chẳng hề bận lòng chút nào về việc viết bản thú tội, thế nhưng hắn lại tỏ ra vô cùng bối rối và đau khổ trước vấn đề quan trọng hơn nhiều là giải quyết số phận của đám thú cưng. Sau một hồi suy nghĩ đắn đo lâu lắc, hắn bỗng sà xuống ngồi lại bàn viết.

– Nảy ra một ý rồi! – hắn thốt lên. – Tôi sẽ hiến tặng những chú chim hoàng yến và con vẹt mào của mình cho Đô thị vĩ đại này—người đại diện của tôi sẽ thay mặt tôi dâng chúng cho Vườn thú Luân Đôn. Tài liệu miêu tả về chúng sẽ được soạn thảo ngay tại chỗ này.

Hắn bắt đầu viết, vừa lẩm bẩm những từ ngữ tuôn trào từ ngòi bút.

– Số một. Vẹt mào với bộ lông siêu việt: bản thân nó là điểm thu hút đối với tất cả những du khách có gu thẩm mỹ. Số hai. Chim hoàng yến với sự sống động và thông minh vô song: xứng đáng với Vườn Địa Đàng, đồng thời cũng xứng đáng với khu vườn ở Công viên Regent. Kính dâng ngành Động vật học Anh Quốc. Được hiến tặng bởi Fosco.

Ngòi bút lại kêu sột soạt và nét hoa văn điệu nghệ được đính kèm vào chữ ký của hắn.

– Bá tước! Anh chưa liệt kê lũ chuột vào đấy kìa – Madame Fosco nhắc nhở.

Hắn rời bàn viết, cầm lấy tay bà và đặt lên ngực mình.

– Mọi quyết tâm của con người, Eleanor ạ – hắn nói một cách trang nghiêm – đều có giới hạn của nó. Giới hạn của anh đã được khắc họa trên tài liệu đó rồi. Anh không thể rời xa lũ chuột bạch của mình được. Hãy bao dung cho anh nhé, thiên thần của anh, và hãy đưa chúng lên chiếc lồng du hành trên lầu giúp anh.

– Sự dịu dàng thật đáng ngưỡng mộ! – Madame Fosco thốt lên, bày tỏ sự thán phục đối với chồng, kèm theo một cái liếc mắt sắc lẹm độc ác cuối cùng về phía tôi. Bà cẩn thận nhấc chiếc lồng lên và rời khỏi phòng.

Bá tước nhìn đồng hồ. Bất chấp vẻ điềm tĩnh cương quyết mà hắn cố tỏ ra, hắn đang bắt đầu cảm thấy lo lắng vì sự chậm trễ của người đại diện. Những ngọn nến đã tắt từ lâu, và ánh nắng ban mai của ngày mới đang tràn ngập căn phòng. Phải đến bảy giờ năm phút thì chuông cổng mới reo lên và người đại diện xuất hiện. Ông ta là một người ngoại quốc với bộ râu đen rậm.

– Anh Hartright—Monsieur Rubelle – bá tước giới thiệu. Hắn kéo người đại diện (một tên gián điệp ngoại quốc chính hiệu qua từng đường nét trên khuôn mặt, nếu trên đời này từng có một kẻ như thế) vào một góc phòng, thì thầm vài chỉ thị rồi để chúng tôi lại với nhau. Ngay khi chúng tôi chỉ còn lại hai người, “Monsieur Rubelle” đã hết sức lịch sự đề nghị tôi ban cho ông ta những chỉ dẫn. Tôi viết hai dòng chữ gửi cho Pesca, ủy quyền cho ông ta trao bức thư niêm phong của tôi cho “người mang thư”, ghi địa chỉ lên tấm danh thiếp rồi trao nó cho Monsieur Rubelle.

Người đại diện ở lại với tôi cho đến khi chủ nhân của ông ta quay trở lại trong bộ trang phục du hành. Bá tước kiểm tra địa chỉ trên bức thư của tôi trước khi cho người đại diện lui ra. – Ta biết ngay mà! – hắn nói, quay phắt lại nhìn tôi với ánh mắt tối sầm và sắc thái thay đổi hoàn toàn kể từ khoảnh khắc đó.

