Cái nóng suốt cả ngày thật ngột ngạt đến phát bực, và giờ đây màn đêm buông xuống càng thêm oi ả và bức bối.
Mẹ và em gái tôi đã nói biết bao nhiêu lời dặn dò cuối cùng, và đã nài nỉ tôi ở lại thêm năm phút hết lần này đến lần khác, thế nên lúc người đầy bếp khóa chiếc cổng vườn lại sau lưng tôi thì trời đã gần nửa đêm. Tôi bước đi vài bước theo con đường ngắn nhất để trở lại London, rồi khựng lại và chần chừ.
Vầng trăng tròn và vành vạnh treo trên bầu trời xanh thẫm không một bóng sao, và khung cảnh gồ ghề của bãi hoang dưới thứ ánh sáng huyền ảo trông hoang dã đến mức có cảm giác như cách xa hàng dặm khỏi thành phố lớn đang nằm ẩn mình phía dưới. Ý định phải quay lại cái không gian ngột ngạt và tối tăm của London sớm hơn mức cần thiết khiến tôi thấy chộn rộn khó chịu. Viễn cảnh phải leo lên chiếc giường trong căn phòng không chút thoáng khí của mình, cùng viễn cảnh bị ngộp thở từ từ, dường như cũng là một, giữa lúc tâm trí và cơ thể tôi đang bứt rứt không yên thế này. Tôi quyết định sẽ đi dạo thong thả về nhà qua ngả có bầu không khí trong lành hơn, đi bằng con đường vòng vèo nhất mà tôi có thể chọn; đi theo những lối mòn trắng uốn lượn băng qua bãi hoang vắng vẻ; và tiến vào London qua khu ngoại ô thưa thớt nhất bằng cách rẽ vào đường Finchley, rồi cứ thế quay về, vào lúc trời vừa hửng mát của buổi sáng hôm sau, đi dọc theo phía tây của công viên Regent’s Park.
Tôi chậm rãi dò dẫm bước xuống bãi hoang, tận hưởng sự tĩnh mịch kỳ diệu của khung cảnh, và ngắm nhìn những mảng sáng tối đan xen dịu dàng đang nối tiếp nhau trải dài trên khu đất gồ ghề xung quanh tôi. Chừng nào tôi còn đi qua đoạn đường đầu tiên và cũng là đẹp nhất trong buổi đi dạo đêm nay, tâm trí tôi vẫn hoàn toàn cởi mở để đón nhận những ấn tượng do cảnh vật mang lại; và tôi chẳng bận tâm suy nghĩ mấy về bất kỳ chuyện gì—thả trôi theo cảm xúc của bản thân lúc đó, quả thật tôi khó mà nói rằng mình có suy nghĩ gì cơ chứ.
Nhưng khi tôi đã rời khỏi bãi hoang và rẽ vào con đường nhánh, nơi có ít cảnh để ngắm hơn, những ý nghĩ vốn dĩ sinh ra từ sự thay đổi sắp tới trong thói quen và công việc của tôi cứ thế từng bước chiếm trọn tâm trí. Đến lúc tôi đi đến cuối con đường thì tôi đã hoàn toàn chìm đắm trong những tưởng tượng của riêng mình về Limmeridge House, về ông Fairlie, và về hai người phụ nữ mà tôi sắp sửa hướng dẫn họ tập vẽ tranh màu nước.
Lúc này tôi đã đến đúng cái ngã tư trên đường đi của mình—con đường dẫn đến Hampstead mà tôi vừa đi ngược lại, con đường dẫn đến Finchley, con đường dẫn đến West End, và con đường quay trở lại London. Tôi đã vô thức rẽ về hướng cuối cùng này, và đang thong thả bước đi trên con đường lớn vắng vẻ—hình như tôi đang thẩn thơ tự hỏi trông những tiểu thư xứ Cumberland sẽ ra sao—thì chỉ trong một tích tắc, mọi giọt máu trong người tôi như ngưng chảy bởi cái chạm nhẹ nhàng và bất ngờ của một bàn tay đặt lên vai tôi từ phía sau.
Tôi quay phắt lại ngay lập tức, các ngón tay siết chặt lấy cán gậy.
