Tuyển Tập Truyện Ngắn George Meredith

Lượt đọc: 553 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Nàng Tiên Nước

❊ ❊ ❊

“Hỡi loài chim của tình yêu! Tiếng lòng của những khát khao ái tình! Họa mi ngọt ngào, sâu lắng, mang âm hưởng của định mệnh!” lão thi nhân hát; “hỡi ai chưa từng yêu, khi nghe tiếng ngươi liền được chạm vào chiếc đũa thần của những bí ẩn tình yêu, và khao khát một bóng hình vô danh, cảm thấy nhỏ bé trước trái tim quá đỗi trọn vẹn; nhưng ai đang lắng nghe mà lòng đã đắm say, thì nghe được ngôn ngữ mình hằng muốn nói nhưng lại chẳng thành lời; cảm thấy biển khơi mênh mông không bờ bến của những ham muốn vô tận trong lòng đang trào dâng vượt qua lồng ngực nhỏ hẹp; tựa như kẻ bị tước mất đôi cánh mà các thiên thần đang vẫy gọi về chòm ổ bạc của họ: và người ấy rướn mình bay lên, nhưng lại bị giễu cợt bởi nỗ lực ấy: thế rồi kẻ ấy thuộc về những kẻ đọa đày, và cứ muốn ở lại nơi đọa đày, nếu không có những giọt nước mắt làm lòng nhẹ nhõm, và xuyên qua làn nước mắt ấy tuôn xuống những tia sáng đính ngọc từ bầu trời, những chiếc thang quý giá khảm thạch anh tím, ngọc bích, cẩm thạch pha lẫn, ngọc berin, hồng ngọc, tầng ải thiên đàng bừng sáng với ánh hồng dịu nhẹ của Sự Hiện Diện không thể chịu đựng nổi: và kìa, những chiếc thang nhảy múa, run rẩy, chực chờ ve vẩy đôi mi mắt, và thêm một lần nữa, kẻ mang khát vọng bị giễu cợt; và sau cơn ngất thứ ba, Hi vọng đứng trước mặt với hai tay khoanh lại, đôi mắt khô cạn những ảo tưởng của lệ sầu, và cất lời rằng: Ngươi đã thấy! ngươi đã cảm! sức mạnh của ngươi đã vươn tới chốn ấy! giờ đây ta sẽ chẳng bao giờ chết trong ngươi!”

“Bởi vì chắc chắn rằng,” vị thi nhân nói, “Hi vọng không sinh ra từ mặt đất, nếu không nó đã tàn lụi. Hãy xem nó là con cái của cái ôm siết mà tình yêu mãnh liệt dành cho bầu trời. Chúng ta nợ điều này ở khúc ca của ngươi, hỡi loài chim trong ngày cưới! Và sự khác biệt giữa linh hồn cõi trời này với ảo ảnh hời hợt mà ai rồi cũng sẽ sớm muộn bị bỏ rơi, chính là sự khác biệt giữa ban ngày tô vẽ với những chiếc bẫy tham vọng nghèo nàn, và màn đêm giương hàng vạn ngọn nến quanh ngai vàng của đấng hằng hữu, những vì sao tiên tri của thời gian vĩnh cửu! Và bên này thì diệt vong, bên kia thì sống mãi; bên này chẳng ai tiếc nuối, còn bên kia bước đi trong tấm áo dệt bằng nỗi sầu muộn thiêng liêng; tai ngập tràn tiếng sóng bạc đầu vỗ về bờ bến đổi thay; trong mắt là một hình bóng đẹp đẽ mờ ảo lững lờ trôi, mà nàng sẽ chẳng thể vươn tới bên kia dòng nước, nhưng cứ hoài ôm ấp mãi khôn nguôi.”

“Thế nên, hãy giữ lấy bốn nốt dài trân quý ấy, tựa như lằn ranh nơi niềm hân hoan và nỗi đớn đau hòa quyện, gặp gỡ và vút cao thành một nỗi ngất ngây duy nhất, hỡi loài chim ranh giới của sự chết! Hãy lấp đầy những khu rừng bằng tiếng khúc khích và tiếng nức nở đầy đam mê, hỡi vị tuyên úy ngọt ngào trong lễ cưới của linh hồn với thiên nhiên! Hãy trút dòng rượu thánh ca của ngươi xuống bóng đêm mềm mại, để rồi, như một tu sĩ trong gian đền sâu thẳm, màn đêm say đắm trong những trí tuệ tuyệt vời!”

