Đêm đó, tôi đến phòng hội nghị chính cùng những người khác nghe về bước tiếp theo của nhiệm vụ. Razor quay lại. Bốn lính Ái Quốc tụ thành nhóm nhỏ tiếp tục công việc ở một góc phòng, như tôi thấy chủ yếu là các Tin Tặc, đang phân tích hệ thống loa treo trên các tòa nhà. Tôi bắt đầu nhận ra được vài người trong số họ - một Tin Tặc đầu trọc và nếu lùn hơn tí nữa thì thân hình chẳng khác gì chiếc xe tăng; một người khác có cái mũi khổng lồ đặt giữa hai con mắt hình bán nguyệt trên khuôn mặt mỏng dính; người thứ ba là một cô gái bị chột một mắt. Hầu như ai cũng đều có một vết sẹo kiểu gì đó. Sự chú ý của tôi chuyển dần về Razor, đang phát biểu với đám đông phía trước căn phòng, bóng ông ta được đèn rọi lên tất cả các màn hình bản đồ thế giới ở phía sau. Tôi nghển cổ lên để xem liệu có thấy Tess đang tha thẩn với những người khác không, để kéo em ra một chỗ cố gắng xin lỗi. Cuối cùng, tôi thấy em đang đứng với mấy Y sĩ thực tập, chìa lòng bàn tay đang cầm một loại thảo dược nào đó và kiên nhẫn giải thích cách sử dụng. Hoặc đó là tôi nghĩ thế. Tôi quyết định để dành lời xin lỗi lại nói sau. Có vẻ lúc này em không cần tôi. Suy nghĩ đó khiến tôi buồn bã và khó chịu đến lạ.
“Day!” Tess cuối cùng cũng thấy tôi. Tôi vẫy tay đáp lại em.
Em lách đến chỗ tôi, rồi lôi từ túi ra hai viên thuốc và một cuộn nhỏ băng gạc sạch. Em ấn chúng vào tay tôi. “Tối nay nhớ giữ mình nhé, được không?” em hổn hển nói, nhìn tôi kiên định. Chẳng có dấu hiệu nào về xung đột vừa rồi giữa chúng tôi. “Em biết anh sẽ thế nào khi adrenaline của anh tăng lên. Đừng làm gì điên rồ quá nhé.” Tess hất đầu về phía những viên thuốc xanh trong tay tôi. “Chúng sẽ giữ ấm cho anh nếu ngoài kia quá lạnh.”
Tôi dám thề là em cư xử già dặn cứ như em là quản gia của tôi vậy. Sự quan tâm của Tess khiến lòng tôi ấm áp. “Cảm ơn, em gái,” tôi trả lời, nhét món quà của em vào túi. “Này, anh…” Cô bé đặt tay lên cánh tay tôi, ngăn lời xin lỗi của tôi. Đôi mắt em mở to hơn bao giờ hết, trấn an đến mức tôi nhận ra mình đang ước gì em có thể đi cùng. “Sao cũng được. Chỉ là… hứa với em anh sẽ cẩn thận nhé.”
Dù gì đi nữa, sự tha thứ đến quá nhanh. Có phải em chỉ bột phát nói với tôi những điều đó? Có phải em vẫn giận? Tôi cúi người ôm em chớp nhoáng. “Anh hứa. Và em cũng giữ mình nhé.” Cô bé siết chặt eo tôi đáp lại, rồi quay về nhập hội với những Y sĩ trẻ khác trước khi tôi kịp xin lỗi lần nữa.
Sau khi cô bé đi khỏi, tôi lại hướng sự chú ý vào Razor. Ông ta chỉ vào một đoạn video nhiễu chiếu một con phố nào đó gần những đường xe lửa ở Lamar mà Kaede và tôi từng đi qua. Hai người lính vội vã đi từ đầu này đến đầu kia màn hình, cổ áo dựng ngược chống màn tuyết đang rơi, cả hai đều nhai tóp tép món bánh gối nóng hổi. Miệng tôi tứa nước miếng trước cảnh đó. Đồ ăn đóng hộp của quân Ái Quốc thuộc hàng xa xỉ, nhưng trời ạ, tôi sẵn lòng đem đổi bất kỳ thứ gì lấy một bữa bánh nướng thịt nóng hổi. “Trước hết, tôi muốn khẳng định một lần nữa với mọi người rằng kế hoạch của chúng ta vẫn đang xuôi chèo mát mái,” ông ta nói. “Điệp viên của chúng ta đã thành công trong việc gặp gỡ Cử tri và cho hắn biết về kế hoạch ám sát giả của chúng ta.” Ông ta dùng ngón tay khoanh tròn một khu vực trên màn hình. “Ban đầu Cử tri định đến thăm San Angelo trong chuyến đi động viên quân sĩ, rồi sẽ đến Lamar đây. Bây giờ tin tức thu được cho thấy thay vào đó hắn sẽ đến Pierra. Một vài lính của ta sẽ hộ tống Cử tri thay cho nhóm lính ban đầu của hắn.” Mắt Razor lướt qua tôi, rồi ông ta ra hiệu về phía màn hình và im lặng.
Một đoạn video thay thế hình ảnh nhiễu sóng đường xe lửa ở Lamar; chúng tôi đang xem cảnh quay một phòng ngủ. Điều đầu tiên khiến tôi chú ý là một thân hình mảnh khảnh ngồi ở mép giường, đầu gối co lên tận cằm. June? Nhưng căn phòng khá đẹp - với tôi, chắc chắn nó không giống phòng giam - còn chiếc giường trông mềm mại và được trải tận mấy lớp ga đủ khiến tôi sẵn sàng giết người để chiếm lấy hồi ở Lake.
Ai đó tóm lấy tay tôi. “Này. Cậu đây rồi, thiên tài.” Pascao đang đứng cạnh tôi, nụ cười vui vẻ thường trực tỏa rạng khắp khuôn mặt và đôi mắt xám nhạt rộn ràng phấn khích.