Ở đó, giữa con đường lớn rộng rãi và sáng sủa—ở đó, tựa như vừa từ dưới đất chọc lên hay từ trên trời rơi xuống—là bóng dáng của một Người phụ nữ đơn độc, ăn mặc từ đầu đến chân một bộ đồ trắng, khuôn mặt cúi xuống nhìn tôi đầy vẻ dò hỏi nghiêm nghị, bàn tay cô đang chỉ về phía đám mây đen lững lờ trên bầu trời London, ngay lúc tôi đối diện với cô.
Tôi quá đỗi kinh hoàng trước sự xuất hiện đột ngột của bóng ma kỳ lạ này giữa đêm hôm khuya khoắt và ở một nơi hoang vắng như thế, nên chẳng tài nào cất lời hỏi cô ta muốn gì. Người phụ nữ lạ mặt ấy lên tiếng trước.
“Đây có phải đường đi đến London không?” cô ta nói.
Tôi chăm chú nhìn cô, khi cô đặt câu hỏi kỳ lạ đó với tôi. Lúc đó đã gần một giờ đêm. Tất cả những gì tôi có thể nhìn rõ dưới ánh trăng là một gương mặt trẻ tuổi nhợt nhạt, má và cằm gầy gò, sắc nét; đôi mắt to, vẻ mặt nghiêm nghị, mang nỗi niềm khắc khoải chăm chú; đôi môi run rẩy, không vững vàng; và mái tóc màu vàng nâu nhạt. Không có vẻ gì là hoang dại, không có điều gì là bất lịch sự trong thái độ của cô: nó điềm tĩnh và tự chủ, hơi đượm buồn và có chút hoài nghi; không hẳn là tác phong của một tiểu thư quyền quý, nhưng đồng thời cũng không phải tác phong của một người phụ nữ thuộc tầng lớp đáy của xã hội. Giọng nói của cô, dù tôi mới nghe qua được mấy chữ, lại mang một âm điệu tĩnh lặng và máy móc đến kỳ lạ, và tốc độ nói thì cực kỳ nhanh. Cô cầm một chiếc túi nhỏ trên tay; và trang phục của cô—từ mũ, khăn choàng, cho đến áo đều hoàn toàn màu trắng—theo như tôi có thể đoán, chắc chắn không phải được may bằng những chất liệu tinh tế hay đắt tiền gì cho cam. Vóc dáng cô mảnh khảnh, và cao hơn mức trung bình một chút—dáng đi và cử động hoàn toàn không có chút nào gọi là khác thường. Đó là tất cả những gì tôi có thể quan sát được về cô trong ánh sáng mập mờ và trong hoàn cảnh gặp gỡ kỳ lạ đến khó hiểu này. Cô ta là hạng người gì, và tại sao lại ra ngoài một mình trên con đường lớn vào lúc một giờ đêm, là điều tôi hoàn toàn không tài nào đoán nổi. Điều duy nhất tôi cảm thấy chắc chắn là, dù cho có là kẻ thô lỗ nhất trên đời đi nữa thì cũng không thể hiểu lầm động cơ cất lời của cô, dẫu cho đó là thời điểm nghi vấn muộn màng và ở một nơi hoang vắng đáng ngờ như thế.
“Anh có nghe tôi hỏi không?” cô nói, giọng vẫn điềm đạm và dồn dập, không hề lộ chút bực bội hay thiếu kiên nhẫn nào. “Tôi hỏi đây có phải đường đi đến London không.”
“Phải,” tôi đáp, “đây chính là đường đó: nó dẫn đến St. John’s Wood và Regent’s Park. Cô phải thứ lỗi vì tôi đã không trả lời cô lúc nãy. Tôi hơi giật mình vì sự xuất hiện bất thình lình của cô trên đường; và ngay lúc này, tôi vẫn chưa hết bàng hoàng để có thể hiểu nổi chuyện gì đang xảy ra.”
“Anh không nghi ngờ tôi làm chuyện gì xấu đấy chứ? Tôi không làm gì sai cả. Tôi gặp tai nạn—thật xui xẻo làm sao khi phải ở đây một mình muộn thế này. Sao anh lại nghi ngờ tôi làm điều xấu chứ?”
Cô nói với vẻ khẩn khoản và kích động không cần thiết, rồi lùi lại phía sau tôi mấy bước. Tôi cố gắng hết sức để trấn an cô.