Đó là lời của những lão thi nhân và các nghệ sĩ hát rong thời xưa.

Những con chim họa mi cất tiếng hót vang dội và đầy đặn vào đêm Farina canh gác bên tòa lâu đài tội ác đang giam cầm người yêu sống dở chết dở của chàng. Lâu đài trông tựa như một vùng bóng tối đặc quánh giữa những bóng râm do đá và cây in xuống dưới ánh trăng. Thảm cỏ trải dài như một sân rạp xanh mướt dưới chân lâu đài. Đó là lớp cỏ ngọc lục bảo tươi tốt và sâu thẳm, hòa quyện dịu dàng với sắc xám dưới ánh trăng, trông tựa như đá cẩm thạch. Nơi bóng râm tụ đặc nhất, vẫn bàng bạc một làn sương sắc màu. Xảy quanh đó là một con suạch róc rách trò chuyện một mình. Những đóa hoa nghệ mùa xuân vươn đầu dậy giữa thảm cỏ ẩm ướt ở giữa đồng cỏ, hân hoan trong làn gió tươi mới. Những đỉnh núi gồ ghề dường như ôm trọn chốn vô tội này như báu vật vườn tỏi duy nhất của chúng; và một hàng dẻ gai đã che khuất nơi đây khỏi lâu đài bằng vòng tay của kẻ si tình.

“Trăng sẽ chỉ đường cho ta,” Farina trầm ngâm suy nghĩ; “trăng sẽ ra hiệu cho ta biết giờ khắc! Khi vầng trăng treo lơ lửng trên tòa tháp tròn, ta sẽ biết đã đến lúc ra tay.”

Tiếng hót của những chú họa mi là một nhịp đập đầy đặn không ngớt.

Nó vang lên tựa như tiếng kêu thiết tha của một trái tim từ cành này sang cành khác. Bốn nốt dài, và nốt thứ năm ngắn ngủi dẫn đến đợt cao trào hối hả của âm khúc, róc rách đầy đam mê, cất lên liên hồi và dày đặc từ bên dưới những chiếc lá rung rinh.

Ban đầu Farina dường như điếc đặc trước tiếng chim ấy. Trái tim chàng đang ngự trị trong ngục tối cùng Margarita, hoặc bận tâm đến những hiểm nguy của Goshawk, vạch ra muôn vàn kế hoạch liều lĩnh giữa những lưỡi cày nung đỏ của hành động tuyệt vọng. Cuối cùng, dẫu chẳng hề có cảm giác đang được mời gọi, chàng vẫn bị chinh phục. Sự dịu dàng của tình yêu khi ấy đã chế ngự tâm can chàng.

“Chúa sẽ không để chiếc đầu xinh đẹp ấy phải chịu tổn hại!” chàng nghĩ, và theo sau suy nghĩ ấy, một gánh nặng trút khỏi lồng ngực chàng.

Chàng sải bước trên đồng cỏ, vỗ về ba con tuấn mã đang gặm cỏ. Bất giác, ánh mắt chàng dán chặt vào vầng trăng. Trăng di chuyển mới chậm làm sao. Trăng dường như chẳng hề dịch chuyển. Một cánh mây nhỏ bay về phía trăng; nó ngả trắng, trôi qua, và vầng trăng còn đi chậm hơn lúc trước. Ôi! Phải chăng các tầng trời đang trì hoãn bước hành trình của mình để chứng kiến điều bất công này? Hết lần này đến lần khác, chàng thầm kêu lên: “Kiên nhẫn nào, chưa đến lúc đâu!” Chàng ngã mình xuống thảm cỏ. Giây lát sau, chàng trèo lên các mỏm đá, đăm đăm nhìn khối bóng tối sừng sững trước bầu trời. Nó dựng lên một cái đầu mang giáp đầy vẻ đe dọa, khiến tim chàng thắt lại vì run rẩy, tựa như vừa hứng trọn một đòn chí mạng. Phía sau là rải rác vài vì sao nhấp nháy mờ ảo trên cánh đồng ngọc bích, và một vệt sáng vàng rọi qua ô trống trên bức tường.

