Thú Dữ Và Siêu Thú

Lượt đọc: 76 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Cửa Sổ Mở

❊ ❊ ❊

“Dì tôi sẽ xuống ngay thôi, thưa ông Nuttel,” một thiếu nữ mười lăm tuổi ra điều rất ra dáng người lớn lên tiếng; “trong lúc này, ông đành chịu khó trò chuyện với tôi vậy.”

Framton Nuttel cố gắng nặn ra một câu nói phải phép nhằm vừa lòng cô cháu gái hiện tại mà không làm mất lòng người dì sắp xuất hiện. Trong thâm tâm, anh càng lúc càng hoài nghi việc liệu những chuyến viếng thăm xã giao đến hàng loạt người hoàn toàn xa lạ này có giúp ích gì cho liệu trình chữa bệnh thần kinh mà anh đang phải trải qua hay không.

“Em biết thừa cơ sự sẽ thế nào mà,” chị anh từng nói khi anh chuẩn bị dọn về vùng quê tĩnh lặng này; “anh sẽ tự giam mình ở đó rồi chẳng thèm mở miệng với một bóng người, để rồi bệnh thần kinh của anh sẽ còn trầm trọng hơn do chán nản. Em cứ đưa cho anh vài bức thư giới thiệu để gửi cho tất cả những người quen của em ở đó. Theo trí nhớ của em thì vài người trong số họ khá tử tế đấy.”

Framton tự hỏi liệu bà Sappleton, người mà anh sắp đến trao một trong những bức thư giới thiệu, có nằm trong nhóm người tử tế đó không.

“Ông có quen nhiều người ở quanh vùng này không?” cô cháu gái hỏi, khi phỏng chừng khoảng thời gian im lặng vừa đủ để hai người giữ phép lịch sự.

“Hầu như chẳng quen ai,” Framton đáp. “Chị tôi từng ở đây, tại nhà xứ ấy mà, cách đây chừng bốn năm, và chị ấy đã cho tôi vài bức thư giới thiệu để làm quen với một số người ở đây.”

Anh thốt lên câu cuối với giọng điệu đầy vẻ tiếc nuối rõ rệt.

“Thế ra ông chẳng biết gì về dì tôi sao?” cô thiếu nữ ra điều hiểu biết tiếp lời.

“Tôi chỉ biết tên và địa chỉ của bà thôi,” vị khách đành thừa nhận. Anh đang tự thắc mắc không biết bà Sappleton đã có gia đình hay đang góa bụa. Một nét gì đó không rõ ràng trong căn phòng dường như gợi lên sự hiện diện của đàn ông.

“Bi kịch lớn của đời dì ấy xảy ra đúng ba năm trước,” đứa trẻ nói; “tính ra là từ hồi trước cả thời gian chị ông ở đây.”

“Bi kịch ư?” Framton hỏi; chẳng hiểu sao ở chốn thôn quê yên bình này, chuyện bi kịch nghe có vẻ lạc lõng làm sao.

“Chắc ông thấy lạ vì sao chúng tôi lại để ngỏ tung cửa sổ vào một buổi chiều tháng Mười thế này chứ,” cô bé nói, chỉ tay về phía một khung cửa kính kiểu Pháp rộng mở hướng ra bãi cỏ.

“Thời tiết thế này là khá ấm so với mọi năm,” Framton đáp; “nhưng mà khung cửa sổ đó có liên quan gì đến bi kịch kia sao?”

“Đúng vào ngày này ba năm trước, chồng và hai người em trai của dì ấy đã bước qua khung cửa đó để đi săn. Họ không bao giờ trở về nữa. Khi băng qua đầm lầy để đến bãi săn dầm lầy quen thuộc, cả ba người đã bị nuốt chửng bởi một vũng lầy nguy hiểm. Hồi đó là một mùa hè mưa gió khủng khiếp ông ạ, những nơi vốn an toàn vào những năm trước bỗng sụt xuống mà không có lấy một lời cảnh báo. Xác của họ không bao giờ được tìm thấy cả. Đó mới là điều khủng khiếp nhất.” Đến đây, giọng điệu già dặn của cô bé bỗng mất đi, trở nên nghẹn ngào đậm chất con người. “Dì tội nghiệp của tôi lúc nào cũng đinh ninh rằng có ngày họ sẽ quay trở lại, cả họ và chú chó Tây Ban Nha lông nâu bị mất tích cùng họ, sẽ bước qua khung cửa sổ đó y như ngày trước. Đó là lý do vì sao cửa sổ lúc nào cũng được để mở mỗi chiều cho đến khi trời tối hẳn. Người dì tội nghiệp đáng thương của tôi, bà vẫn thường kể cho tôi nghe cảnh họ ra đi thế nào: chồng bà khoác chiếc áo mưa trắng chống thấm nước trên tay, còn Ronnie, cậu em út, thì cứ hát vang ‘Bertie, sao anh lại nhảy cẫng lên thế?’ hệt như lúc cậu ấy hay trêu chọc bà, vì bà bảo câu đó làm bà phát bực. Ông biết không, thỉnh thoảng vào những buổi chiều tĩnh lặng như thế này, tôi cứ có cảm giác rợn tóc gáy rằng tất cả họ sẽ bước qua khung cửa sổ đó—”

Cô bé ngắt lời với một cái rùng mình nhẹ. Với Framton, đó quả là một sự giải thoát khi người dì vội vã bước vào phòng cùng một tràng xin lỗi vì đã xuất hiện muộn.

