Tuyển Tập Truyện Ngắn George Meredith

Lượt đọc: 438 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10

❊ ❊ ❊

Vào lúc nửa đêm, bữa tiệc lớn mừng sự hòa giải giữa ngài Beamish và Nữ công tước Susan kết thúc, và dưới bầu trời dịu dàng trong trẻo, các quý cô với những lời thì thầm cảm tạ ngọt ngào vì cuộc vui đã quàng tay ôm lấy Chloe và hôn cô, khiến các hiệp sĩ của họ đương nhiên phải thốt lên rằng Chloe thật diễm phúc hơn người phàm. Nữ công tước thích được đi bộ hơn. Tinh thần bà đang phấn khích, giọng điệu phảng phất vẻ bình dân, nhưng vẻ đẹp thể xác lộng lẫy của người phụ nữ ấy đang bừng sáng, và vừa kêu lên: “Ta tuyên bố ta sẽ phát nổ trong mấy cái lô ghế ấy mất—cứ như thể các người nhốt tù ta vậy!”, bà vừa quạt mát khuôn mặt, kiêu sa xòe rộng những lớp váy phồng, được tháp tùng bởi Đại tá Poltermore đang thất trận và chịu xiềng xích, một quý ông rõ ràng có ý định luồn lọt những lời nói bóng gió để làm mồi châm ngòi ở chỗ này chỗ khác. “Thế ư?” người ta nghe thấy bà nói. Bà thở dài những tiếng sâu thẳm đầy vẻ lẳng lơ của một mụ đàn bà đang tập gầm rú.

Chợt giọng bà thốt lên: “Cứ như thể ta thèm làm ấy!” Những lời bộc lộ sinh động này về hành tung của Đại tá là món quà tinh thần cho nhóm người đi sau, gồm hai vị phu nhân rất cao quý, Caseldy, ngài Beamish, một vị huân tước, và Chloe.

“Anh đúng là đồ đàn ông! Ồ!” Nữ công tước thốt lên. “Tôi nghe thấy gì thế này? Tôi sẽ không nghe; tôi không thể, tôi không được phép, tôi không nên nghe.”

Bà nói vậy, nhưng đầu lại ngả nghiêng, ghé cái tai đầy vẻ thẹn thùng miễn cưỡng vào ông ta, hoàn toàn đắm chìm vào những lời thì thầm quyến rũ, và vị huân tước bật lên một tràng cười vang. Đó là một bữa tiệc đẫm rượu và những khúc ca cất lên từ hơi men. Tự nhiên đã được những nhà tự nhiên học nửa đêm của chúng ta châm chước cho.

Hai vị phu nhân cao quý, bị nhắc nhở bởi tiếng cười quá đỗi sảng khoái của nhà quý tộc, bèn ngỏ ý mời ngài Beamish đi cùng khi họ chia tay Chloe và Nữ công tước Susan.

Trong lúc lộn xộn chớp nhoáng khi các cặp đôi chào tạm biệt giữa đám đông, nữ công tước thì thầm với Caseldy:

“Ta làm thế có tốt không?”

Hắn ca ngợi diễn xuất hoàn hảo của bà. “Hãy nhớ, ba giờ tôi có mặt ở cửa nhà cô.”

“Tim tôi đập lên tận cổ rồi,” bà nói.

Đại tá Poltermore vẫn giành được vinh dự hộ tống bà đi thêm vài bước về nhà trọ.

Caseldy đi bên cạnh Chloe, lặng thầm, cho đến khi hắn cất lời: “Nếu tôi chưa nhắc đến chuyện đó—”

“Nếu đó là một ẩn ý về tiền bạc thì xin đừng để tôi phải nghe vào lúc đêm hôm thế này,” cô đáp.