Chàng tụt xuống. Goshawk đang làm gì nhỉ? Phải chăng y đã bị phản bội? Chắc chắn bây giờ đã đến lúc rồi chứ? Chưa; vầng trăng vẫn chưa chiếu rọi lên mặt tiền lâu đài. Chàng lách mình qua hàng dẻ gai giữa bầy bướm đêm chập chờn, rồi ngước nhìn để ước lượng khoảng cách của vầng trăng. Vừa lúc ấy, tia sáng bạc đầu tiên rơi xuống lớp đá flint bạc phếch.

“Ôi, chú chim non của thiên đường trong móng vuốt của quỷ dữ ấy!”

Những âm thanh tựa như tiếng sủa của bầy chó săn heo rừng làm chàng giật mình hoảng hốt. Chúng rên rỉ rồi chìm vào yên lặng.

Chàng lùi lại. Đồng cỏ thở ra sự bình yên, và tiếng chim họa mi càng lúc càng ngân vang dội. Tựa như bị cầm tù trong vòng tròn ma thuật của khúc ca rung động, chàng chìm đắm trong cơn uể oải. Con suối uốn lượn bên cạnh tươi mát như một đứa trẻ, đùa giỡn với ánh trăng. Chàng cúi người bên dòng nước, ba lần thả tay nghịch ngợm dòng nước trong vắt lạnh ngát.

Phải chăng đó là gương mặt của chính mình phản chiếu dưới kia?

Farina cúi sát xuống một vùng nước xoáy. Dòng nước cuồn cuộn với một sự xáo trộn kỳ lạ, phá vỡ thành những đường nét và tia sáng để hiện lên một gương mặt chẳng phải của chàng, cũng chẳng phải của vầng trăng; và đó cũng chẳng phải là một hình ảnh phản chiếu. Sự xáo trộn mỗi lúc một tăng. Giờ đây, một vành hoa bọt nước bao quanh vũng nước, và một đóa hoa súng tinh khiết, nhưng lớn hơn, đang trồi lên bồng bềnh.

Chàng giật mình tránh sang một bên; và ngay dưới chân chàng, một cái đầu rạng ngời, được vòng hoa hồng đính ngọc kết quanh, hiện ra. Farina chưa từng thấy dung nhan người phụ nữ nào xinh đẹp hơn thế. Gương mặt nàng mang sắc trắng ngà rực rỡ của ánh trăng, và toàn thân nàng uyển chuyển trong bộ xiêm y trắng bạc lấp lánh, đẹp đến ngỡ ngàng. Nàng Tiên Nước mỉm cười với chàng, rạng rỡ với những gợn sóng và lúm đồng tiền mang vẻ đẹp trong vắt. Rồi, khi chàng lùi lại trên thảm cỏ, nàng bơi về phía chàng, nắm lấy tay chàng và áp vào người nàng. Sau cái chạm ấy, chàng trai không còn sợ hãi nữa. Nàng cong ngón tay, vẫy gọi chàng bước tiếp. Mọi cử chỉ của nàng đều uyển chuyển mượt mà. Chàng trai tựa như một cái bóng trên vệt sáng bạc của nàng khi nàng lướt qua những đóa hoa nghệ đang khép cánh như một làn sóng vô hại; thế nhưng những đóa hoa nghệ lại run rẩy, phồng những chiếc đài hoa sọc tím và bạc lên như đang nhấm nháp từng ngụm rượu hiếm hoi đầy mê hoặc. Hương thơm của hoa violet, hoa cúc dại và hoa linh lan thung lũng hòa quyện, rập rờn xung quanh nàng. Farina lúc ấy tựa như kẻ đang thực hiện hoài bão giữa ban ngày trong một giấc mơ. Chàng có thể nhìn thấy trái tim trong lồng ngực trong suốt của nàng, lơ lửng như một viên hồng ngọc xỉn màu lạnh lẽo. Bản tính trong sạch mách bảo chàng rằng sự hiện diện ấy đến đây chỉ để giúp đỡ. Biết đâu đó chính là vị tiên hộ mệnh của Margarita!