“Này,” tôi đáp, gật đầu chớp nhoáng chào anh rồi lại tập trung vào màn hình. Razor đã bắt đầu miêu tả khái quát với cả nhóm về giai đoạn tiếp theo của kế hoạch, nhưng Pascao lại kéo tay áo tôi.
“Vài giờ nữa cậu, tôi và mấy Người Đưa Tin nữa sẽ lên đường.” Anh liếc mắt về phía video rồi lại quay nhìn tôi. “Nghe này. Razor muốn tôi phổ biến cho đội của mình bản tóm tắt chi tiết hơn bản ông ta đang truyền đạt cho cả nhóm. Tôi vừa trao đổi với Baxter và Jordan.”
Tôi hầu như không chú ý đến Pascao nữa vì bây giờ tôi có thể khẳng định thân hình bé nhỏ trên giường chính là June. Chắc chắn là cô, với cái cách gạt tóc ra sau vai và quét ánh mắt chăm chú phân tích căn phòng. Cô mặc một bộ đồ ngủ đẹp và có vẻ thoải mái, nhưng cô run lên như thể phòng đang lạnh. Có phải phòng ngủ tao nhã đó thực sự là phòng giam của cô ấy không? Lời Tess chợt vang lên trong tôi. Day, anh quên rồi sao? June đã giết mẹ anh đấy.
Pascao lại kéo tay tôi, buộc tôi đối mặt với anh, rồi dẫn tôi tới phía cuối nhóm người. “Nghe này, Day,” anh lại thì thầm. “Đêm nay có một chuyến hàng đến Lamar, bằng tàu hỏa. Sẽ có những toa tàu chở súng ống, đồ đạc, thực phẩm và đủ thứ cho lính mặt trận, cùng với toàn bộ thiết bị phòng thí nghiệm. Chúng ta sẽ cướp một ít hàng tiếp viện và phá hủy toàn bộ lượng lựu đạn vận chuyển trên tàu. Đó là nhiệm vụ của chúng ta đêm nay.”
Bây giờ June đang nói chuyện với tên lính gác đứng gần cửa, nhưng tôi hầu như chẳng nghe được cô nói gì. Razor đã diễn thuyết xong với mọi người trong phòng và đang say sưa nói chuyện với hai lính Ái Quốc khác, cả hai thỉnh thoảng lại ra hiệu lên phía màn hình rồi vẽ gì đó lên lòng bàn tay. “Làm nổ tung toa tàu chứa lựu đạn để làm gì?” tôi hỏi.
“Nhiệm vụ này là vụ ám sát giả. Cử tri ban đầu đã lên lịch đến Lamar, ít nhất là trước khi June nói chuyện với hắn. Nếu lúc này Cử tri vẫn chưa tin thì nhiệm vụ của chúng ta đêm nay hẳn sẽ thuyết phục được hắn rằng June đang nói thật. Thêm nữa, đó là cơ hội tốt để lấy cắp vài quả lựu đạn.” Pascao xoa tay với niềm hân hoan có phần điên cuồng, “Ừm. Nitroglycerin.” Tôi nhướng một bên mày. “Tôi và ba Người Đưa Tin khác sẽ xử lý đoàn tàu, nhưng chúng tôi sẽ cần một Người Đưa Tin đặc biệt đánh lạc hướng quân lính và lính gác.”
“Anh nói đặc biệt nghĩa là sao?”
“Nghĩa là,” Pascao nhấn mạnh, “đấy chính là lý do Razor quyết định thu nạp cậu, Day ạ. Đây là cơ hội đầu tiên của chúng ta để cho quân Cộng hòa biết rằng cậu còn sống. Bởi vậy Kaede mới tẩy màu tóc nhuộm của cậu. Khi tin đồn lan truyền đã có người nhìn thấy cậu ở Lamar, cướp một con tàu của quân Cộng hòa, dân chúng sẽ phát điên mất. Kẻ tội phạm bé nhỏ khét tiếng của chính quyền Cộng hòa vẫn mạnh khỏe thậm chí ngay cả khi chính quyền đã cố gắng xử tử cậu ta? Nếu điều đó không khuấy động ý thức phản loạn của dân chúng thì chắc chẳng có gì làm được đâu. Đó là điều chúng ta đang hướng đến - sự hỗn loạn. Đến lúc chúng ta xong xuôi, dân chúng sẽ sôi sục vì cậu đến nỗi khao khát một cuộc cách mạng. Đó sẽ là bầu không khí hoàn hảo cho vụ ám sát Cử tri.”
Sự phấn khích của Pascao khiến tôi hơi mỉm cười. Quậy tung phe Cộng hòa ư? Tôi sinh ra để làm thế mà. “Cho tôi biết thêm chi tiết đi,” tôi nói, ngoắc tay vẻ mời gọi.
Pascao kiểm tra lại để chắc chắn Razor vẫn đang rà soát kế hoạch với những người khác, rồi nháy mắt với tôi. “Đội chúng ta sẽ tháo toa chứa lựu đạn khi tàu cách ga vài dặm - tới lúc đó, tôi muốn cùng lắm trên tàu chỉ còn một nhúm lính gác. Nghe cho kỹ này. Thường thì không có nhiều lính ở gần đường tàu đó, nhưng đêm nay sẽ khác. Quân Cộng hòa sẽ săn lùng chúng ta sau khi nghe June cảnh báo về vụ ám sát giả. Để mắt tới bọn lính được điều động thêm nhé. Câu giờ cho chúng tôi, và đảm bảo rằng bọn chúng phát hiện ra cậu.”
“Được. Tôi sẽ câu giờ cho các anh.” Tôi khoanh tay nhìn anh. “Chỉ cần nói cho tôi biết tôi cần đi đâu.”
Pascao cười toe, vỗ mạnh vào lưng tôi. “Tuyệt. Tính cho đến giờ, cậu là Người Đưa Tin giỏi nhất trong số chúng ta - cậu sẽ loại đám lính đó dễ như bỡn. Hai tiếng nữa gặp tôi ở gần lối mà cậu đã đi vào nhé. Chúng ta sẽ tiệc tùng.” Anh búng ngón tay. “À, và đừng để ý Baxter. Cậu ta chỉ khó chịu vì cậu nhận được sự đối xử đặc biệt từ cả tôi và Tess thôi.”