“Tôi chỉ có thể nói rằng các luật sư của tôi đã nhận được chỉ thị. Nhưng các luật sư của tôi không thể trả ơn cô bằng lòng biết ơn được. Đừng nghĩ rằng trong cái nhìn khắc nghiệt nhất về những lỗi lầm của tôi, tôi là kẻ vô ơn. Tôi vẫn luôn trân trọng cô hơn tất cả phụ nữ; tôi vẫn thế, và tôi sẽ mãi như vậy; cô quá cao quý so với tôi. Tôi e rằng mình được nhào nặn từ thứ chất liệu tồi tệ; tôi chẳng lấy gì làm tốt đẹp cho lắm ở Lục địa; tôi bắt đầu hiểu rõ bản thân mình, và so với cô, Catherine thân mến——”

“Anh đang nói chuyện với Chloe đấy,” cô đáp. “Catherine là một người đã khuất. Cô ấy ra đi không một nỗi đau. Giờ này cô ấy chỉ là cát bụi.”

Gã đàn ông phồng ngực thở dài. “Phụ nữ chẳng thể hiểu nổi những cám dỗ của chúng tôi đâu.”

“Anh được tôi tha thứ cho mọi lỗi lầm, Caseldy. Hãy luôn nhớ điều đó.”

Hắn thở dài sâu thẳm. “Phải, em có trái tim của một tín đồ Thiên Chúa giáo.”

Cô đáp: “Tôi đã đi đến kết luận rằng nó là của một kẻ ngoại đạo.”

“Còn về phần tôi,” hắn tiếp lời, “tôi là một kẻ tin vào định mệnh. Suốt cuộc đời, tôi đã nhìn thấy số mệnh của mình. Chuyện gì phải đến sẽ đến; chúng ta chẳng thể làm gì khác.”

“Tôi từng nghe về một kẻ đã chết vì chứng bội thực mà chính hắn đã tiên lượng, thậm chí còn lớn tiếng tuyên bố, ngay khi đang chìm đắm trong miếng ngon thèm khát cuối cùng,” Chloe nói.

“Hắn bị xô đẩy bởi hoàn cảnh.”

“Từ bên trong.”

Caseldy đành ngậm ngùi đồng tình; tâm trí hắn đang mụ mị, và ngay cả một ví dụ thô tục, kỳ quái hơn nữa cũng vẫn sẽ nhận được từ hắn một cái gật đầu nghiêm nghị cùng tiếng thở dài. “Đúng vậy, chúng ta bị giật dây bởi những bàn tay khác!”

“Thật tuyệt khi nghĩ như vậy: và hãy nghĩ thế về tôi vào ngày mai. Anh sẽ làm chứ?” Chloe nói.

Hắn hứa chắc nịch để dụ cô cũng nghĩ về mình như thế.

Cuộc chia tay của họ chẳng có gì đáng chú ý. Những thủ tục lịch sự được thực hiện trước cửa, và hai người đàn ông ra về.

“Trời vẫn còn tối mịt,” Nữ công tước Susan nói khi ngước nhìn lên bầu trời, rồi bà chạy lên lầu, ngã người xuống chiếc ghế ở tiền sảnh phòng ngủ—nơi Chloe ngủ—và than thở về đôi chân yếu ớt của mình. Sau đó, cô hỏi bây giờ là mấy giờ đêm. Bà không sao nén nổi tiếng thầm thì “Ôi!” với lồng ngực phập phồng nặng nhọc qua từng phút. Bet chốc, bà sải bước thật nhanh về phòng riêng, miệng lẩm bẩm rằng chắc là cơn buồn ngủ đang hành hạ mình.

Phòng ngủ của bà có một cánh cửa thông sang phòng khách, và từ đó, cũng như từ phòng của Chloe, có thể ra tới chiếu nghỉ trên cầu thang, bởi căn phòng nằm song song với cả hai phòng ngủ. Bà đi đi lại lại trong đó và đẩy tung cửa sổ ra, nhưng rồi lại đóng lại ngay lập tức; mở rồi lại khép cửa phòng, rồi quay lại gọi Chloe. Bà muốn có người đọc sách cho nghe. Chloe kể tên một vài cuốn sách tĩnh tâm. Nữ công tước chọn một cuốn sách giảng đạo. “Nhưng tất cả chúng ta đều là những tội nhân khốn nạn thế này, tốt hơn hết là đừng tự chuốc phiền muộn vào lúc nửa đêm.” Bà gạt bỏ gợi ý đó. Chloe đề xuất những cuốn sách thơ ca. “Chỉ là tôi chẳng hiểu gì sáu ngoại trừ mấy con chim chiền chiện, hoa cúc dại, và những cánh đồng cỏ khô, và điều đó chẳng mang lại chút an ủi nào cho một người phụ nữ đang bứt rứt cả,” câu trả lời là vậy.