Họ bước qua hàng dẻ gai, vòng qua vách đá lâu đài được con suối vỗ về, và dưới ánh trăng đang dâng cao, đứng giữa vòng tròn ánh bạc sục sôi. Bằng đôi mắt nồng nhiệt, chàng trai nhận ra những vết tích phong hóa lâu năm và những vết sẹo của sự kháng cự bền bỉ đang dần ngả màu. Bí ẩn tội ác mà những ngọn tháp từng khoác lên trong hoàng hôn nay đã tan biến, và chàng không còn phải chịu đựng cảm giác nhỏ bé đến mức hổ thẹn từng khiến chàng nghĩ rằng chẳng còn cách nào khác ngoài cái chết, khi phải đơn thương độc mã chiến đấu chống lại một thế lực đồ sộ nhường ấy. Vầng trăng chiếu rọi đầy kiêu hãnh và điềm tĩnh, tựa như chiến tích của các hiệp sĩ đồng trinh; và giờ đây, vẻ cau có khắc nghiệt của những bức tường lại thắp lên lòng quyết tâm trong tâm hồn chàng, tiếp thêm cho chàng lòng căm hận và sự khinh miệt mà lòng dũng cảm thực sự cảm nhận được khi đối đầu với gian trá và ác độc.

Trên một phiến đá phiến đã ngả màu, được lót lớp rêu nâu dày dặn và những vết ố phong hóa rỉ sét, Nàng Tiên Nước ngồi xuống, đưa tay chỉ cho Farina con đường dẫn ánh trăng về phía tòa tháp tròn. Nàng không nói gì, và khi môi chàng hé mở, nàng liền đặt ngón tay lạnh giá lên miệng chàng. Sau đó, nàng cất tiếng ngân nga một điệu hát đơn điệu dịu ngọt, mơ hồ và phớt lờ, nghe vô cùng ma mị. Farina không bắt được lời nào, cũng chẳng rõ khúc ca ấy kể về những ngày tháng bụi trần hay hoa trái, nhưng tâm trí chàng bừng nở những huyền thoại và những câu chuyện bi tráng lộng lẫy, trong lúc nàng vẫn cất tiếng ca trên phiến đá dưới những tán lá lốm đốm bóng râm bên dòng nước.

Chàng đã lắng nghe trong trạng thái xuất thần suốt một hồi lâu, cho đến khi Nàng Tiên Nước im bặt, rồi giơ ngón trỏ thon thả chỉ về phía mặt trăng. Vầng trăng lúc này đứng sững như một dấu chấm ngay trên đỉnh tòa tháp tròn. Farina vội vã đứng dậy. Nàng không để chàng phải cất lời xin giúp đỡ, mà nắm lấy tay chàng dẫn lên con đường dốc đứng. Lên đến nửa đường hướng về lâu đài, nàng dừng chân. Ở đó, được che giấu bởi những khóm bụi gai, nàng hé lộ cánh cổng thấp của một lối đi bí mật và đẩy nó ra nhẹ nhàng không chút tốn sức. Nàng dừng lại ở lối vào, và chàng có thể thấy nàng đang run rẩy, dường như cao lớn dần lên cho đến khi trông giống như một đài phun nước lấp lánh trong ánh sáng lạnh lẽo. Rồi nàng sụp xuống, như một cánh hoa tàn úa, và co ro luồn vào lối đi.

Bóng tối đặc quánh hơi đất bủa vây các giác quan của chàng. Chàng cảm thấy những bức tường ẩm ướt cọ sát sạt bên mình. Chẳng có lấy một ngọn đèn mờ ảo hay âm thanh dẫn đường nào ở gần đó; thế nhưng nàng tiên vẫn tiến bước như thể đã quen thuộc đường đi nước bước. Vượt qua một căn phòng ngục mái vòm thấp, họ lần theo những bậc thang đục đẽo vào vách đá, rồi đi đến một cánh cửa tự động mở ra theo cái chạm của nàng, hé lộ một căn phòng mờ ảo sương khói bởi một vệt trăng đơn độc. Farina nhận ra họ đang ở phía trên phần móng của lâu đài. Những bức tường lấp lánh ánh thép hiệp sĩ, những chiếc áo giáp xích há hốc chờ đầu, những tấm giáp ngực bằng thép xanh, kích giáo và rìu chiến, giáp ống chân, gươm dài, giáo đâm lợn rừng và những chiếc cựa gắn gót giày bóng loáng. Chàng chộp lấy một thanh trường kiếm để tách riêng ra, nhưng nàng tiên đã giữ tay chàng lại và dẫn đến một bậc đá khác kết thúc ở một dạng hành lang. Những âm thanh cười đùa và tiệc tùng linh đình ập đến tai chàng ở điểm này. Nàng Tiên Nước nghiêng đầu, như thể nhận ra một giọng quen thuộc; rồi kéo chàng đến một ô cửa sổ nhỏ.