“Xin cô đừng nghĩ là tôi có ý nghi ngờ gì,” tôi nói, “hay có mong muốn nào khác ngoài việc muốn giúp đỡ cô, nếu có thể. Tôi chỉ ngạc nhiên khi thấy cô xuất hiện trên đường thôi, vì có cảm giác như nơi này vừa trống không ngay trước khoảnh khắc tôi nhìn thấy cô.”
Cô quay người lại, chỉ tay về phía một khoảng trống ở hàng rào nơi giao giữa con đường đi London và đường đi Hampstead.
“Tôi nghe tiếng anh đi tới,” cô nói, “và nấp ở đó để xem anh là hạng người gì, trước khi dám mở lời. Tôi đã do dự và sợ hãi mãi cho đến khi anh đi qua; và rồi tôi buộc phải lẻn theo sau và chạm vào người anh.”
Lẻn theo tôi và chạm vào tôi? Sao không gọi tôi lại? Thật là kỳ quặc, nói theo cách nhẹ nhàng nhất.
“Tôi có thể tin tưởng anh chứ?” cô hỏi. “Anh không đánh giá thấp tôi chỉ vì tôi vừa gặp phải tai nạn đấy chứ?” Cô khựng lại vì bối rối; chuyển chiếc túi từ tay này sang tay kia; rồi thở dài thườn thượt.
Sự đơn độc và bất lực của người phụ nữ ấy đã chạm đến lòng trắc ẩn của tôi. Bản năng tự nhiên muốn giúp đỡ và che chở cho cô đã lấn át cả sự phán đoán, sự thận trọng, và kinh nghiệm xã trường mà một người đàn ông lớn tuổi hơn, khôn ngoan hơn và lạnh lùng hơn có thể đã huy động để cứu giúp anh ta trong tình huống khẩn cấp kỳ lạ này.
“Cô có thể tin tưởng tôi vào bất cứ việc gì đường hoàng,” tôi nói. “Nếu việc giải thích tình cảnh kỳ lạ của mình khiến cô phiền lòng, thì đừng nghĩ đến chuyện quay lại nhắc về nó nữa. Tôi không có quyền đòi hỏi cô phải giải thích điều gì. Hãy nói cho tôi biết tôi có thể giúp gì cho cô; và nếu có thể, tôi sẽ làm.”
“Anh thật tốt bụng, và tôi rất, rất biết ơn vì đã gặp được anh.” Chút dịu dàng nữ tính đầu tiên mà tôi nhận thấy từ cô thoảng qua trong giọng nói khi cô thốt lên những từ đó; nhưng không có giọt nước mắt nào lấp lánh trong đôi mắt to tròn, mang nỗi niềm khắc khoải chăm chú vẫn đang dán chặt vào tôi ấy. “Tôi mới chỉ đến London có một lần trước đây,” cô nói tiếp, với tốc độ ngày một dồn dập hơn, “và tôi chẳng biết gì về cái khu vực phía bên kia kìa. Tôi có thể bắt xe ngựa cho thuê, hay bất kỳ loại xe nào không? Đã quá muộn chưa? Tôi không biết nữa. Nếu anh có thể chỉ cho tôi chỗ bắt xe—và nếu anh chỉ hứa là không can thiệp vào việc của tôi, và để tôi rời đi, vào lúc nào và theo cách nào tùy ý—tôi có một người bạn ở London sẵn lòng đón tiếp tôi—tôi không cần gì hơn thế nữa—anh có hứa không?”
Cô lo âu nhìn ngược nhìn xuôi con đường; lại chuyển chiếc túi từ tay này sang tay khác; lặp lại câu nói, “Anh có hứa không?” và đăm đăm nhìn thẳng vào mặt tôi, với nỗi sợ hãi và bối rối cầu khẩn khiến tôi chạnh lòng khi chứng kiến.
Tôi biết phải làm sao đây? Trước mặt tôi là một người hoàn toàn xa lạ, đang rơi vào tình cảnh bất lực không nơi nương tựa và phó mặc hoàn toàn vào lòng thương của tôi—mà người xa lạ ấy lại là một người phụ nữ cô độc. Không có ngôi nhà nào gần đó; không có ai qua lại để tôi có thể hỏi ý kiến; và tôi chẳng có chút quyền hạn trần gian nào để có thể nắm quyền kiểm soát đối với cô ấy, ngay cả khi tôi biết cách làm điều đó đi nữa. Tôi viết lại những dòng này với sự hoài nghi chính bản thân, khi mà bóng tối của những sự kiện về sau đang phủ bóng đen lên chính trang giấy tôi đang viết; và tôi vẫn tự hỏi, mình phải làm gì đây?