Ngay khi anh rời đi, tôi lại quay nhìn màn hình và dán mắt vào hình ảnh June. Trong lúc đoạn video vẫn đang chạy, một phần cuộc nói chuyện giữa Razor với những binh sĩ Ái Quốc khác lọt vào tai tôi. “… đủ để nghe xem sẽ có chuyện gì,” ông ta nói. “Cô ta đã tóm được hắn rồi.”
Trên video, June dường như đang gà gật, hai đầu gối chạm vào cằm. Suốt thời gian này chẳng có chút âm thanh nào, nhưng tôi không suy nghĩ nhiều. Rồi tôi thấy có người bước vào phòng cô ấy, một gã trẻ tuổi tóc đen khoác áo choàng đen thanh lịch. Đó là Cử tri. Hắn cúi xuống và bắt đầu nói chuyện với cô, nhưng tôi không thể đoán ra hắn đang nói gì. Khi hắn đến gần, June căng thẳng hẳn. Tôi có thể cảm thấy mặt mình không còn một giọt máu. Mọi tiếng bàn tán và âm thanh hối hả xung quanh tôi dần tan vào khoảng không. Cử tri đặt một tay dưới cằm June và kéo mặt cô lại gần. Hắn đang làm điều mà tôi những tưởng chỉ được dành riêng cho mình, và tôi cảm thấy một nỗi mất mát đột ngột, tan nát. Tôi muốn rời mắt đi chỗ khác, nhưng thậm chí từ khóe mắt, tôi vẫn có thể thấy hắn đang hôn cô. Nó dường như kéo dài vô tận.
Tôi lặng người quan sát khi cuối cùng họ cũng tách nhau ra và Cử tri bước ra khỏi phòng, bỏ lại June một mình, cuộn người trên giường. Ngay lúc này cô đang nghĩ gì? Tôi không thể xem thêm được nữa. Tôi định quay đi, sẵn sàng theo Pascao rời khỏi đám đông và tránh xa cảnh tượng này.
Nhưng rồi một thứ đập vào mắt tôi. Tôi nhìn lên màn hình. Và vừa đúng lúc, tôi thấy June đưa hai ngón tay lên lông mày theo ám hiệu giữa chúng tôi.
Đến quá nửa đêm, Pascao, tôi và ba Người Đưa Tin nữa bôi những sọc đen to bản ngang qua hai mắt và mặc quân phục lính mặt trận tối màu, đội mũ quân dụng. Rồi lần đầu tiên kể từ khi tôi tới đây, chúng tôi rời khỏi chốn trú ẩn dưới lòng đất của quân Ái Quốc. Thỉnh thoảng, vài lính gác lảng vảng xung quanh, nhưng chúng tôi gặp nhiều nhóm lính hơn khi tiến ra khỏi khu vực lân cận và vượt qua đường tàu. Bầu trời vẫn bị mây che phủ hoàn toàn, và dưới ánh đèn đường lờ mờ, tôi có thể thấy những màn tuyết mỏng đang rơi. Vỉa hè trơn trượt vì mưa phùn và tuyết tan, không khí bốc mùi ôi, như trộn giữa mùi khói và mùi ẩm mốc. Tôi kéo cổ áo cứng lên cao hơn, nuốt một viên thuốc xanh của Tess, và thật lòng mong sao được quay lại khu ổ chuột ẩm thấp của Los Angeles cùng cô bé. Tôi gõ vào quả bom khói giấu dưới áo khoác, kiểm tra lần nữa cho chắc nó vẫn khô. Sâu trong tâm trí tôi, cảnh tượng giữa June và Cử tri vẫn được chiếu đi chiếu lại.
Ám hiệu của June là cho tôi. Không biết cô muốn tôi dừng phần nào của kế hoạch? Có phải cô muốn tôi từ bỏ nhiệm vụ của quân Ái Quốc và bỏ trốn? Nếu tôi đào ngũ bây giờ, chuyện gì sẽ xảy ra với cô? Ám hiệu đó có thể mang cả triệu ý nghĩa. Nó thậm chí còn có thể mang ý nghĩa là cô đã quyết định ở lại phe Cộng hòa. Tôi giận dữ xua suy nghĩ đó ra khỏi đầu. Không, cô sẽ không làm thế. Kể cả khi Cử tri muốn cô ư? Điều đó có khiến cô ở lại không?
Tôi cũng nhớ rằng đoạn video quay hai người đó không có âm thanh. Mọi video khác chúng tôi xem đều có âm thanh rõ ràng - Razor thậm chí còn khăng khăng đòi phải cho tiếng to lên. Có phải quân Ái Quốc đã tách tiếng khỏi đoạn video này? Họ đang giấu giếm gì chăng?
Pascao dừng chúng tôi lại trong bóng tối một con ngõ không xa nhà ga. “Mười lăm phút nữa tàu sẽ đến,” anh nói, hơi thở cuộn lên thành những đám khói. “Baxter, Iris, hai người đi theo tôi.” Cô gái tên Iris - cao gầy, đôi mắt sâu liên tục nháo nhác nhìn quanh - mỉm cười, nhưng Baxter trừng mắt và siết chặt hàm. Tôi lờ hắn đi, cố không nghĩ tới những điều bất kể là gì hắn đang cố nhồi vào đầu Tess về tôi. Pascao chỉ vào Người Đưa Tin thứ ba, một cô gái nhỏ nhắn với những bím tóc màu đồng cứ lén lút liếc nhìn tôi nãy giờ. “Jordan, cô sẽ xác định cho chúng tôi vị trí toa tàu đó.” Cô giơ ngón cái đồng ý với Pascao.
Pascao chuyển mắt về phía tôi. “Day,” anh thì thầm. “Cậu biết phải làm gì rồi đấy.”