“Ngài bị sốt ư, thưa phu nhân?” Chloe hỏi. Và nữ công tước đáp lại cộc lốc: “Đúng vậy, thưa cô, tôi bị sốt.”

Bà tự trách mình và đổi giọng: “Không, Chloe, không phải sốt, chỉ là cái không khí ở đây của cô đúng là thứ không khí kích thích thật đấy, như lời bác sĩ nói; và họ bắt tôi uống rượu, rồi tôi còn chơi đàn trước bữa tối—Ôi! Tiền của tôi; tôi từng nói rằng mình có thể kiếm thêm, nhưng giờ thì!” bà thở dài—“nhưng trên đời này còn nhiều thứ tốt đẹp hơn tiền bạc. Cô biết điều đó mà, phải không cục cưng? Hãy nói cho tôi nghe đi. Và tôi muốn cô được hạnh phúc; cô sẽ tìm thấy điều đó thôi. Tôi thực sự ước tất cả chúng ta đều được hạnh phúc!” Bà khóc, và nói rằng mình cần một chút âm nhạc để tâm hồn tĩnh lại.

Chloe với lấy cây đàn ghi-ta. Nữ công tước lắng nghe vài nốt nhạc, rồi kêu lên rằng nó cứa vào tim và làm tổn thương bà. “Mọi thứ chúng ta vô cùng yêu thích đều có hàng rào và biển cấm người lạ lai vãng, bởi vì trên đời này có quá nhiều kẻ chen chúc,” bà rên rỉ. “Đừng chơi nữa, đặt cái thứ đó xuống đi, làm ơn đi cô bé. Cô là sinh vật thông minh nhất mà bất cứ ai từng gặp; ai cũng nói thế. Ước gì tôi——Phụ nữ đẹp thì vây bắt đàn ông, còn phụ nữ thông minh thì giữ chân họ: tôi từng nghe người ta nói thế ở cái xó xỉnh khốn kiếp này, và đó quả là một viễn cảnh tươi sáng cho tôi, kẻ sống cạnh một đứa ngốc! Tôi biết mình là thế.”

“Công tước rất tôn sùng ngài, thưa phu nhân.”

“Tội nghiệp công tước! Cứ để mặc ngài ấy đi—ngủ trông thật thảm hại với cái miệng há hốc ra thế kia, và cái cằm trẻ con ấy, trông cứ như đang mơ về một cái còi bằng kẹo ấy. Lẽ ra ngài ấy không nên để tôi đến đây. Thôi hãy nói về ngar Beamish đi. Hắn sẽ nhớ cô biết bao, Chloe!”

“Hắn sẽ nhớ,” Chloe buồn bã nói.

“Nếu cô rời đi, em yêu.”

“Tôi sắp đi rồi.”

“Sao cô lại phải rời bỏ anh ta chứ, Chloe?”

“Tôi buộc phải thế.”

“Và kìa, nghĩ đến điều đó thôi cũng đủ làm cô đau khổ rồi!”

“Đúng vậy.”

“Cô không cần phải đi đâu, tôi chắc chắn thế.”

Chloe nhìn bà.

Nữ công tước quay đầu đi. “Sao cô không thể vui vẻ như lúc ở bàn tiệc nhỉ, Chloe? Cô hướng về anh ta rạng rỡ như một đóa hoa khi mặt trời nhô lên khỏi ngọn đồi; cô tung tăng như chim chiền chiện giữa sương sớm; hệt như tôi thuở nào khi chẳng mảy may lo nghĩ điều gì. Ồ, buổi sáng sớm tinh mơ; thế mà tôi lại buồn ngủ thế này. Tôi thấy mình thật tệ hại, với sự xa hoa này, trong khi chỉ một hai tiếng nữa là lũ chim hót vang, còn tôi thì rã rời sắp gục đến nơi. Tôi phải đi thay đồ đây.”