Việc tôi đã làm, là cố gắng kéo dài thời gian bằng cách gặng hỏi cô. “Cô có chắc là người bạn ở London của cô sẽ tiếp đón cô vào cái giờ muộn màng thế này không?” tôi nói.
“Hoàn toàn chắc chắn. Chỉ cần anh nói là sẽ để tôi rời đi khi nào và cách nào tùy ý tôi—chỉ cần anh nói là sẽ không can thiệp vào việc của tôi. Anh có hứa không?”
Khi cô lặp lại câu nói đó lần thứ ba, cô bước sát lại gần tôi và đặt bàn tay mình lên ngực áo tôi, với một cử động nhẹ nhàng và bất ngờ đầy lén lút—một bàn tay gầy gò; một bàn tay lạnh ngắt (khi tôi gỡ nó ra bằng tay mình) ngay cả trong đêm hè oi ả ấy. Hãy nhớ rằng tôi hãy còn trẻ; hãy nhớ rằng bàn tay chạm vào tôi là tay của một người phụ nữ.
“Anh có hứa không?”
“Có.”
Chỉ một từ! Từ ngữ quen thuộc nhỏ bé nằm trên môi tất cả mọi người, vào mọi giờ trong ngày. Trời đất ơi! Và giờ đây, tôi vẫn thấy run rẩy khi viết lại điều đó.
Chúng tôi quay mặt về hướng London, và cùng nhau bước đi trong giờ đầu tiên tĩnh lặng của ngày mới—tôi, và người phụ nữ này, người mà tên tuổi, tính cách, câu chuyện đời tư, mục đích sống, và ngay cả sự hiện diện của cô ấy bên cạnh tôi lúc bấy giờ, đều là những ẩn số sâu thăm thẳm đối với tôi. Cứ như thể đang mơ vậy. Tôi có thực sự là Walter Hartright không? Đây có phải là con đường quen thuộc, bình lặng nơi những người đi nghỉ mát dạo chơi vào các ngày Chủ nhật không? Có phải tôi thực sự vừa rời khỏi bầu không khí yên ả, đứng đắn, mang đậm chất gia đình truyền thống của ngôi nhà nhỏ của mẹ tôi cách đây chưa đầy một tiếng đồng hồ không? Tôi quá bàng hoàng—lại vừa ý thức được một cảm giác mơ hồ giống như sự tự trách—đến mức chẳng thể thốt lên lời nào với người bạn đồng hành kỳ lạ của mình trong suốt mấy phút liền. Lại là giọng nói của cô phá vỡ sự im lặng giữa chúng tôi.
“Tôi muốn hỏi anh điều này,” cô đột ngột lên tiếng. “Anh có quen nhiều người ở London không?”
“Có, rất nhiều.”
“Nhiều người có tước vị và địa vị không?” Có một giọng điệu hoài nghi không thể nhầm lẫn trong câu hỏi kỳ lạ đó. Tôi chần chừ không muốn trả lời.
“Một vài người,” tôi nói sau một thoáng im lặng.
“Nhiều...”—cô dừng lại hẳn bước chân, và nhìn chằm chằm vào mặt tôi với vẻ dò xét—“nhiều người có tước vị Nam tước không?”
Quá đỗi kinh ngạc không sao đáp lời, tôi liền gặng hỏi lại cô.
“Tại sao cô lại hỏi vậy?”
“Vì tôi hy vọng, vì chính bản thân mình, rằng có một Nam tước mà anh không quen biết.”
“Cô có thể nói cho tôi tên ông ta không?”
“Tôi không thể—tôi không dám—tôi không kiềm chế được bản thân khi nhắc đến tên hắn.” Cô nói lớn tiếng và gần như hung hăng, giơ nắm đấm lên không trung và lắc mạnh đầy phẫn nộ; rồi đột ngột lấy lại bình tĩnh, và nói thêm với giọng hạ thấp xuống thành tiếng thì thầm: “Hãy nói cho tôi biết trong số đó anh quen ai.”
