Tuyển Tập Truyện Ngắn George Meredith

Lượt đọc: 579 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Về Tưởng Tượng Hài Kịch Và Công Dụng Của Tinh Thần Hài Hước

❊ ❊ ❊

Những vở hài kịch hay vốn hiếm hoi đến mức, dẫu nền văn học của chúng ta giàu có về yếu tố trào lộng, cũng chẳng tốn mấy thời gian để điểm qua toàn bộ danh sách bằng tiếng Anh. Nếu đem chúng ra thử thách theo tiêu chuẩn tôi đề ra, ta sẽ thấy nhiều vở hài kịch từng rất danh tiếng hóa ra lại chẳng xứng với vị thế của mình, chẳng khác nào các hiệp sĩ phu nhân trong Triều đình vua Arthur khi phải trải qua bài sát hạch thử thách chiếc áo choàng.

Có những lý do rõ ràng giải thích vì sao nhà thơ trào lộng không phải là một hiện tượng thường thấy, và vì sao bậc đại thi hào trào lộng ấy mãi mãi cô độc một mình. Cần phải có một cộng đồng những người đàn ông và đàn bà văn minh, nơi các tư tưởng được lưu thông và sự nhạy bén được mài giũa, thì ông mới có được chất liệu và khán giả để sáng tác. Bản chất nửa hoang sơ của những cộng đồng chỉ biết đến sự phù phiếm, hay những giai đoạn cảm xúc sục sôi, đều bài xích ông; tình trạng bất bình đẳng xã hội rõ rệt giữa hai giới cũng vậy; và một người có sứ mệnh đánh thức tâm trí sẽ chẳng thể được thấu hiểu ở nơi thiếu vắng một mức độ hoạt động trí tuệ vừa phải.

Hơn nữa, việc chạm đến và nung nấu tâm trí thông qua tiếng cười đòi hỏi nhiều hơn là sự nhanh trí, đó là một sự tinh tế vô cùng vi tế. Điều đó phải là một thứ quà tặng bẩm sinh ở nhà thơ trào lộng. Chất liệu mà ông xử lý sẽ phơi bày trước mắt ông một cách cục diện giật mình của đôi bàn tay người thợ nhuộm, nếu như ông không có được năng khiếu ấy. Con người luôn sẵn sàng đón nhận những cú vỗ vai, vỗ ngực và vỗ sườn đầy dí dỏm; ngoại trừ cái đầu: và đó chính là đích nhắm của ông. Ông phải thật sắc sảo để có thể thấu suốt. Một sự nhạy bén tương ứng cũng phải tồn tại để chào đón ông. Sự cần thiết của cả hai điều kiện này sẽ giải thích vì sao qua nhiều thế kỷ, chúng ta chỉ đếm được ông bằng con số ít ỏi.

“Thật là một sứ mệnh kỳ lạ khi phải làm cho những người tử tế phải bật cười,” Moliere đã nói như vậy; và khó khăn của công việc này là không thể phóng đại.

Rồi thêm vào đó, ông còn bị bao vây bởi những kẻ thù ở cả tả lẫn hữu, mang một bản chất mà nhà thơ bi kịch và trữ tình, hay thậm chí triết gia, chưa từng biết tới.

Trần gian này có những kẻ mà Rabelais gọi là agelasts; nghĩa là, những kẻ không bao giờ cười; những con người về phương diện đó chẳng khác nào thây ma, dẫu ngươi có chích vào họ cũng chẳng chảy máu. Hòn đá tảng xám xịt đã kết thúc cuộc hành trình từ vách núi xuống thung lũng, có khi còn dễ đẩy lăn ngược lên đỉnh hơn là làm cho những kẻ này cười. Chẳng có sự va đập hoàn cảnh nào trong cõi đời mortal này có thể đánh lửa cho họ sáng lên. Từ một kẻ không biết cười đến một kẻ căm ghét tiếng cười chỉ cách nhau có một bước chân, và lũ [văn bản Hy Lạp không thể tái tạo], những kẻ thù ghét tiếng cười, chẳng mấy chốc sẽ học cách tôn vinh sự chán ghét của mình thành một lập trường đạo đức.