Bà lao đến chỗ Chloe, hôn vội vã, tuyên bố rằng mình mệt rã rời rồi đuổi cô đi. “Tôi không cần giúp đâu, tôi tự thay đồ được. Chẳng lẽ Susan Barley lại không tự làm nổi việc đó sao! Và cô cứ đóng cửa phòng mình đi, tối nay tôi sẽ chẳng thấy sợ hãi gì nữa đâu, tôi mệt mỏi lắm rồi.”

“Thêm một nụ hôn nữa nhé,” Chloe trìu mến nói.

“Được, nhận đi”—nữ công tước ghé má—“nhưng tôi mệt quá chẳng biết mình đang làm gì nữa.”

“Nó sẽ không đè nặng lên lương tâm ngài đâu,” Chloe đáp và trao bà một nụ hôn nồng ấm.

Mang theo những lời đó, cô lùi lại và nữ công tước đóng sập cửa phòng. Bà gạt chốt khóa lại ngay tức khắc.

“Tôi quá mệt mỏi để biết mình đang làm gì rồi,” bà tự nhủ, đứng chết trân với đôi mắt nhắm nghiền để ôm ấp những ý nghĩ khiến lồng ngực phập phồng.

Chiếc giường ở đó, chiếc đồng hồ ở kia. Bà có lựa chọn là ngả mình xuống và êm đềm trôi vào ngày mới, mọi hiểm nguy đã lùi xa. Trông thật ngọt ngào làm sao dẫu chỉ trong một phút giây. Nhưng chẳng mấy chốc nó lại hiện lên như một cuộc đời cũ kỹ, mòn mỏi, tàn thu, lạnh lẽo, vô định, giống như một thứ vừa đói khát lại vừa rụng hết răng. Chiếc giường mời gọi giấc ngủ ngây thơ bỗng trở nên đáng ghét và đẩy bà về phía chiếc đồng hồ. Chiếc đồng hồ thật đáng sợ: cây kim giờ, ngón tay kim phút đang bám theo sau, ra lệnh cho bà phải hành động dứt khoát, và lại đẩy bà về những nỗi niềm suy tư êm dịu bên chiếc giường. Bà nằm xuống trong khi vẫn mặc nguyên quần áo, sau khi đặt ngọn đèn bên cạnh chiếc đồng hồ để có thể nhìn thấy nó bất cứ lúc nào, và tự cho rằng chiếc giường cần phải trông như thể đã có người nằm lên. Lại nghĩ rằng người ta phải nghe thấy tiếng mình đi lại sột soạt trong lúc cởi đồ, bà liền vùng dậy khỏi giường để chắc chắn rằng mình đọc đúng tiếng tích tắc tội lỗi của chiếc đồng hồ. Còn một tiếng hai mươi phút! Bà chẳng còn nhiều thời gian hơn thế; và khoảng thời gian đó không đủ cho những chuẩn bị lắt nhéo của bà, dù đúng là cô hầu phòng đã đóng gói và mang đi một chiếc rương đựng những thứ cần thiết nhất; nhưng nữ công tước vẫn phải thay giày, đổi áo, và chơi trò trốn tìm với những tâm tư thay đổi xoành xoạch của chính mình—một màn dạo đầu ru ngủ cho bất kỳ bước đi định mệnh nào ở những người phụ nữ có sắc tộc như bà, bởi họ cứ thế mời gọi sự do dự làm kiệt quệ những điều băn khoăn của mình, và để cho dòng máu tự tung tự tác. Có quá ít thời gian, bà tưởng rằng mọi chuyện đã được định đoạt, và với chút nhẹ nhõm, bà tuyệt vọng ngã oạch xuống giường, nằm dài ở đó suốt quãng đời còn lại cùng vị công tước của mình. Chỉ một lát sau, đầu óc bà lại bắt đầu phán xét ngài một cách nghiêm khắc, đánh giá ngài chẳng kém gì một nhà đạo đức học nam giới rộng lượng với phái đẹp. Bà vùng dậy khỏi giường, nhảy cót lên để trốn tránh vị lãnh chúa tưởng tượng trong đầu; và cứ như thể cảm thấy ngài đang ở đó thật, bà không nằm xuống nữa. Một cuộc đời bình lặng như thế đối với ý nguyện của bà còn tẻ nhạt hơn cả một cuốn sách dày được đóng bìa đẹp đẽ mà bên trong chẳng có lấy một chữ, cũng chẳng có tranh minh họa. Sự chiêm nghiệm của bà về nó, khi đặt lên bàn cân so sánh với cuộc đời đang vẫy gọi trước mắt qua chiếc đồng hồ, đã làm bùng lên cơn thịnh nộ trong toàn bộ cơ thể; bà khao khát được bay đi. Dù vậy, một cách đầy toan tính, bà đấm bùng chiếc gối lên và vứt chăn đệm lộn xộn để đánh lừa thiên hạ rằng chân tay bà đã làm ấm chúng, và mọi hành động của bà đều xuất phát từ sự bốc đồng. Sau đó, bà tiến hành cởi đồ, miệng lẩm bẩm rằng mình có thể dừng lại lúc này, và có thể dừng lại ngay bây giờ ở mỗi công đoạn thay đổi trang phục, đồng thời triết lý về số phận kỳ lạ của bản thân dưới lăng kính của một người quan sát. “Cô ta bất thình lình được phóng vút lên đầu thiên hạ, rồi cũng bất thình lình rơi tòm xuống.” Susan tự thì thầm: “Nhưng tất cả là vì tình yêu!” Bị ám ảnh bởi sắc hồng rực rỡ của tình yêu, bà hoàn tất công việc của mình với sự chu đáo cho mọi thứ cần thiết, tương đương với một tâm trạng hoàn toàn thanh thản. Sau đó chẳng còn việc gì để làm, ngoại trừ việc ngồi co ro trên ghế, che mặt lại và đếm tiếng tích tắc của đồng hồ—những tiếng nói rằng: Phải—không; làm—đừng; bay—ở lại; bay—bay đi! Bà có cảm giác như mình nghe thấy tiếng động. Chắc chắn là có rồi với cái lồng ngực đập thình thịch đáng sợ đó! Chloe đang ngủ, bình yên chìm vào giấc nồng vào lúc này, bà nghĩ thế; và bà ghen tị với Chloe biết bao! Bà cũng có thể hạnh phúc như thế, nếu bà muốn. Tại sao không? Nhưng đó là thứ hạnh phúc gì cơ chứ? Bà ví nó với cái xác chết chôn vùi dưới lòng đất, và rùng mình đầy ghê tởm.

