Hiện nay, thế hệ chiến hạm mới của Hải quân Đại Đường đã được trang bị toàn diện pháo nạp hậu rãnh xoắn.
So với pháo nòng trơn hoặc pháo nạp tiền rãnh xoắn trước đây, pháo nạp hậu rãnh xoắn sở hữu những đặc tính vượt trội như tốc độ bắn cao, tầm bắn xa và độ chính xác lớn.
Đồng thời, vì nòng pháo dài hơn, không gian trên boong cần thiết cũng lớn hơn, cộng thêm tốc độ bắn nhanh nên cũng cần không gian nạp đạn và tiếp đạn rộng rãi hơn.
Hệ quả là pháo nạp hậu rãnh xoắn trang bị trên hạm có trọng lượng rất lớn, chẳng những chiếm không gian khổng lồ mà chi phí chế tạo còn cực kỳ đắt đỏ.
Tất cả những điều này khiến số lượng pháo nạp hậu rãnh xoắn, đặc biệt là loại cỡ nòng trung bình và lớn, trở nên khá ít ỏi.
Khi số lượng hỏa pháo ít đi, lại phải bao quát mọi hướng, yêu cầu về trường bắn trở nên cực kỳ khắt khe, không cho phép trên boong tồn tại cột buồm, dây thừng hay những vật dụng linh tinh khác.
Vì thế, cánh buồm không thể tránh khỏi việc bị loại bỏ.
Vai trò của cánh buồm vốn đã ngày càng nhỏ bé, hơn nữa khi chiến hạm chạy tốc độ cao, nó thường xuyên bị ảnh hưởng bởi luồng khí nóng tỏa ra từ ống khói.
Quan trọng hơn, vận hành cánh buồm cần một lượng lớn thủy thủ, mà mỗi thủy thủ trên chiến hạm đều vô cùng quý giá.
Dù hệ thống buồm trên tuần dương hạm lớp Tây Ấn đã được thiết kế cải tiến chuyên biệt, cắt giảm lượng lớn dây nhợ, cột buồm cũng đã được thay đổi, nhưng dù vậy, động lực mà cánh buồm cung cấp vẫn vô cùng hạn chế.
Khi chỉ dựa vào sức gió, động lực rất có hạn, đồng thời ống khói và cánh buồm cũng có sự xung đột nhất định.
Cho nên, ngay cả khi tuần tra hàng ngày, tuần dương hạm lớp Tây Ấn cũng sử dụng máy hơi nước vận hành ở tốc độ thấp để di chuyển chứ không phải dùng cánh buồm.
Khi cánh buồm gần như chỉ còn là vật trang trí hoặc phương tiện dự phòng, Hải quân Đại Đường liền nảy sinh ý định loại bỏ cánh buồm trên các chiến hạm chủ lực.
Ban đầu là chiến hạm, sau đó là tuần dương hạm bọc thép, đến tận bây giờ, ngay cả tuần dương hạm cũng phải loại bỏ cánh buồm.
Loại bỏ cánh buồm là một xu thế lớn, điểm này thể hiện rất rõ trên phiên bản cải tiến của tuần dương hạm lớp Tây Ấn.
Sau khi cắt giảm hỏa lực, bọc thép và loại bỏ cả cánh buồm, trọng tải của tuần dương hạm lớp Tây Ấn phiên bản cải tiến không thay đổi, nhưng chi phí chế tạo lại thấp hơn đáng kể, và quan trọng nhất là chi phí sử dụng sau này càng rẻ hơn.
Nếu không, Hải quân cũng chẳng hơi đâu mà bỏ công sức lớn để tạo ra cái thứ lưng chừng này.
Tuần dương hạm đã hướng tới việc chú trọng số lượng, khả năng đi biển và không gian sinh hoạt của tướng sĩ, thì hộ vệ hạm lại càng không cần phải nói.