Tôi kéo mũ. “Hiểu rồi, người anh em.” Ý June có là gì đi nữa thì đây cũng không phải lúc để tôi bỏ mặc quân Ái Quốc. Tess vẫn còn ở trong boong ke, và tôi không hề biết Eden đang ở đâu. Tôi sẽ không đời nào đặt cả hai vào tình thế nguy hiểm.
“Giữ chân đám lính kia, được chứ? Làm chúng ghét cậu đi.”
“Đó là chuyên môn của tôi mà.” Tôi ra hiệu về phía trên những mái nhà thoai thoải và những bức tường đổ nát dựng đứng xung quanh chúng tôi. Với một Người Đưa Tin, những mái nhà này giống như những máng trượt khổng lồ được băng làm cho trơn nhẵn. Tôi thầm cảm ơn Tess - viên thuốc xanh đến lúc này đã làm tôi ấm lên từ trong ra ngoài, dễ chịu như bát xúp nóng trong một buổi tối giá lạnh.
Pascao toét miệng cười với tôi. “Tốt rồi. Cho bọn chúng vui vẻ thôi.”
Tôi dõi nhìn những người khác xuyên màn tuyết vội vã rời đi men theo đường ray. Rồi tôi bước sâu hơn vào trong bóng tối và xem xét các tòa nhà. Tòa nhà nào cũng cũ và lỗ chỗ khe để chân - và vui hơn nữa, chúng đều có những thanh xà kim loại gỉ sét chằng chéo trên tường. Vài tòa nhà đã bật nóc phơi ra giữa trời đêm. Một số khác có mái ngói dốc nghiêng. Bất chấp tất cả, tôi không thể ngăn cảm giác háo hức đến nhức nhối. Những tòa nhà này là thiên đường của một Người Đưa Tin.
Tôi quay trở lại con phố dẫn đến nhà ga. Có ít nhất hai nhóm lính, có lẽ nhiều hơn nhưng tôi không thể nhìn thấy từ phía bên này. Một số xếp hàng dọc đường tàu đúng như dự tính, súng vác trên vai, những sọc đen vắt qua hai mắt loang loáng ướt dưới cơn mưa. Tôi giơ tay kiểm tra lại vạch đen trên mặt mình. Rồi tôi kéo chiếc mũ quân dụng xuống đầu chặt hơn. Đến giờ diễn rồi.
Tôi chọn một chỗ để chân hợp lý trên một bức tường và đung đưa leo lên mái nhà. Mỗi lần tôi cắm chân vào tường, bắp chân tôi lại chạm vào phần cẳng chân giả. Phần kim loại lạnh cóng, cho dù đã cách lớp vải. Vài giây sau, tôi đã vắt vẻo phía sau một ống khói đổ nát ở phía trên ba tầng. Từ đây tôi có thể nhìn thấy, đúng như tôi đoán, một nhóm lính thứ ba ở phía bên kia ga. Tôi di chuyển về phía đầu kia tòa nhà rồi lặng lẽ nhảy từ tòa nhà này sang tòa nhà khác cho đến khi lên trên một mái nhà dốc. Giờ tôi đã ở gần đến mức thấy được cả vẻ mặt của đám lính. Tôi với tay vào trong áo khoác, đảm bảo rằng quả bom khói vẫn khô ráo, và rồi núp trên mái nhà đó đợi thời cơ.
Một vài phút trôi qua.
Rồi tôi đứng dậy, lôi quả bom khói ra, liệng hết sức ra ngoài ga.
Bùm. Quả bom chạm đất nổ bùng thành một đám mây khổng lồ. Ngay lập tức bụi mù nuốt chửng toàn bộ khu nhà và lan xuống phố như sóng cuộn. Tôi nghe thấy tiếng la hét từ đám lính gần nhà ga - một tên hét lớn, “Ở đó kìa! Dưới kia ba dãy nhà!” Ai mà chẳng biết thế, anh lính. Một nhóm tách ra khỏi ga và bắt đầu vội vã hướng về chỗ đám mây bụi bao phủ con phố.
Tôi trượt xuống mái nhà dốc. Mái lợp vỡ lỗ chỗ, tung vào không khí những trận sương băng, nhưng bị át dưới những tiếng la hét và tiếng chạy phía dưới, tôi thậm chí còn chẳng nghe ra tiếng mình. Mái nhà trơn như thủy tinh ướt. Tôi tăng tốc. Mưa quật càng lúc càng mạnh vào má tôi - đến được dưới mép mái nhà, tôi dốc hết sức phóng mình vào không trung. Nhìn từ mặt đất trông tôi chắc chẳng khác gì một bóng ma.
Đôi ủng của tôi đập vào mái dốc của tòa bên cạnh, tòa nhà nằm ngay sát ga tàu. Đám lính vẫn đang hoang mang ở đó, nhìn chằm chằm theo con phố về phía đám bụi. Tôi nhẹ nhàng bật ra khỏi mép mái nhà thứ hai này, rồi tóm vào bên sườn một cột đèn đường và trượt theo cột đèn xuống đất. Tôi tiếp đất với tiếng lạo xạo cụt lủn nghèn nghẹt trên những dải băng ở vỉa hè.
“Theo tôi!” tôi hét lên với đám lính. Bọn họ nhìn thấy tôi lần đầu tiên, chỉ là một người lính bình thường nữa với đồng phục tối màu và sọc đen vắt ngang mắt. “Một kho hàng của chúng ta bị tấn công. Có thể quân Ái Quốc cuối cùng đã lộ diện.” Tôi ra hiệu cho cả hai nhóm còn lại. “Mọi người. Lệnh của chỉ huy, nhanh lên!” Rồi tôi quay gót và bắt đầu chạy ra xa bọn họ.
Quả nhiên, tiếng ủng thình thịch của họ chẳng mấy chốc đã bám theo. Còn lâu những người lính này mới dám không tuân lệnh chỉ huy, cho dù điều đó đồng nghĩa với việc phải để ga tàu tạm thời không được canh gác. Đôi khi ta không thể không yêu kỷ luật thép của quân Cộng hòa.
Tôi vẫn chạy.