Susan đứng trước gương để ngắm nhìn sinh vật đang gây ra toàn bộ rắc rối này, và bà vươn cao đôi tay để ngáp một cái thật dài, uể oải nhưng không kém phần kiều diễm, kết thúc trong tiếng rùng mình đầy hạnh phúc cùng cảm giác vòng tay của người tình đang luồn qua eo, ôm trọn lấy nàng khi nàng không có tấc sắt che thân. Vì chắc chắn họ sẽ làm thế. Bà lấy từ trong ví ra một chiếc nhẫn nạm ngọc—món quà của hắn—hôn lên nó, rồi trỏ vào rồi rút ra khỏi ngón tay, cuối cùng để nguyên nó ở đó. Giờ đây bà có thể đeo nó mà không sợ bị tra hỏi hay vấp phải những cặp mắt phán xét đầy đạo đức giả. Ôi thật thiên đường làm sao—giá như lúc này đã là một tiếng sau; và được ngồi sau những con ngựa đang phi nước đại!

Chiếc đồng hồ đã điểm khoảnh khắc khủng khiếp. Nội tâm bà do dự rồi lại giục giã; có lúc đôi chân chôn chặt xuống đất và bà kiên quyết thốt lên “Không”; nhưng chiếc đồng hồ chính là chúa tể của bà. Chiếc đồng hồ là người tình và là chúa tể của bà; và vâng lời nó, bà tìm cách bước vào phòng khách với cái cớ rằng mình chỉ muốn nhìn qua cửa sổ phía trước xem trời đã hừng sáng chưa.

Bà quá quen thuộc với thứ ánh sáng lờ mờ lúc thủy triều đêm rút đi ấy.