Farina chứng kiến một cảnh tượng thoạt đầu khiến chàng hoa mắt, nhưng khi hình hiện rõ dần, nó lại dìm chàng vào nỗi kinh hoàng. Bên dưới, ngang bằng với căn phòng chàng vừa rời đi, một phòng yến tiệc thô sơ đang rực sáng dưới ánh sáng của một tá ngọn đuốc lớn, bày la liệt thịt lợn rừng bốc khói, thịt hươu, những bình đá và cốc sừng. Ngồi ở vị trí chủ tọa của bàn tiệc này là Werner, đỏ bừng vì cuộc chè chén điên cuồng, và bên tay phải hắn là Margarita, tái ngợm như một vị thánh tử đạo xinh đẹp bị trói vào giàn hỏa thiêu. Những tên thuộc hạ của Werner chiếm trọn chiều dài sảnh đường, đồng thanh họa theo những lời của Bá tước và tự chúc rượu nhau khi chẳng có lý do gì để nâng ly. Farina chỉ nhìn thấy người yêu của mình đơn độc một mình. Nàng mặc bộ đồ giống như lúc chàng chia tay nàng lần cuối. Chiếc trâm cài áo thân thương nằm trước ngực nàng, nhưng chẳng còn phập phồng kiêu hãnh như trước đây. Đôi vai nàng trĩu xuống và thu hẹp bầu ngực trong nhịp thở. Nàng đáng lẽ đã có vẻ ngoài nhún nhường, nếu không vì ánh mắt lạnh lùng như đá cẩm thạch. Chúng bất động như ánh mắt của những kẻ nhìn thấy con đường dẫn đến cái chết xuyên qua mọi vật trần thế.

“Nào, lũ chó!” Bá tước gầm lên, “cạn ly vì đêm nay! Hãy căng lồng ngực lên, vì ta không muốn nghe tiếng mèo kêu nào khi bánh mì nướng của Werner là cô dâu đây đâu. Dù có hay không có sự cho phép của tu sĩ, ả vẫn là của ta. Phải, em yêu của ta! mọi chuyện sẽ được giải quyết ổn thỏa vào buổi sáng, ngay cả khi ta có dắt mũi tất cả lũ chuột Laach ở đây đến. Sấm sét! Không đời nào có chuyện bất kính với cô dâu của Werner từ Giáo hoàng hay viện phụ cả. Nào, cất tiếng hát lên!—hoặc khoan đã! lũ này phải uống trước đã.”

Hắn vươn người ném một vại rượu sang hai bên trái phải phía sau mình, và sự tuyệt vọng của Farina làm tê cứng chân tay chàng khi nhận ra Goshawk và Schwartz Thier đang bị trói chặt xuống sàn nhà. Bộ râu của họ đã ướt đẫm những giọt rượu cúng tương tự trước đó, và họ đón nhận việc này trong sự im lặng lầm lì; nhưng Farina dường như quan sát thấy một cái nhìn khích lệ nhanh chóng lóe lên từ dưới đôi chân mày cụp xuống của Goshawk, khi Margarita khoảnh khắc quay đầu nửa vòng về phía y.

“Liếm mép đi, hỡi lũ thú vật, và đừng nói rằng Werner keo kiệt không đãi lũ sâu bọ tiệc tùng thịnh soạn trong đêm động phòng của hắn nhé. Giờ thì,” Bá tước tiếp tục, giọng hắn càng lúc càng khàn đợt khi gã nói to hơn: “Ngắn gọn và vang dội vào, lũ con hoang của ta:—Werner và Cô Dâu của hắn! và mong rằng ả sẽ sớm sinh cho các ngươi một tiểu bá tước để quản lý các ngươi tốt hơn ta, vì nếu ả làm tròn bổn phận của mình, ả sẽ làm vậy.”

Bá tước đứng phắt dậy, giơ cánh tay hộ pháp lên để dẫn dắt lời chúc.

“Werner và Cô Dâu của hắn!”

Không có một giọng nói nào hưởng ứng theo sau. Có một tín hiệu bất thành văn rằng lời kêu gọi được lặp lại; nhưng nó đứt quãng, và kết thúc trong những tiếng bước chân xào xạc, tựa như cánh cửa sảnh đã khép lại trước lời đáp.

“Cái quái gì thế này?” Bá tước gầm lên, bằng thứ giọng dã thú bị nhốt trong lồng mà Margarita nhớ rằng mình từng nghe thấy ở Quảng trường Nhà thờ.

Không một ai đáp lời.