Sau khi Hải quân Đại Đường trang bị và đưa vào sử dụng hộ vệ hạm lớp Tân Nam Cực, họ cũng tiến hành thiết kế cải tiến cho tàu này, giảm bớt hỏa lực và phòng hộ, loại bỏ cánh buồm nhằm giảm chi phí sử dụng và giá thành.
Cả hai mẫu chiến hạm cải tiến này đều hội tụ các yếu tố như giá thành thấp, chi phí sử dụng thấp, chi phí bảo dưỡng thấp.
Và chính những đặc điểm này là nhân tố chính khiến Hải quân Đại Đường chế tạo hàng loạt hai mẫu chiến hạm này.
Đồng thời, trong mười năm tới hoặc lâu hơn nữa, hai mẫu chiến hạm này sẽ trở thành những chiến hạm chủ chốt để Hải quân Đại Đường nắm giữ quyền kiểm soát trên biển.
Còn về những chiến hạm và tuần dương hạm bọc thép vẫn thường được mọi người nhắc đến, thì cũng chỉ có vài chiếc như vậy, cứ ở lại vùng biển ven bờ nội địa làm linh vật là được rồi.
Thực ra, dù hai loại chiến hạm là tuần dương hạm và hộ vệ hạm có thể giúp Hải quân Đại Đường nắm giữ quyền kiểm soát trên biển, nhưng vẫn không thể hoàn toàn kiểm soát các vùng biển toàn cầu.
Trong kế hoạch của Hải quân Đại Đường, sẽ duy trì khoảng ba mươi chiếc tuần dương hạm, khoảng bảy mươi chiếc hộ vệ hạm, tổng cộng là hạm đội tuần tra hộ vệ gồm một trăm chiếc.
Cộng thêm hạm đội chủ lực gồm khoảng hai mươi chiếc chiến hạm và tuần dương hạm bọc thép.
Những chiến hạm chủ lực cùng hạm đội tuần tra hộ vệ này sẽ trở thành lực lượng nòng cốt để Đế quốc kiểm soát quyền làm chủ trên biển toàn cầu.
Nhưng những chiến hạm này vẫn chưa đủ để Hải quân Đế quốc kiểm soát hoàn toàn vùng biển, các con sông và hồ nước chính trên toàn cầu.
Điều này không liên quan đến sức chiến đấu của chiến hạm mà liên quan đến số lượng.
Sức chiến đấu của hạm đội chủ lực dù mạnh đến đâu, số lượng cũng có hạn. Trong hơn một trăm chiến hạm, thực tế chỉ có khoảng hai phần ba là duy trì được trạng thái trực chiến, một phần ba còn lại hoặc đang bảo dưỡng, hoặc đang tiếp tế.
Mà trong số những chiến hạm duy trì trạng thái trực chiến, thực ra có khá nhiều đang trên đường đến vùng biển trực chiến, hoặc đang ở trong cảng.
Vì thế, chiến hạm viễn dương chủ lực dù đã có hơn một trăm chiếc, thực tế vẫn không đủ dùng.
Vì vậy, chiến lược của Hải quân Đại Đường là chế tạo số lượng rất lớn tuần tra hạm ven biển và pháo hạm nước nông.
Số lượng của những tuần tra hạm ven biển và pháo hạm nước nông này cực kỳ lớn!
Nói thế nào nhỉ, chỉ tính riêng loại tuần tra hạm lớp Quảng Giang 350 tấn, vài năm gần đây Hải quân Đế quốc đã lần lượt đưa vào sử dụng hơn bốn mươi chiếc, hơn nữa còn có đơn đặt hàng hơn một trăm chiếc nữa!
Hải quân dự định chế tạo một mạch hai trăm chiếc, sau đó phái đến các vùng biển toàn cầu để thực hiện nhiệm vụ.
Phân hạm đội thứ 76, tức là hạm đội châu Âu, đã sở hữu hơn mười chiếc tuần tra hạm ven biển lớp Quảng Giang rồi.