“Tôi hy vọng con bé Vera đã làm ông thấy khuây khỏa chứ?” bà nói.

“Con bé rất thú vị,” Framton đáp.

“Mong là ông không phiền vì cửa sổ mở nhé,” bà Sappleton xởi lởi nói; “chồng tôi và các em tôi sẽ về nhà ngay đây sau buổi đi săn, và họ lúc nào cũng đi lối này. Hôm nay họ đi săn dầm lầy ở bãi sình, thế nào cũng làm bẩn hết mấy tấm thảm tội nghiệp của tôi cho mà xem. Đàn ông các ông đúng là hệt một một giuộc, phải không nào?”

Bà cứ huyên thuyên vui vẻ về chuyện đi săn, về sự khan hiếm của loài chim, và triển vọng săn vịt vào mùa đông. Đối với Framton, tất cả những điều đó thực sự kinh khủng. Anh cố gắng tuyệt vọng nhưng chỉ thành công một phần trong việc lái câu chuyện sang một chủ đề đỡ rợn người hơn; anh nhận thức rõ rằng nữ chủ nhà chỉ dành cho mình một chút chú ý lẻ tẻ, và mắt bà cứ liên tục liếc qua người anh để hướng về khung cửa sổ mở cùng bãi cỏ bên ngoài. Quả là một sự trùng hợp trớ trêu khi anh lại đến thăm vào đúng ngày kỷ niệm đẫm nước mắt này.

“Các bác sĩ đều đồng tình khi ra lệnh cho tôi phải nghỉ ngơi tuyệt đối, tránh xa mọi sự kích thích tinh thần, và kiêng cữ bất kỳ hình thức vận động thể lực mạnh nào,” Framton thông báo, mắc phải cái ảo tưởng khá phổ biến rằng những người hoàn toàn xa lạ và quen biết tình cờ lại rất tha thiết muốn nghe từng chi tiết nhỏ về các thứ bệnh tật và ốm đau của người khác, từ nguyên nhân cho đến cách chữa trị. “Còn về vấn đề ăn uống thì họ lại không mấy đồng quan điểm cho lắm,” anh nói tiếp.

“Thế à?” bà Sappleton thốt lên, với một giọng nói mà mãi đến sát nút mới kịp che đi một cái ngáp dài. Rồi bà chợt bừng tỉnh, chăm chú lắng nghe—nhưng không phải nghe những gì Framton đang nói.

“Họ về đến nơi rồi kìa!” bà kêu lên. “Vừa đúng giờ uống trà, và trông họ có vẻ bê bết bùn đất từ đầu đến chân kìa!”

Framton khẽ rùng mình và quay sang cô cháu gái với ánh mắt mang ý nghĩa thấu hiểu và đồng cảm. Đang ngây người nhìn ra khung cửa sổ mở với đôi mắt đờ đẫn vì kinh hãi. Trong một cơn chấn động lạnh toát vì nỗi sợ không tên, Framton quay phắt người trên ghế và nhìn về cùng một hướng.

Trong ánh chạng vạng đang buông xuống, ba bóng người đang bước qua bãi cỏ tiến về phía khung cửa sổ; tất cả bọn họ đều cắp súng dưới nách, và một người còn vác thêm chiếc áo khoác trắng vắt trên vai. Một chú chó Tây Ban Nha lông nâu mệt mỏi lẽo đẽo sát gót chân họ. Họ lặng lẽ tiến đến gần ngôi nhà, rồi một giọng thiếu niên khàn khàn cất lên từ màn đêm chập choạng: “Tôi bảo này, Bertie, sao anh cứ nhảy cẫng lên thế?”

Framton cuống cuồng vơ lấy gậy và mũ; cửa chính, lối đi rải sỏi, và chiếc cổng trước chỉ là những chập chờn lướt qua trong cuộc tháo chạy bán sống bán chết của anh. Một người đi xe đạp dọc theo con đường đã phải lao thẳng vào hàng rào để tránh một vụ va chạm nhãn tiền.

“Chúng tôi về đây, mình ơi,” người đàn ông mang áo mưa trắng vừa bước vào qua cửa sổ vừa nói; “bết bát bùn đất cả đấy, nhưng phần lớn đã khô rồi. Ai mà vừa chạy thốc tháo ra ngoài lúc chúng ta đến thế nhỉ?”

“Một người vô cùng kỳ quặc, ông Nuttel,” bà Sappleton nói; “chỉ biết nói về bệnh tật của mình, rồi chuồn mất tăm không một lời tạm biệt hay xin lỗi khi các anh vừa về đến nơi. Cứ làm như thể ông ta vừa nhìn thấy ma không bằng.”

“Em đoán chắc là do con chó Tây Ban Nha,” cô cháu gái điềm tĩnh đáp; “ông ấy kể với em là ông ấy rất sợ chó. Hôn trước ông ấy từng bị một bầy chó hoang đuổi chạy thối thây vào tận một nghĩa trang nào đó bên bờ sông Hằng, và phải trải qua cả đêm trong một ngôi mộ mới đào với lũ quái vật gầm gừ, nhe răng cười và sùi bọt mép ngay trên đầu. Đủ để khiến bất cứ ai cũng phải hoảng loạn thần kinh.”

Bịa chuyện thêu dệt trong chớp mắt chính là sở trường của cô bé.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Saki

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.