“Nói mau! Hoặc ta sẽ làm cho các ngươi thối rữa dưới lớp đá sâu một trượng, lũ khốn kiếp!”

“Herr Baron!” Henker Rothhals lên tiếng đầy vẻ ấn tượng; “vấn đề là có điều gì đó không sạch sẽ đang tồn tại giữa chúng ta.”

Chiếc cúp của Bá tước bay thẳng vào đầu hắn trước khi lời dứt hẳn.

“Ta sẽ biến kẻ nào dám nói câu đó thành một thứ không sạch sẽ,” và Werner trừng mắt nhìn từng người một.

“Vậy thì tôi nói đấy, Herr Baron!” Henker Rothhals tiếp lời, vừa lau mặt: “Quỷ dữ cuối cùng đã quay lưng lại với ngài rồi. Hãy nhìn lên kia—À, nó biến mất rồi đấy; nhưng có gã nào ngồi phía này mà lại không thấy cơ chứ?”

Bá tước tung người một cú nhảy, đứng thẳng lên bàn tiệc.

“Nào! Còn tên khốn nào ở đây muốn nói thế nữa không?”

Một điều gì đó trong nét mặt đe dọa tàn nhẫn của hàm hắn đã khiến nhiều kẻ đang định xác nhận câu nói phải im bặt.

“Bước ra đây, Henker Rothhals!”

Rothhals lén rút một con dao săn lên cổ tay, và lùi lại khỏi bàn.

“Đồ súc sinh!” Bá tước gầm lên, “ta đã nói là ta không muốn đổ máu đêm nay. Ta đã tha mạng cho một kẻ phản bội, và một kẻ thù——”

“Hãy nhìn lại lần nữa đi!” Rothhals nói; “có tên nào dám bảo là không thấy gì ở đó không.”

Trong lúc mọi cái đầu, kể cả của Werner, đều hướng về ô cửa sổ đang quan sát họ, Rothhals liền tung con dao của mình về phía Goshawk một cách kín đáo.

Lần này những câu trả lời đã đáp lại lời thách thức của hắn, nhưng không phải là sự xác nhận. Bá tước cất giọng dịu dàng nhưng đứt quãng.

“Vậy là chúng mày dám đùa cợt với ta ư? Ta rất nguy hiểm với trò chơi đó đấy. Còn nhớ Blass-Gesell chứ? Ta đã biến hắn thành một con thú tốt hơn bằng cách tống hắn đi ba phần tư quãng đường xuống địa ngục để xét xử.” Vừa gầm lên, “Nhận lấy này!” hắn phóng một lưỡi dao bản rộng, vốn được giấu trong tay phải từ nãy đến giờ, thẳng vào Rothhals. Nó cắm phập vào má và hàm của hắn, bóp nghẹt một tiếng thở đau đớn khủng khiếp khi hắn ngã nhào vào vách tường.

“Đấy là bài học cho tụi mày vì dám chống lại ta, mấy đứa trẻ ạ!” Werner nói, sải đôi chân ngắn cũn đi lên đi xuống chiếc bàn đang gầm rít, vươn ngực và bụng phì nhiêu to lớn. “Cứ để hắn nằm đó một lúc, để thấy hậu quả của việc chống đối Werner!—Lũ quỷ lửa! Lại còn trước mặt phu nhân nữa chứ!—Có điều gì không sạch sẽ ở đó á? Ta nghĩ có điều không sạch sẽ trong hàm của hắn đấy chứ!—Cứ để nó cắm ở đó đi! Cuối cùng thì hắn cũng chống lại thịt thà cơ đấy? Ta sẽ dạy cho chúng mày biết hắn đang đứng về phía ai!—Ai vừa nói đấy?”

Tất cả đều chìm trong im lặng. Những gã này chỉ là loài vật bị thống trị bởi một con dã thú hùng mạnh hơn.

Hắn ôm lấy cổ họng, và làm rung chuyển bàn tiệc bằng một cú nhảy, khi hắn rít lên thay vì gọi lần thứ hai: “Ai vừa nói thế?”

Hắn không phải hỏi lại lần nữa. Giữa khoảng lặng ấy, khi Bá tước đang trừng trừng tìm kiếm nạn nhân, một khúc ca cất lên nhẹ nhàng đến mức tưởng như ở tận chốn xa xôi, nhưng từng âm tiết lại tròn trịa rõ mồn một, vang vọng vào tai hắn và đóng băng hắn trong tư thế giận dữ.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.