Khi đã dẫn đám lính đi theo qua bốn năm khu nhà, qua đám mây bụi và vài nhà kho, tôi đột ngột đổi hướng rẽ vào một hành lang hẹp. Trước khi họ kịp rẽ vào góc, tôi chạy thẳng về phía một bức tường trong ngõ - và khi chỉ còn cách vài bước chân, tôi tung người đạp vào bức tường gạch. Hai bàn tay tôi vung ra. Tôi bám vào gờ tường tầng hai và trong giây lát đã nhảy bật lên đó. Chân tôi trụ vững trên gờ tường.
Đến lúc đám lính xộc vào con ngõ đó, tôi đã lẫn vào kẽ hở khuất trong bóng tối của cửa sổ tầng hai. Tôi nghe tiếng những người đi đầu dừng lại, rồi những tiếng kêu hoang mang của họ. Giờ là thời điểm tốt rồi, tôi nghĩ. Tôi với tay bỏ mũ ra, xõa tung mái tóc bạch kim của mình. Một người lính ngẩng đầu lên vừa kịp thấy tôi vọt ra khỏi kẽ cửa sổ và từ gờ tường tầng hai rẽ vào góc. “Mọi người thấy không?” ai đó hô to ngờ vực. “Có phải Day không?” Khi tôi xọc chân vào những khoảng trống trên bức tường gạch cũ và đu người lên tầng ba, giọng đám lính đã chuyển từ hoang mang sang giận dữ. Ai đó hét lên với người khác là phải bắn hạ tôi. Tôi chỉ cắn răng nhảy lên tầng ba.
Những viên đạn đầu tiên găm tường. Một viên chỉ cách tay tôi vài phân. Tôi không dừng lại - thay vào đó tôi lao vụt lên tầng trên cùng và chỉ bằng một cú đu đã lên tới mái nhà dốc. Thêm nhiều tia lửa lóe lên trên bức tường gạch bên dưới. Xa xa, tôi nhìn thấy nhà ga - đoàn tàu đã đến, khuất nửa sau làn hơi nước, chẳng có ai canh giữ ngoại trừ vài tên lính vừa bước xuống khỏi tàu.
Tôi leo lên mái nhà và trượt xuống ở phía bên kia, rồi tiếp tục thực hiện một cú bay người sang mái nhà tiếp theo, ở phía dưới, vài người lính bắt đầu vội vã quay lại đoàn tàu. Có lẽ cuối cùng họ đã nhận ra đây chỉ là đòn nghi binh. Đôi mắt tôi chỉ rời khỏi nhà ga khi bay người sang một mái nhà khác.
Cách hai dãy nhà.
Rồi, một vụ nổ. Một đám mây sáng cuồng nộ cuộn lên từ đường tàu xa xa, và đến cả vị trí đắc địa trên mái nhà của tôi cũng rung lên. Ảnh hưởng của vụ nổ khiến tôi mất thăng bằng khuỵu gối xuống. Đó là vụ nổ mà Pascao đã nói. Tôi nhìn cảnh rùng rợn đó một lúc, trầm tư cân nhắc. Rất nhiều lính sẽ dồn về đó - sẽ rất nguy hiểm, nhưng nếu nhiệm vụ của tôi là để quân Cộng hòa biết tôi còn sống, vậy thì tốt hơn hết tôi phải làm sao để càng nhiều người nhìn thấy tôi càng tốt. Tôi đứng dậy và bắt đầu chạy nhanh hơn, vừa chạy vừa lèn tóc vào trong mũ. Đám lính phía dưới đã tách thành hai nhóm - một nhóm lao về phía vụ nổ, nhóm còn lại tiếp tục đuổi theo tôi.
Bất chợt tôi dừng phắt lại. Đám lính chạy vượt qua tòa nhà tôi đang đứng. Không lãng phí một giây, tôi trượt xuống mái nhà và đu xuống từ rìa máng xối. Đá ủng vào chỗ để chân. Từng bước một. Tôi nhảy xuống vỉa hè. Rất có thể đám lính vừa nhận ra họ đã mất dấu tôi, nhưng tôi đã hòa vào bóng tối trên mặt đất. Giờ tôi chạy đều bước dọc phố như thể tôi chỉ là một người lính khác. Tôi hướng về đoàn tàu.
Cơn mưa nặng hạt hơn. Ngọn lửa sau vụ nổ rọi sáng bầu trời đêm, và tôi đến gần đoàn tàu đủ để nghe thấy tiếng la hét và tiếng chân rầm rập. Pascao và những người khác đã thoát ra an toàn chưa? Tôi rảo bước. Những người lính khác dần hiện ra trong mưa tuyết, và tôi lặng lẽ nhập vào hàng cùng họ chạy sát đoàn tàu. Họ đang đổ xô về phía đám cháy.
“Chuyện gì vậy?” một người hét to hỏi những người còn lại.
“Không biết, tôi nghe thấy có tia lửa bùng lên từ chỗ hàng hóa.”
“Không thể nào! Các toa tàu đều được phủ kín…”
“Ai đó liên lạc với Trung tá DeSoto đi. Quân Ái Quốc hành động rồi, chuyển lời đến Cử tri đi, chúng đang…”
Bọn họ vẫn tiếp tục, tôi bỏ lỡ nửa sau câu nói. Tôi chậm dần cho đến khi đã ở cuối hàng, rồi phóng vội vào khe hở giữa hai toa tàu. Những người lính trong tầm mắt tôi vẫn hướng về phía đám cháy. Những người khác đang ở chỗ tôi cho nổ bom khói, và những người lúc nãy đuổi theo tôi có lẽ vẫn đang hoang mang lùng sục những con phố tôi đã chạy qua. Tôi đợi cho đến khi chắc chắn không còn ai ở gần. Rồi tôi trượt ra từ giữa hai toa tàu và chạy ngược lại với đám lính. Tôi lại xõa tóc. Bây giờ tôi chỉ cần chọn thời điểm thích hợp để thực hiện màn xuất hiện hoành tráng.