Tôi khó lòng mà từ chối chiều theo một chuyện vặt vãnh như thế, và tôi đã kể tên ba người. Hai người là tên của những người cha trong các gia đình có con gái theo học tôi; một người là tên của một chàng trai độc thân từng mời tôi đi du ngoạn trên du thuyền của anh ta để tôi vẽ tranh phong cảnh hộ.
“À! Anh không quen hắn,” cô nói, thở phào nhẹ nhõm. “Bản thân anh có phải là người có tước vị và địa vị không?”
“Còn lâu mới được như vậy. Tôi chỉ là một giáo viên dạy vẽ.”
Khi câu trả lời vừa thốt ra khỏi miệng tôi—có lẽ hơi mang một chút cay đắng—cô liền bấu chặt lấy tay áo tôi với sự đường đột vốn là đặc trưng trong mọi cử động của cô.
“Không phải người có tước vị hay địa vị,” cô lặp lại với chính mình. “Tạ ơn Chúa! Mình có thể tin tưởng anh ấy.”
Từ nãy đến giờ tôi vẫn cố kìm nén sự tò mò để giữ phép lịch sự với người bạn đồng hành; nhưng giờ thì nó đã vượt qua sức chịu đựng của tôi.
“Tôi e rằng cô có lý do nghiêm trọng để oán trách một người có tước vị hay địa vị nào đó thì phải?” tôi nói. “Tôi e rằng vị nam tước mà cô không muốn nhắc tên với tôi đã gây ra cho cô một điều tồi tệ nào đó? Phải chăng ông ta là nguyên nhân khiến cô phải ra ngoài này vào giờ giấc kỳ lạ nửa đêm thế này?”
“Đừng hỏi tôi: đừng bắt tôi phải nói về chuyện đó,” cô đáp. “Bây giờ tôi không đủ sức. Tôi đã bị đối xử tàn nhẫn và bị hãm hại tàn nhẫn. Anh sẽ còn tốt bụng hơn nữa nếu bước đi thật nhanh và không nói chuyện với tôi nữa. Tôi đang rất cần được tĩnh tâm lại, nếu có thể.”
Chúng tôi lại rảo bước tiến về phía trước với nhịp độ nhanh; và trong suốt ít nhất nửa tiếng đồng hồ, không một lời nào được thốt lên từ cả hai phía. Thỉnh thoảng, vì không được phép gặng hỏi thêm nữa, tôi lại liếc nhìn khuôn mặt cô. Vẫn là vẻ mặt ấy; đôi môi mím chặt, hàng mày cau lại, đôi mắt nhìn thẳng về phía trước, vừa háo hức lại vừa thẫn thờ. Chúng tôi đã đi đến những ngôi nhà đầu tiên, và ở sát cạnh tòa cao đẳng Wesleyan mới xây, thì những nét mặt cứng đờ của cô mới giãn ra và cô lại cất lời lần nữa.
“Anh sống ở London à?” cô nói.
“Đúng vậy.” Khi tôi đáp lời, tôi chợt nghĩ rằng có thể cô đã nảy sinh ý định cầu cứu sự giúp đỡ hoặc lời khuyên từ tôi, và rằng tôi nên báo trước để cô khỏi phải hụt hẫng bằng cách thông báo về việc mình sắp vắng nhà. Thế nên tôi nói thêm: “Nhưng ngày mai tôi sẽ rời London trong một thời gian. Tôi sắp về vùng quê.”
“Ở đâu?” cô hỏi. “Miền bắc hay miền nam?”
“Miền bắc—đến Cumberland.”
“Cumberland!” cô lặp lại từ đó với vẻ trìu mến. “À! Ước gì tôi cũng được đến đó. Tôi từng có những khoảng thời gian hạnh phúc ở Cumberland.”
Tôi lại cố vén bức màn che khuất giữa người phụ nữ này và tôi.
“Có lẽ cô sinh ra,” tôi nói, “ở vùng Hồ nước xinh đẹp ấy chăng.”