Chúng ta lại có một tầng lớp người khác, những kẻ lấy làm thích thú khi tự coi mình là đối thủ của nhóm trước, mà ta có thể gọi là hypergelasts; những kẻ cười thái quá, cười suốt ngày, tựa như những chiếc lưỡi gà có thể bị rung lên bởi một cơn gió nhẹ hay một cái nhăn mặt; những kẻ lỏng lẻo đến mức chỉ một cái nháy mắt cũng đủ làm họ rung chuyển.

“... Chẳng đánh giá cao điều gì ngoài việc nghi ngờ tất cả mọi người,”

và cười cợt mọi thứ đồng nghĩa với việc hoàn toàn không có sự cảm thụ đối với Chất hài của Hài kịch.

Cả hai nhóm người rạch ròi này – gồm những kẻ không biết cười và những kẻ cười quá trớn – sẽ chẳng thể tìm thấy chút giải trí nào khi đọc tác phẩm *The Rape of the Lock* hay khi xem buổi biểu diễn *Le Tartuffe*. Xét trong mối liên hệ với sân khấu, họ đã mang hình hài và danh xưng của phái Thanh giáo (Puritan) và phái Cuồng hoan (Bacchanalian) trên đất nước chúng ta. Bởi vì dẫu sân khấu kịch không còn là tội phạm công cộng nữa, và Shakespeare đã được hồi sinh trên đó để trao cho nó sự cao quý, chúng ta vẫn chưa hoàn toàn vực nó dậy khỏi vòng tranh chấp của hai phe phái này. Những lời bàn luận của chúng ta về chủ đề Hài kịch sẽ có vẻ như một hành vi phóng đãng đối với phe này, trong khi phe kia lại cho rằng việc bàn về nó một cách nghiêm turơng lại đặt chúng ta vào thế đối lập gay gắt với chính chủ đề ấy.

Phải thừa nhận rằng, Hài kịch chưa bao giờ là một trong những Nàng Thơ được tôn vinh nhất. Nguồn gốc của nàng, nếu không tính đến chém giết, chính là biểu hiện rổn rảng nhất của nền văn minh còn non kém ở loài người. Ánh hào quang của Nữ thần Athene ngự trên đỉnh đầu Achilles đã rọi sáng sự ra đời của Bi kịch Hy Lạp. Nhưng Hài kịch lại lăn vào trong tiếng hò reo dưới sự bảo hộ thần thánh của Vua Bình Rượu, đúng như cách mà Dionysus được Aristophanes cho cất lời tự xưng. Vị vua Charles thứ hai của chúng ta chính là vị bảo trợ, với lòng nhân ái tương tự, cho dòng Hài kịch Lối sống (Comedy of Manners) của chúng ta – một dòng kịch cũng khởi đầu chẳng khác gì một màn đấu đá dưới thứ giấy phép cho phép chế giễu và lăng mạ phái Thanh giáo, thậm chí có chỗ còn cuồng hoan vượt xa cả điển tích của Aristophanes; tệ hại hơn, bởi vì sự dâm loạn mang tính hoài nghi còn đáng ghớm ghiếc hơn cả sự thô tục trần trụi. Một nhà phê bình lỗi lạc người Pháp, khi quan sát chất liệu từng được vớt vát lên để gây cười cho những khán giả nam thanh nữ tú ngồi xem hết một vở kịch trào lộng Athens, đã phán đoán rằng họ chắc hẳn chẳng thể có sự tinh tế gì trong các vấn đề khác khi mà sự lựa chọn giải trí của họ lại kém tinh tế đến thế. Có lẽ ông đã không tính đến sự dung túng có chừng mực dành cho lối nói bỗ bão vốn phù hợp với lễ hội của vị thần, và được nhà thơ trào lộng đòi hỏi như một quyền bất khả xâm phạm của mình, hoặc không tính đến thực tế rằng đó là một lễ hội diễn ra trong mùa lễ bạt mạng, tại một thành phố đã quen lắng nghe những phát ngôn táo bạo nhất từ cả hai phía của một vấn đề. Dù thế nào đi nữa, không thể chối cãi rằng những khán giả nam nữ từng ngồi xem vở kịch *Country Wife* của Wycherley diễn trên sân khấu đã hoàn toàn mất đi sự e thẹn. Tính bảo thủ đối với các ấn tượng dân tộc đã khiến cho từ “nhà hát” kể từ dạo ấy cứ châm chích vào hệ thần kinh của phái Thanh giáo tựa như một công cụ của quỷ dữ; giống như người ta từng biết đến những kẻ chống phái Giáo hoàng, đối với những người này Smithfield ngào ngạt thứ khói chịu đựng đầy ám muội, cứ như thể ký ức của họ về nơi ấy còn gần gũi hơn cả bầy gia súc đang gặm cỏ. Tinh thần Thanh giáo di truyền, khi nhìn nhận về sân khấu, vẫn tồn tại cho đến tận ngày nay trong nhiều gia đình hoàn toàn không có chút lòng đạo đức kiêu ngạo nào. Nó đã suy yếu hoàn toàn với tư cách là một thế lực trong nghề nghiệp đạo đức; nhưng sẽ là sai lầm nếu cho rằng nó đã tuyệt chủng, và cũng thật bất công khi quên rằng đã từng có lúc nó có lý do chính đáng để căm ghét, xa lánh và quở trách những màn biểu diễn công cộng của chúng ta.