Ngoài ra còn có tuần tra hạm lớp Quảng Hải 550 tấn có trọng tải lớn hơn một chút, loại này to hơn nên số lượng không nhiều bằng, nhưng cũng đã đưa vào sử dụng hơn mười chiếc, dự kiến sau này còn có thêm hàng chục chiếc đơn đặt hàng nữa.
Chỉ riêng hai loại tuần tra hạm ven biển này hiện tại tổng số đã đạt hơn sáu mươi chiếc, cộng thêm vô số mẫu tuần tra hạm ven biển, pháo hạm nước nông... trước đó, đã cấu thành nên hạm đội ven biển và nội địa vô cùng hùng hậu trong Hải quân Đại Đường.
Tổng số lên đến hơn ba trăm chiếc!
Dấu chân trải khắp mọi ngóc ngách trên toàn cầu, dù là các đảo ở Nam Dương, lưu vực sông Hằng trên lục địa Ấn Độ, hay Địa Trung Hải, Biển Đen, thậm chí là lưu vực sông Đông, sông Danube.
Hay là Bắc Hải, biển Baltic cho đến tận ngoài thành London!
Đều có sự hiện diện của chiến hạm ven biển và nội địa Đại Đường.
Những chiến hạm nhỏ này cũng luôn là lực lượng hỗ trợ chiến lược cho các hành động ngoại giao và quân sự của Đại Đường.
Ví dụ, khi các nhà ngoại giao của Đế quốc gây chuyện ở London và cần chi viện, nếu đợi hạm đội chủ lực đến thì không biết chờ đến bao giờ. Lúc này, nếu có một chiếc chiến hạm nhỏ thường trú tại London thì lại khác, đằng nào cũng có thể trực tiếp pháo kích thành London.
Đây cũng chính là lý do vì sao Đế quốc Đại Đường lại xuất hiện thuật ngữ "ngoại giao pháo hạm" chứ không phải là "ngoại giao chiến hạm".
Bởi vì những đối tượng thực thi nhiệm vụ ngoại giao, thực chất phần lớn đều là các tuần tra hạm ven biển, pháo hạm nội địa không mấy nổi bật.
Ở một số khu vực, sức răn đe của một chiếc pháo hạm nước nông còn vượt xa một chiếc chiến hạm.
Bởi vì cái thứ chiến hạm kia nằm ở chính quốc, không mất một năm rưỡi thì không qua nổi, mà có qua được cũng không thể đi vào vô số con sông để tiến sâu vào nội địa.
Muôn vàn lý do đã dẫn đến chiến lược phát triển Hải quân Đại Đường khá đặc thù hiện nay, chiến lược này cũng khiến Hải quân Đại Đường không quá nhạy cảm với việc cắt giảm ngân sách quân sự.
Dù sao bản thân họ cũng đang có ý định giảm bớt các chiến hạm trọng tải lớn để chuyển sang chế tạo số lượng lớn chiến hạm trọng tải nhỏ.
Sự khác biệt giữa Lục quân và Hải quân cũng dẫn đến thái độ khác nhau của họ đối với việc cắt giảm ngân sách quân sự vào năm Tuyên Bình thứ 37.
Tuy nhiên, dù có thái độ khác nhau, bất kể là bất mãn hay hài lòng, đều đã không thể thay đổi thực tế phân bổ ngân sách.
Vì vậy, trong nội bộ Lục quân lại dấy lên một phong trào gian khổ phấn đấu, tự lực cánh sinh, lấy tiết kiệm làm trọng.
Còn về phía Hải quân, họ nhân cơ hội đó hoãn kế hoạch chế tạo chiến hạm hai vạn tấn kiểu mới, dùng kinh phí để chế tạo thêm nhiều tuần dương hạm, hộ vệ hạm và các loại hạm tàu phụ trợ như tuần tra hạm ven biển.
Mà điều thú vị là, khi quân đội tạm dừng kế hoạch chế tạo chiến hạm hai vạn tấn, các công ty vận tải biển dân sự lại đầy tham vọng đề xuất kế hoạch về du thuyền sang trọng siêu trọng tải!