Hắn hoàn tất việc thu dọn hành lý, rồi ngồi tra cứu bản đồ du hành, ghi chép vào sổ tay và chốc chốc lại liếc nhìn đồng hồ đầy mất kiên nhẫn. Không một lời nào được thốt ra hướng về phía tôi nữa. Việc giờ khởi hành đã cận kề cùng với bằng chứng hắn tận mắt chứng kiến về mối liên lạc được thiết lập giữa Pesca và tôi đã lôi kéo toàn bộ sự chú ý của hắn quay trở lại các biện pháp cần thiết nhằm đảm bảo cho cuộc trốn chạy của mình.

Gần tám giờ, Monsieur Rubelle quay lại với bức thư nguyên vẹn niêm phong nằm trong tay. Bá tước cẩn thận nhìn lướt qua phần ngoài bì thư và con dấu, châm một ngọn nến lên và thiêu rụi bức thư thành tro. – Ta giữ đúng lời hứa đấy – hắn nói – nhưng rốt cuộc vụ này, anh Hartright ạ, sẽ không kết thúc ở đây đâu.

Người đại diện đã cho đỗ chiếc xe taxi ở ngay cửa lúc quay về. Ông ta và cô hầu gái bây giờ đang bận rộn khiêng hành lý ra xe. Madame Fosco bước xuống lầu, trùm khăn voan dày đặc, trên tay cầm chiếc lồng du hành nhốt lũ chuột bạch. Bà ta chẳng thèm nói lời nào với tôi cũng chẳng thèm liếc nhìn về phía tôi. Chồng bà hộ tống bà ra tận xe. – Hãy đi theo tôi ra đến lối đi nhé – hắn thì thầm vào tai tôi – có lẽ tôi muốn nói chuyện với anh vào phút chót đấy.

Tôi bước ra tận cửa, người đại diện đang đứng đợi phía dưới ở khu vườn trước nhà. Bá tước quay lại một mình, kéo tôi lùi vào trong lối đi vài bước.

– Hãy nhớ lấy Điều kiện thứ ba nhé! – hắn thì thầm. – Anh sẽ còn nhận được tin từ tôi, anh Hartright ạ—rất có thể tôi sẽ đòi hỏi anh đền bù danh dự của một quý mam sớm hơn anh tưởng đấy. – Hắn chộp lấy tay tôi trước khi tôi kịp đề phòng và bóp thật mạnh—rồi quay ngoắt ra cửa, khựng lại và bước ngược trở lại phía tôi.

– Thêm một lời nữa thôi – hắn nói với vẻ tâm tình. – Lần cuối tôi gặp cô Halcombe, trông cô ấy gầy gò và ốm yếu quá. Tôi rất lo lắng cho người phụ nữ tuyệt vời đó. Hãy chăm sóc cô ấy nhé, thưa ngài! Với bàn tay đặt lên trái tim mình, tôi thành kính khẩn khoản anh, hãy chăm sóc cô Halcombe giùm tôi!

Đó là những lời cuối cùng hắn thốt ra với tôi trước khi nhét thân hình to lớn của mình vào chiếc xe taxi và phóng đi mất.

Người đại diện và tôi đứng ở cửa một lát để ngóng theo chiếc xe. Trong lúc chúng tôi đang đứng cạnh nhau, một chiếc xe taxi thứ hai từ ngã rẽ cách đó một đoạn trên đường phóng tới. Nó đi theo đúng hướng mà chiếc xe của bá tước vừa rẽ, và khi chạy ngang qua ngôi nhà cùng cánh cổng vườn đang mở toang, một người ngồi bên trong đã nhìn chéo qua cửa sổ ra phía chúng tôi. Lại là kẻ lạ mặt ở nhà hát hôm trước!—gã ngoại quốc có vết sẹo bên má trái.

– Xin mời ngài ở lại đây với tôi thêm nửa tiếng nữa! – Monsieur Rubelle lên tiếng.

– Được.

Chúng tôi quay trở lại phòng khách. Tôi chẳng có tâm trạng đâu mà trò chuyện với tên đại diện hay cho phép hắn mở miệng nói lời nào với mình. Tôi lôi tập tài liệu mà bá tước vừa trao cho ra, và đọc câu chuyện kinh hoàng về âm mưu đen tối được kể lại chính bởi kẻ đã vạch kế hoạch và gây ra nó.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Wilkie Collins

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.