Mỗi toa tàu tôi đi qua đều gắn những biển tên nhỏ. Than. Pháo tự hành. Đạn. Thực phẩm. Tôi tha thiết muốn dừng lại ở toa cuối cùng, nhưng đó chỉ phần Lake trong tôi đang lên tiếng. Tôi nhắc bản thân nhớ rằng tôi không còn lang thang đầu đường xó chợ nữa và rằng quân Ái Quốc có cả một kho thức ăn đầy ụ ở trụ sở của họ. Tôi buộc mình phải đi tiếp. Thêm nhiều biển tên. Thêm hàng tiếp tế cho mặt trận.
Rồi tôi lướt qua một biển tên khiến tôi buộc phải dừng lại. Một cơn rùng mình chạy dọc tứ chi. Tôi vội chạy ngược lại để nhìn toa tàu đánh dấu đó lần nữa, phòng trường hợp nó chỉ là do tôi tưởng tượng ra. Không. Nó đây rồi, chạm nổi vào kim loại. Dấu hiệu tôi sẽ nhận ra ở bất kỳ đâu.
Ba chữ X liền nhau. Tâm trí tôi quay cuồng - tôi nhìn thấy biểu tượng sơn đỏ trên cánh cửa của mẹ tôi, quân kiểm dịch đi đến từng ngôi nhà ở Lake, Eden đang bị bắt đi. Biểu tượng này không thể mang ý nghĩa nào khác ngoài thực tế rằng em trai tôi, hoặc thứ gì đó liên quan đến nó, đang ở trên đoàn tàu này. Toàn bộ mối quan tâm của tôi đối với kế hoạch của quân Ái Quốc đã bay sạch khỏi đầu. Eden có thể đang ở đây.
Tôi dám chắc hai cánh cửa trượt của toa tàu đã bị khóa, vậy nên tôi lùi lại vài bước, rồi chạy về phía nó. Khi đến đủ gần, tôi bật nhảy, đạp ba bước vào thành toa tàu, bám lấy mép trên cùng và đu mình lên.
Có một tấm bịt tròn bằng kim loại ở giữa nóc toa tàu có lẽ được dùng vào bên trong. Tôi bò đến chỗ đó, lần ngón tay dọc mép và thấy có bốn cái chốt gắn tấm bịt xuống. Tôi lập cập vặn chúng ra. Giờ đám lính có thể trở lại bất kỳ lúc nào. Tôi dùng hết sức bình sinh đẩy tấm bịt. Nó trượt ra, để lộ một khe hở, vừa đủ cho tôi nhảy vào.
Tôi tiếp đất với một tiếng bịch rất nhẹ. Trong này khá tối nên lúc đầu tôi không nhìn thấy gì. Tôi với tay ra và chạm vào thứ gì đó giống như một bề mặt thủy tinh tròn. Dần dần, tôi bắt đầu nhìn thấy cảnh xung quanh.
Tôi đang đứng ngay trước một trụ thủy tinh cao và rộng gần bằng toa tàu, bọc một lớp kim loại trơn nhẵn ở cả nóc lẫn đáy. Nó phát ra ánh sáng xanh yếu ớt. Một dáng hình nhỏ thó đang nằm trên sàn phía trong, mấy chiếc ống thò ra từ một bên cánh tay. Tôi biết ngay đó là một cậu bé. Mái tóc ngắn, sạch sẽ rối bù những lọn xoăn mềm, và cậu bé mặc bộ áo liền quần màu trắng nổi bật trong bóng tối.
Tai tôi ù ù chặn đứng mọi âm thanh. Đó là Eden. Chắc chắn là nó rồi. Tôi đã gặp may - tôi không thể tin vào vận may của mình. Thằng bé ở ngay đây, tôi đã tìm thấy nó ở nơi chẳng ai ngờ tới, giữa cái đất nước Cộng hòa mênh mông này, trong một tình huống tình cờ đến điên rồ. Tôi có thể đưa nó ra. Chúng tôi có thể bỏ trốn đến Thuộc địa sớm hơn tôi tưởng. Chúng tôi có thể bỏ trốn ngay đêm nay.
Tôi lao đến gần lòng trụ và đấm mạnh vào mặt kính, phần nào hy vọng nó sẽ vỡ mặc dù tôi dám chắc nó ít nhất cũng dày tới ba mươi phân và gần như chắc chắn là kính chống đạn. Trong một thoáng tôi không biết liệu nó có nghe thấy không. Nhưng rồi mắt nó mở ra. Đôi mắt dáo dác một cách kỳ dị, không tập trung rồi sau đó cố gắng dừng ở tôi.
Mất một lúc lâu tôi mới ý thức được thằng bé này không phải Eden.
Nỗi thất vọng cay đắng châm vào lưỡi tôi đau nhói. Thằng bé quá nhỏ và cũng trạc tuổi em trai tôi, khiến tôi không thể ngăn hình ảnh khuôn mặt Eden tràn ngập tâm trí mình, vẫn còn những người khác cũng bị đánh những dấu hiệu bất thường của bệnh dịch sao? Thế đấy, tất nhiên là có chứ. Sao Eden lại là người duy nhất trên toàn cái đất nước này được chứ?
Thằng bé và tôi đối mặt nhau một lúc. Tôi nghĩ nó có thể thấy tôi, nhưng nó dường như không thể nhìn thẳng được; nó cứ liếc xéo mắt theo một cách gợi tôi nhớ đến bệnh cận thị của Tess. Eden. Tôi nhớ lại cách mống mắt của nó chảy máu vì bệnh dịch… từ cách thằng bé kia cố nhìn tôi, tôi có thể nói nó đã gần mù hẳn rồi. Một triệu chứng mà em trai tôi cũng có thể đang có.
Thằng bé đột nhiên thoát khỏi trạng thái ngơ ngẩn và bò hết tốc lực về phía tôi. Nó ấn cả hai tay vào lớp kính. Đôi mắt thằng bé màu nâu mờ đục, không phải cái màu đen gớm ghiếc trong mắt Eden khi tôi nhìn thấy nó lần cuối, nhưng nửa dưới mống mắt của cả hai đứa đều có màu tía đậm của máu. Có phải thằng bé này - thằng Eden này - đang khá lên, vì máu đã bị rút đi, hoặc tệ hơn nữa, vì máu đang bị rút vào trong? Vào lần cuối gặp tôi, mống mắt Eden đã phủ kín máu.