Thật kỳ lạ làm sao khi chứng kiến nó phơi bày những ngôi nhà đang lấy lại vẻ vững chãi ban ngày, thay vì những cánh đồng tĩnh lặng, những hàng rào đen thẫm, hay dáng hình quen thuộc của những tán cây. Những ngôi nhà chẳng có chút hơi thở tỉnh thức nào, chúng chỉ hiện ra là đang đứng đó, và ánh sáng chính là sự vạch trần của cõi hư vô. Trái tim Susan đầy ranh mãnh khi oán trách vị công tước của mình vì khung cảnh mà bà đang chứng kiến khác xa với chốn đồng quê cởi mở ngây thơ bình yên. Vâng, đó là ánh bình minh ở một nơi tội lỗi mà lẽ ra bà không bao giờ được phép đặt chân tới. Nhưng kẻ mà bà đang ngóng chờ đâu rồi? Kia rồi! Bóng dáng quấn áo choàng của một người đàn ông đang đứng ở góc phố. Chính là hắn. Trái tim bà lạnh băng; nhưng chân tay bà đã được dây cót sẵn sàng để rứt khỏi ngôi nhà, vươn tới bầu không khí tự do, hít thở, và (như suy nghĩ trong đầu bà) ngất đi một cách an toàn tuyệt đối. Trong cảm nhận của bà, ngôi nhà lúc này chẳng khác nào một tòa nhà đang bốc cháy, đang gào thét giục giã bà phải trốn chạy.

Thế nhưng bà vẫn bước đi thật thong thả để giữ vững bước chân trong căn phòng mờ tối; bà lần theo bức tường và tiến tới cửa ra vào, nơi một chiếc ghế đẩu suýt làm bà vấp ngã. Đến đây, xúc giác của bà trở nên mơ hồ, bởi dù biết mình phải đang ở sát cửa, bà lại vấp phải một vật cản không giống như gỗ, và cánh cửa có vẻ như không đóng mà cũng chẳng mở. Bà không thể tìm thấy tay nắm cửa; có cái gì đó đang rủ xuống che khuất nó. Khi suy nghĩ một cách bình tĩnh, bà thầm đoán thứ đó chắc là một chiếc áo choàng hoặc áo ngủ; nó rủ xuống khá nặng nề. Các đầu ngón tay bà nhận ra cảm giác mượt mà của lụa; bà phân biệt được một khối lượng đang treo lơ lửng, và bà dò dẫm nó thật cẩn thận, máy móc, tự nhủ thầm trong nỗi lo sợ làm sao để bước qua mà không gây ra tiếng động: “Lỡ mình làm tỉnh giấc tội nghiệp Chloe, trong số tất cả mọi người chứ lại!” Sự hoảng hốt của bà là sợ cánh cửa phát ra tiếng cót két. Trước khi bất kỳ nỗi sợ hãi nào khác kịp giáng xuống bộ não, bàn tay đang dò dẫm của bà bỗng đờ đẫn tê liệt, miệng há hốc, cổ họng nghẹn đắng, khối bụi bặm dâng lên trong cổ họng, và nỗ lực nuốt nó xuống để lấy lại hơi thở đã ngăn bà không phải suy diễn sâu cay trong lúc bà tiếp tục sờ soạng, cấu véo, giật giật vật ấy, sẵn sàng cười lên mà cũng sẵn sàng thét lên. Phía trên đầu bà, lệch về một bên, thứ đó có một phần chóp tròn trịa màu trắng. Liệu đó có phải là một bàn tay mà ngón tay bà vừa lướt qua? Cả một cánh tay nữa! đây chính là một cánh tay! Bà túm lấy nó, tưởng tượng rằng nó đang bám chặt lấy mình. Bà giật lấy nó để tự giải thoát, bà giật phăng một cách tuyệt vọng, và một khối nặng trịch sụp xuống, cùng lúc đó một luồng chớp nhoáng từ tất cả các dây thần kinh đang rách tơi tả trong cơ thể mách bảo bà rằng một xác người chết đang đè lên người bà.