“Không,” cô đáp. “Tôi sinh ra ở Hampshire; nhưng tôi từng đến trường học ở Cumberland một thời gian ngắn. Hồ ư? Tôi chẳng nhớ có cái hồ nào cả. Làng Limmeridge và Limmeridge House mới là nơi tôi muốn được nhìn thấy lại.”
Đến lượt tôi khựng lại bất ngờ. Giữa lúc sự tò mò đang dâng cao trào vào khoảnh khắc đó, việc người bạn đồng hành của tôi bất chợt nhắc đến nơi ở của ông Fairlie đã khiến tôi sững sờ kinh ngạc.
“Anh có nghe thấy ai gọi theo chúng ta không?” cô hỏi, lo lắng nhìn ngược nhìn xuôi con đường ngay khi tôi dừng bước.
“Không, không. Tôi chỉ bị bất ngờ bởi cái tên Limmeridge House thôi. Tôi vừa nghe vài người xứ Cumberland nhắc đến nó cách đây vài ngày.”
“À! Không phải những người quen của tôi. Bà Fairlie đã mất; và chồng bà ấy cũng đã mất; và cô con gái nhỏ của họ có lẽ đã kết hôn và đi nơi khác từ lâu rồi. Tôi không thể nói ai đang sống ở Limmeridge lúc này. Nếu vẫn còn ai ở đó mang họ đó, thì tôi chỉ biết rằng mình yêu mến họ vì ơn nghĩa của bà Fairlie.”
Cô có vẻ định nói thêm điều gì nữa; nhưng trong lúc cô đang nói, chúng tôi đã đi đến tầm nhìn thấy trạm thu phí ở đầu đường Avenue Road. Tay cô siết chặt lấy tay áo tôi, và cô lo lắng nhìn cánh cổng trước mặt.
“Người gác cổng có đang nhìn ra không?” cô hỏi.
Ông ta không nhìn ra ngoài; chẳng có ai khác ở gần khu vực đó khi chúng tôi đi qua cổng. Cảnh những ngọn đèn đường và những ngôi nhà dường như làm cô xao xuyến và trở nên nôn nóng.
“Đây là London rồi,” cô nói. “Anh có thấy chiếc xe ngựa nào tôi có thể đi được không? Tôi mệt và sợ lắm rồi. Tôi muốn được đóng cửa xe lại và được chở đi nơi khác.”
Tôi giải thích với cô rằng chúng tôi phải đi bộ thêm một đoạn nữa mới tới bãi đậu xe ngựa, trừ khi chúng tôi may mắn gặp được một chiếc xe trống nào đó; rồi lại cố gắng lái câu chuyện quay về chủ đề Cumberland. Thật vô ích. Ý nghĩ được cuộn mình trong xe và trốn chạy khỏi nơi này giờ đã chiếm trọn tâm trí cô. Cô chẳng thể nghĩ hay nói được về điều gì khác nữa.
Chúng tôi vừa đi được khoảng một phần ba quãng đường trên đường Avenue Road thì tôi thấy một chiếc xe ngựa tấp vào một ngôi nhà cách chỗ chúng tôi vài căn về phía bên kia đường. Một người đàn ông bước xuống và tự mở cửa vườn đi vào. Tôi liền gọi chiếc xe đó, khi người đánh xe vừa leo trở lại lên thùng xe. Khi chúng tôi băng qua đường, sự sốt ruột của người đi cùng tăng lên đến mức cô gần như ép tôi phải chạy.
“Trễ lắm rồi,” cô nói. “Tôi vội chỉ vì trời trễ lắm rồi thôi.”
“Tôi không chở ông được đâu, nếu ông không đi về hướng Tottenham Court Road,” người đánh xe nhã nhặn nói, khi tôi mở cửa xe ngựa. “Con ngựa của tôi kiệt sức mất rồi, và tôi không thể bắt nó đi xa hơn chuồng ngựa được nữa.”
“Được, được. Thế là đủ với tôi rồi. Tôi đi hướng đó mà—tôi đi hướng đó.” Cô nói với vẻ háo hức đến đứt hơi, rồi len qua người tôi chui tọt vào trong xe.
Tôi đã chắc chắn rằng người đánh xe vừa tỉnh táo vừa lịch sự trước khi để cô bước lên xe. Và bây giờ, khi cô đã ngồi vào bên trong, tôi nài nỉ cô để tôi đi cùng để đảm bảo cô đến nơi an toàn.