Chúng ta sẽ thấy mình đứng vào khoảng giữa – nơi mà tinh thần hài hước sẽ đặt chúng ta vào – nếu ta đứng ở khoảng cách trung gian giữa những kẻ thù truyền kiếp và những kẻ ủng hộ nhiệt thành của Hài kịch: “Như một điểm cố định làm nổi bật sự cuồng nhiệt của kẻ khác,” như Pascal đã nói. Và giả sử có nhiều người đứng ở vị trí này hơn, thì thiên tài trào lộng ắt sẽ hưng thịnh.

Quan niệm của người Anh chúng ta về một vở Hài kịch Lối sống có thể được hình dung qua thân hình của một cô thôn nữ vụng về, luộm thuộm – hãy gọi là Hoyden, con gái của ngài Sir Tunbelly Clumsy, kẻ mà khi ở nhà “chưa từng cãi lời cha ngoại trừ việc ăn trộm những quả lý gai còn xanh” – nay hóa thân thành một mụ thị dân chưng diện với tiếng cười vang dội và dáng điệu uốn éo; một bà tổ điên rồ của một hậu duệ sa cơ một cách khó hiểu. Ả ta tất bật một cách đáng sợ và cực kỳ bảnh chọe trong lời ăn tiếng nói, lúc nào cũng hớt hơ hớt hải để trốn chạy khỏi Sự Ngù Mờ (Dulness), giống như người ta đồn lũ chó bên bờ sông Nile uống nước khi đang chạy để tránh cá sấu. Nếu con quái vật tóm được ả, như đôi khi vẫn xảy ra, ả sẽ quất nó tan bọt nước, khiến cho những ai chỉ biết Sự Ngù Mờ như một thứ gì đó nặng nề sẽ chẳng thể nhận ra nó dưới hình hài nhẹ nhàng và thoáng đạt ấy.