“Ai ngoài đó vậy?” thằng bé nói. Tấm kính bóp nghẹt tiếng nó.
“Một người bạn,” tôi khàn giọng trả lời. “Anh sẽ đưa em ra.” Nghe thấy thế, đôi mắt thằng bé mở to - hy vọng lập tức bừng lên trên khuôn mặt bé nhỏ. Tôi lần tay dọc tấm kính tìm kiếm thứ gì đó, bất cứ thứ gì, có thể mở cái trụ kính khốn khiếp này. “Em điều khiển cái thứ này thế nào? Có an toàn không?”
Thằng bé đập điên cuồng vào tấm kính. Nó đang hoảng loạn. “Xin hãy giúp em!” thằng bé kêu lên, giọng run rẩy. “Cho em ra, xin hãy đưa em ra khỏi đây!”
Lời thằng bé làm tim tôi đau thắt. Có phải Eden cũng đang như thế, sợ hãi và mù lòa, chờ đợi tôi đến cứu trong một toa tàu tăm tối nào đó? Tôi phải đưa thằng bé này ra khỏi đây. Tôi tì vào lồng trụ. “Em phải bình tĩnh, nhóc ạ. Được chứ? Đừng hoảng. Tên em là gì? Gia đình em là người thành phố nào?”
Những giọt nước mắt bắt đầu lăn dài trên mặt thằng bé. “Tên em là Sam Vatanchi. Gia đình em ở Helena, Montana.” Thằng bé lắc đầu nguầy nguậy. “Mọi người không biết em đi đâu. Anh có thể nói với mọi người là em muốn về nhà không? Anh có thể…”
Không, anh không thể. Anh chẳng làm được cái quái gì cả. Tôi muốn đấm thủng vách kim loại của toa tàu. “Anh sẽ làm tất cả những gì có thể. Làm sao em mở được lòng trụ này?” tôi hỏi lại. “Mở ra có an toàn không?”
Thằng bé hoảng hốt chỉ sang phía bên kia của lồng trụ. Tôi dám chắc nó đang cố hết sức kiềm chế nỗi sợ hãi. “Được rồi… được rồi.” Thằng bé dừng lại, cố suy nghĩ, “ừm, nó an toàn. Em nghĩ vậy. Ở kia có thứ gì đó để họ gõ chữ vào,” nó trả lời. “Em nghe thấy những tiếng bíp rồi nó làm cái ống này mở ra.”
Tôi chạy ra chỗ thằng bé chỉ. Có phải do tôi tưởng tượng ra không, hay tôi đang nghe thấy văng vẳng tiếng ủng đang nện xuống vỉa hè thật? “Nó là một kiểu màn hình thủy tinh,” tôi nói. Từ ĐÃ KHÓA màu đỏ chạy ngang màn hình. Tôi quay lại với thằng bé và gõ vào trụ kính. Mắt nó xoay theo hướng âm thanh. “Có mật mã gì không? Làm thế nào để đánh chữ vào đây?”
“Em không biết!” Thằng bé vung tay lên, giọng nó lạc đi vì nức nở. “Xin làm ơn, hãy…”
Khốn kiếp thật, thằng bé gợi tôi nhớ đến rất nhiều điều về Eden. Những giọt nước mắt của nó khiến mắt tôi rơm rớm. “Thôi nào,” tôi dỗ dành, cố giữ giọng đanh thép. Phải kiểm soát tình hình. “Nghĩ đi. Ngoài dùng bàn phím thì có cách nào khác để mở thứ này không?”
Thằng bé lắc đầu. “Em không biết. Em không biết!”
Tôi có thể hình dung được Eden sẽ nói gì, nếu nó là thằng bé kia. Nó sẽ nói gì đó mang tính kỹ thuật, nó vốn vẫn suy nghĩ y hệt một kỹ sư tí hon mà. Kiểu như, “Anh có giũa không? Cố tìm chốt điều khiển bằng tay xem!”
Cứng rắn lên. Tôi rút con dao vẫn luôn giắt ở thắt lưng. Tôi từng thấy Eden tháo rời nhiều món đồ điện tử và nối lại toàn bộ dây nối và bảng mạch bên trong. Có thể tôi nên thử làm tương tự.
Tôi đặt lưỡi dao vào kẽ hở nhỏ xíu dọc mép bàn phím và cẩn thận bẩy lên. Không thấy có động tĩnh gì, tôi bèn đẩy mạnh hơn cho đến khi lưỡi dao cong đi. Chẳng giúp được gì. “Chặt quá,” tôi làu bàu. Giá mà June ở đây. Có lẽ chỉ cần nửa giây là cô ấy đã hình dung ra cách vận hành thứ này. Thằng bé và tôi im lặng một lát, cằm nó gục xuống ngực và mắt nhắm nghiền, nó biết là chẳng có cách nào mở được.
Tôi cần phải cứu thằng bé. Tôi cần phải cứu Eden. Điều đó khiến tôi muốn hét lên. Không phải tôi tưởng tượng ra - tôi nghe thấy tiếng đám lính đang tiến lại gần thật. Chắc hẳn chúng đang kiểm tra các toa tàu. “Nói gì đi Sam,” tôi nói. “Em vẫn ốm à? Bọn chúng đang làm gì em?”
Thằng bé chùi mũi. Ánh sáng hy vọng đã tắt dần trên mặt nó. “Anh là ai?”
“Một người muốn giúp em,” tôi thì thầm. “Em càng nói cho anh biết nhiều, thì anh sẽ càng dễ giải quyết vấn đề.”