“Không, không, không,” cô quả quyết từ chối. “Tôi hoàn toàn an toàn và rất hạnh phúc rồi đây. Nếu anh là một quý ôиg, hãy nhớ lấy lời hứa của mình. Cứ bảo anh ta lái đi cho đến khi nào tôi bảo dừng lại. Cảm ơn anh—ồ! Cảm ơn anh, cảm ơn anh nhiều lắm!”
Tay tôi đang đặt trên cửa xe. Cô chộp lấy tay tôi, hôn lên đó, rồi đẩy ra. Chiếc xe ngựa lao đi ngay lúc đó—tôі bật ra giữa lòng đường, với một ý định mơ hồ muốn chặn nó lại, chẳng biết để làm gì—rồi chần chừ vì sợ làm cô hoảng sợ và phiền lòng—cuối cùng cất tiếng gọi, nhưng lại không đủ lớn để thu hút sự chú ý của người đánh xe. Tiếng bánh xe nhỏ dần đi trong khoảng không xa xăm—chiếc xe ngựa hòa vào màn bóng tối đen kịt trên đường—người phụ nữ mặc áo trắng đã biến mất.
Mười phút hoặc hơn thế đã trôi qua. Tôi vẫn đứng nguyên ở phía bên đó của con đường; lúc thì vô thức bước đi vài bước; lúc lại thẫn thờ dừng lại. Có lúc tôi thấy mình hoài nghi về tính có thật của cuộc phiêu lưu vừa qua; có lúc tôi lại bối rối và dằn vặt bởi một cảm giác bất an vì đã làm sai điều gì đó, mà lại chẳng tài nào biết rõ mình phải làm sao mới là đúng. Tôi hầu như chẳng biết mình đang đi đâu, hay sắp định làm gì tiếp theo; tâm trí tôi chẳng ý thức được điều gì ngoài sự hỗn độn trong những suy nghĩ của chính mình, cho đến khi tôi bất chợt bừng tỉnh—gần như bị đánh thức ấy chứ—bởi tiếng bánh xe đang lăn tới tấp sát ngay sau lưng mình.
Tôi đang đứng ở phía tối của con đường, ẩn khuất dưới bóng râm dày đặc của mấy tán cây trong vườn khi tôi khựng lại ngoái nhìn sang. Ở phía bên kia đường sáng sủa hơn, cách chỗ tôi không xa, một viên cảnh sát đang thong thả đi dạo về hướng Regent’s Park.
Chiếc xe chạy ngang qua tôi—một cỗ xe mui trần do hai người đàn ông điều khiển.
“Dừng lại!” một người kêu lên. “Kia có một tên cảnh sát kìa. Chúng ta hỏi hắn xem.”
Con ngựa lập tức được kéo dừng lại, cách chỗ tối tăm tôi đang đứng chỉ vài thước.
“Cảnh sát!” người đàn ông lên tiếng trước gọi lớn. “Anh có thấy người phụ nữ nào đi ngang qua đường này không?”
“Người phụ nữ thế nào thưa ông?”
“Một người phụ nữ mặc chiếc áo dài màu hoa oải hương——”
“Không, không,” người đàn ông thứ hai xen vào. “Bộ đồ chúng ta đưa cho cô ta đã được tìm thấy trên giường rồi. Cô ta chắc chắn đã bỏ trốn trong bộ quần áo mặc lúc đến chỗ chúng ta. Mặc đồ trắng, cảnh sát ạ. Một người phụ nữ mặc đồ trắng.”
“Tôi không thấy ai cả, thưa ông.”
“Nếu anh hoặc bất kỳ thuộc hạ nào của anh gặp người phụ nữ đó, hãy giữ cô ta lại, và giao phó thật cẩn thận về địa chỉ này. Tôi sẽ trả mọi chi phí, kèm theo một khoản hậu hạ xứng đáng.”
Viên cảnh sát nhìn tấm danh thiếp được đưa xuống cho anh ta.
“Tại sao chúng tôi phải giữ cô ta lại thưa ông? Cô ta đã phạm tội gì chứ?”
“Phạm tội ư! Cô ta trốn khỏi Trại tâm thần của tôi rồi. Đừng quên nhé; một người phụ nữ mặc đồ trắng. Lái xe đi tiếp đi.”