Vào lúc bốn giờ kém mười lăm phút một buổi sáng giữa hè, như lời ngài Beamish thuật lại về phần cuối cùng của mình trong Câu chuyện về Chloe, giọng một người phụ nữ cất lên những tiếng kêu đau đớn xé lòng, hét liền ba tiếng thét vang dội, bị ông nghe thấy đúng khoảnh khắc bước ra khỏi bậc cửa nhà mình theo lệnh triệu tập của thanh niên trẻ tuổi Mr. Camwell—được gã gia bách của vị công tử ấy chuyển đến mười phút trước đó với vẻ đầy khẩn thiết. Khi đến con phố nơi Nữ công tước Susan ngụ cư, ông nhìn thấy rất nhiều cái đầu đội mũ trùm ban đêm nhô ra từ các cửa sổ, và duy chỉ có một cửa sổ của căn nhà nói trên là được đẩy lên nhưng không có ai đứng đó. Ấn tượng đầu tiên của ông quy trách nhiệm cho hai gã đàn ông mà ông nhìn thấy đang cầm gươm tuốt trần với thái độ chẳng mấy thân thiện, cho rằng đó là một vụ ẩu đả khó coi có lẽ đã làm hoảng sợ phu nhân công tước, hoặc nữ tùy tùng của bà, một người phụ nữ vốn có khả năng hét to, bởi ông đinh ninh rằng đó chắc chắn không phải Chloe, người ít có khả năng nhất phái nữ tự cho phép mình dùng đến vũ khí của họ dù trong hoảng sợ hay hiểm nguy. Hai kẻ đối địch đó là Mr. Camwell và Bá tước Caseldy. Khi ông đến gần, Mr. Camwell thu gươm vào vỏ, nói rằng công việc của anh ta đã hoàn tất. Caseldy tức giận đến mức cuồng nộ, khiến cho vai trò của một kẻ đứng giữa trở nên vô cùng nguy hiểm. Đã có những đường kiếm qua lại giữa họ, và Caseldy lớn tiếng thét lên rằng hắn muốn có máu của kẻ thù. Lính canh đêm thì chẳng thấy bóng dáng đâu. Tuy nhiên, chẳng mấy chốc, một số chủ tiệm và các cậu học việc đã phụ giúp ngài Beamish vãn hồi trật tự, bất chấp cơn thịnh nộ của Caseldy và những lời khiêu khích—“không dễ gì chịu đựng nổi,” theo lời người chép sử—do hắn ném về phía chàng thanh niên Camwell. Người sau nói với ngài Beamish rằng: “Tôi biết mình sẽ chẳng phải là đối thủ, thế nên tôi mới cho gọi anh,” khiến người bạn của anh ta không khỏi kinh ngạc, bởi anh vốn thừa hiểu lòng dũng cảm bẩm sinh của chàng trai trẻ.

Ngài Beamish chuẩn bị tung ra một bài thuyết giáo quở trách cả hai với mức độ như nhau, hoàn toàn không mảy may nghi ngờ bất kỳ lý do nào khác dẫn đến sự náo động này ngoài cuộc đối đầu hiển hiện của mối tình địch mà ông vốn thiên về suy đoán là do những sức hút của Chloe, thì cánh cửa lớn bỗng mở toang để họ bước vào, và bà chủ nhà với hai bàn tay đan chặt giơ cao hết cỡ liền khẩn khoản van xin họ hãy chạy lên lầu với tội nghiệp người phụ nữ: “Ôi, bà ấy chết rồi; chết rồi, chết hẳn rồi!”

Caseldy lướt qua mụ ta.

“Chết thế nào hả, mụ kia?” Ngài Beamish gặng hỏi với vẻ hoài nghi tột độ, miệng hơi mỉm cười.

Mụ ta vừa rên rỉ vừa đáp: “Chết vì thắt cổ; treo lủng lẳng ở cửa—Ôi!”

Chàng thanh niên Camwell lấy tay ôm trán, miệng cất lên danh tính Đấng Tối Cao. Khi họ lên đến chiếu nghỉ trên lầu, Caseldy bước ra từ phòng khách.

“Là ai?” Camwell cất lời nhìn theo sắc mặt của kẻ kia.

“Nàng chứ ai!” gã kia đáp.

“Nữ công tước ư?” Ngài Beamish kêu lên.