“Em không ốm nữa rồi,” Sam vội vã trả lời, như thể nó biết chúng tôi đang dần hết thời gian, “nhưng bọn họ nói có gì đó trong máu của em. Họ gọi nó là một loại vi rút ngủ đông.” Thằng bé dừng lại ngẫm nghĩ. “Họ cho em uống thuốc để em không bị ốm lại.” Nó dụi đôi mắt mù lòa, thầm lặng khẩn nài tôi hãy cứu nó. “Mỗi lần tàu dừng, bọn họ lại lấy mẫu máu của em.”
“Em có biết em đã đi qua những thành phố nào không?”
“Không biết… Em nghe thấy tên Bismarck một lần…” Giọng thằng bé nhỏ dần khi nó suy nghĩ. “Và Yankton?”
Cả hai đều là những thành phố mặt trận ở Dakota. Tôi nghĩ đến phương tiện vận chuyển bọn chúng đang dùng với thằng bé. Có thể nó duy trì một môi trường vô trùng, để người ta có thể đi vào lấy mẫu máu, rồi trộn chúng với thứ gì đó, bất kể là gì, kích hoạt được vi rút ngủ đông. Những chiếc ống trên hai tay thằng bé có thể chỉ là để cung cấp chất dinh dưỡng.
Dự đoán khá khẩm nhất của tôi là bọn chúng đang sử dụng thằng bé như một thứ vũ khí sinh học để chống lại phe Thuộc địa. Nó đỡ bị biến thành chuột bạch. Giống y như Eden. Ý nghĩ em trai mình đang bị vận chuyển như thế này chỉ chực nhấn chìm tôi. “Tiếp theo bọn chúng định đưa em đi đâu?” tôi gặng hỏi.
“Em không biết! Em chỉ… Em muốn về nhà!”
Nơi nào đó ngoài mặt trận. Tôi có thể tưởng tượng ra bao nhiêu người khác vẫn đang bị diễu qua diễu lại trên chiến tuyến. Tôi hình dung ra cảnh Eden đang nằm bẹp trên một trong những đoàn tàu đó. Thằng bé lại bắt đầu khóc i ỉ, nhưng tôi buộc phải chặn nó lại. “Nghe này, em có biết thằng bé nào tên Eden không? Em từng nghe thấy cái tên đó ở đâu chưa?”
Tiếng khóc của nó càng to hơn. “Không… em không… biết ai…”
Tôi không chần chừ thêm được nữa. Chẳng hiểu sao rồi tôi cũng có thể rời mắt khỏi thằng bé và chạy ra phía cửa trượt của toa tàu. Tiếng bước chân của đám lính giờ đã to hơn - bọn chúng cùng lắm chỉ cách đây năm sáu toa tàu. Tôi quay lại nhìn thằng bé lần cuối. “Anh xin lỗi. Anh phải đi.” Tôi như đứt ruột khi thốt ra những từ đó.
Thằng bé lại khóc. Hai tay nó đập mạnh vào lớp kính lồng trụ dày cộp. “Không!” Giọng nó lạc đi. “Em đã nói cho anh mọi điều em biết… Xin đừng bỏ em ở lại đây!”
Tôi không thể chịu nổi nếu phải nghe thêm. Tôi ép mình trèo lên những thanh chốt bên hông một cánh cửa trượt tới sát trần toa tàu để bám được vào mép tấm bịt tròn trên nóc. Tôi lại đu người ra ngoài hòa mình vào màn đêm, quay về với cơn mưa tuyết đang châm vào mắt, quất băng giá vào mặt mình và cố gắng lấy lại bình tĩnh. Tôi thấy hổ thẹn với bản thân. Thằng bé đó đã giúp tôi hết sức có thể, và đây là cách tôi đền ơn nó sao? Bằng cách chạy thoát thân?
Đám lính đang kiểm tra các toa tàu cách đó năm mươi mét. Tôi đẩy tấm bịt về chỗ và áp chặt người vào nóc toa tàu bò cho tới khi đến được bên rìa. Tôi đu người xuống và tiếp đất.
Pascao dần hiện ra từ bóng đêm, đôi mắt xám nhạt sáng lên trong bóng tối. Anh chắc hẳn đang tìm tôi. “Thế quái nào mà cậu lại ở đây vậy?” anh thì thầm. “Lẽ ra cậu phải đang quậy gần vụ nổ chứ, đúng không? Cậu đã ở đâu vậy?”
Tôi không có tâm trạng để ra vẻ tử tế. “Giờ không phải lúc,” tôi cáu kỉnh, bắt đầu chạy bên cạnh Pascao. Đến lúc quay lại hầm ngầm rồi. Mọi thứ lướt qua chúng tôi trong màn sương mờ ảo.
Pascao há miệng định nói gì đó, nhưng rồi nhìn mặt tôi lại do dự và quyết định ngừng lại. “Ờ…” anh lại bắt đầu, lần này lặng lẽ hơn, “Chà, cậu làm tốt rồi, có lẽ đã loan tin cậu còn sống, thậm chí chẳng cần mấy trò pháo hoa thêm vào. Quả leo lên nóc nhà của cậu khá là kinh ngạc đấy. Sáng mai, chúng ta sẽ thấy dân chúng phản ứng thế nào trước sự xuất hiện của cậu ở đây.” Thấy tôi không trả lời, anh cắn môi và dừng lại ở đó.
Tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đợi đến khi Razor hoàn thành vụ ám sát rồi họ mới giúp tôi cứu Eden. Một cơn giận dữ đối với gã Cử tri trẻ bỗng trào dâng trong tôi. Tao ghét mày. Tao ghét mày với tất cả những gì tao có, và tao thề sẽ cho mày ăn đạn ngay khi có cơ hội. Lần đầu tiên kể từ khi gia nhập quân Ái Quốc, tôi thật lòng hào hứng với vụ ám sát. Tôi sẽ làm mọi điều để chắc chắn rằng quân Cộng hòa không bao giờ có thể động vào em tôi một lần nữa.
Giữa sự hỗn loạn của đám cháy vẫn chưa được dập và tiếng binh lính la hét, chúng tôi âm thầm tiến về phía bên kia thành phố và lại hòa vào bóng đêm.