Nhưng Camwell cứ thế bước thẳng vào phòng. Anh chẳng còn gì để hỏi sau câu trả lời đó.

Cơ thể nằm duỗi dài trên sàn nhà được phủ một tấm vải trắng. Chàng thanh niên ngã sấp người dài thượt bên cạnh đó, khuôn mặt úp xuống.

Ngài Beamish thuật lại: “Cho đến tận ngày nay, khi tôi viết lại những dòng này cách quãng thời gian mười năm, cơn sốt bi kịch của giờ phút ấy vẫn chảy trong huyết quản tôi, và tôi lại nhìn thấy hình bóng được phủ khăn tang của người phụ nữ đáng kính nhất, người có trái tim tan nát vì một kẻ bội bạc trước khi đem phần đời tàn tạ còn lại hiến dâng để ngăn chặn một kẻ yếu đuối hơn mình trên con đường trượt dài xuống địa ngục. Ở đó, nàng đã được ban ơn để làm tròn sứ mệnh cứu rỗi mà nàng từng cầu xin qua cái chết của mình. Nàng đã chết để cứu người. Trong bức thư cuối cùng được tìm thấy trên chiếc gối cắm kim của nàng, được gửi cho tôi với dấu niêm phong bảo mật đối với những bên chính liên quan, nàng đã tiên đoán toàn bộ lời thú tội của vị nữ công tước bất hạnh. Hơn thế nữa, nàng còn tiên tri: “Nữ công tước sẽ nói thật với anh rằng bà ấy đã quá đủ với tình yêu rồi!” Những lời chính xác ấy đã được người phụ nữ tội nghiệp lặp đi lặp lại với tôi hằng ngày cho đến khi phu quân của nàng đến để dẫn đầu đoàn đưa tang, và phụ giúp việc vực dậy sức khỏe đã suy kiệt của vợ mình trở về trạng thái thích hợp cho việc di chuyển. Ít nhất là với tôi, nàng vẫn kiên định lặp lại rằng: “Không còn tình yêu nữa đâu!” Qua cách hành xử của nàng với vị công tước, tôi có thể đánh giá nàng là một người chân thành. Nàng từng nói về cảm giác đôi mắt của Chloe xuyên thấu qua mình trong từng lời nói mà nàng nhớ lại. Cái kết của Chloe cũng chẳng kém phần tác động mạnh mẽ lên kẻ phản bội. Hắn đã có mặt trong đoàn đưa tang đến nấm mồ của nàng. Hắn chẳng nói với ai lời nào. Có một câu thơ mang tựa đề “Lý do cái chết của tôi” cho thấy nàng đã rất lo lắng để đảm bảo sự an toàn cho Mr. Camwell:

Nàng sợ anh sẽ ở đâu đó trên đường đi để phá hỏng kế hoạch của những kẻ trốn chạy, và nàng thừa hiểu anh, cũng như chính anh hiểu bản thân mình, không phải là đối thủ của kẻ được huấn luyện các mánh lới đấu kiếm ngoại quốc, dẫu anh rất sẵn lòng tranh chấp con đường với kẻ phản bội. Nàng nhớ đến lời thỉnh cầu của Mr. Camwell về sợi dây lụa thắt nút trong yêu cầu của nàng rằng nó phải được cắt khỏi cổ và trao lại cho anh.”

Ngài Beamish còn thả hồn vào những vần thơ ngự trị trên nấm mồ của Chloe. Chúng mang một phong vị làm nguội lạnh cảm xúc. Nhưng khi chúng ta bắt gặp một con người—vốn thường là kẻ nhạy cảm nhất với sự chế giễu cũng như những gì phù hợp phép tắc—lại chẳng màng đến việc phơi bày bản thân, chúng ta có thể ngẫm lại sự chân thực của cảm xúc đã lôi kéo ông vượt qua cả sự phòng thủ để bước ra trong sự trần trụi; đâu đó tiếng nói của nhà thơ vẫn có thể phả vào chúng ta qua những lời lắp bắp phàm trần của ông, dẫu cho chúng ta phải thừa nhận rằng việc trích dẫn thơ văn chỉ càng làm tản mác nỗi niềm bi cảm.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.