Khi ả đã tung tăng qua năm Hồi kịch để gây ngạc nhiên cho bạn bằng thông tin rằng ngài Aimwell nhờ một cái chết bất ngờ của ai đó ngoài đời thực mà đã trở thành Lãnh chúa Aimwell, và có thể đường hoàng cưới tiểu thư dưới ánh ban mai, thì đó là nhờ bản chất đầy sức sống của ả đã không lường trước việc bạn gọi đó là Hài kịch nhảm (Farce). Năm hồi thì ra dáng trang nghiêm với tà áo thướt tha; trong khi một, hai hoặc ba hồi lại là chiếc váy ngắn, thật là đồi bại. Người ta từng đưa ra lời khuyên cho các gia chủ rằng, sau khi bắn vào kẻ trộm trong bóng tối, họ nên ném cả khẩu súng theo sau, để nhỡ viên đạn có bay trượt thì vũ khí vẫn có thể đập trúng và bảo đảm cho tên vô lại biết rằng hắn đã dính đòn. Điểm sắc bén trong sự dí dỏm của ả cũng được bổ sung theo cách thức này bằng tiếng lưỡi lách cách, và thực sự hiệu quả theo lời kể của những kẻ ái mộ ả. Sự dí dỏm của ả vừa là hơi nước trong động cơ, vừa là tiếng còi báo động cho cuộc hành trình lao về phía trước của ả; và nó biến mất như vết hơi nước khi ả đã đến trạm cuối, chẳng hề quấy rầy bộ não của ai sau đó; một ưu điểm mà nó chia sẻ với loại rượu ngon, mang lại niềm vui cho phái Cuồng hoan. Còn về sự dí dỏm này, nó mang tính chiến trận. Trong tay những kẻ khéo léo nhất, nó giống như thanh gươm của hiệp sĩ trên đại lộ Mall, sẵn sàng rút ra chớp nhoáng trước một sự khiêu khích nhỏ nhặt, và dùng cho cùng một mục đích – để gây thương tích. Thông thường, tư thế của nó hoàn toàn là của một võ sĩ quyền Anh; hai chiếc găng tay cùn khua khoắng và phản đòn. Khi vô hại, chẳng hạn như khi từ “gốc” xuất hiện, hoặc những ám chỉ về tình trạng hôn nhân, nó có âm thanh của tiếng gậy hề đập lên người chú hề, và phấn khích cũng chừng ấy độ. Hãy tin rằng tiếng cười rỗng tuếch vẩn vơ là sự giải trí đáng mơ ước nhất, thì Hài kịch mang ý nghĩa sâu sắc sẽ trở nên nhạt nhẽo và nông cạn khi so sánh. Quan niệm phổ biến của chúng ta sẽ được minh họa đúng qua bức tượng nhóm điêu khắc hình Tiếng Cười đang ôm lấy hai bên sườn, trong khi Hài kịch thì đang đấm bốc để cù cho hắn cười. Còn về một ý nghĩa sâu xa, Hài kịch cho rằng điều đó chẳng giúp gì cho việc vui chơi: bạn cũng có thể vác theo đại bác trên một chiếc du thuyền đua. Đạo đức chẳng qua là một mụ già giám thị cần phải tìm cách lách qua. Đó là quan điểm về Hài kịch Anh của một nhà tiểu luận uyên bác, người từng nói rằng đoạn kết của một vở Hài kịch thường sẽ là điểm khởi đầu của một vở Bi kịch, nếu tấm màn nhung được kéo lên một lần nữa đối với các diễn viên. Trong những ngày tháng cũ ấy, sự đoan trang của phụ nữ được che chở bởi một chiếc quạt, ẩn sau nó – với độ rộng nửa vòng tròn rất tiện lợi – những quý cô có mặt trong nhà hát sẽ nép mình theo hiệu lệnh của phép lịch sự, để lén lút liếc xéo, hoặc có lựa chọn liếc qua một chiếc lỗ nhỏ được viền tua rua xinh xắn trên tấm màn che chắn ấy.

“Ego limis specto sic per flabellum clanculum.” — TERENCE.

Chiếc quạt ấy chính là lá cờ và biểu tượng của xã hội đã sản sinh ra cái gọi là Hài kịch Lối sống của chúng ta, hay nói đúng hơn là Hài kịch về lối sống của những kẻ đảo Nam Hải đội lớp văn minh đô thị; và xét về tư tưởng trào lộng, nó trống rỗng chẳng khác nào chiếc mặt nạ không có gương mặt ẩn phía sau.

Elia — người có khiếu hài hước thích thả nổi một chiếc thuyền galleon mang nghịch lý rồi lướt nó đi xa nhất có thể — đã than khóc cho sự tuyệt diệt của dòng hài kịch nhân tạo của chúng ta, giống như một nhà thơ đang thở dài trước vẻ đẹp đã phai tàn của chiếc sà lan trên sông Nile của Cleopatra; và sự điềm tĩnh trong lời biện hộ của ông cho một nguyên nhân vốn dĩ đã bị kết án vào nhà giam ngay từ thời của ông, lại tạo ra một hiệu ứng mới mẻ đến buồn cười. Khi sự thực tế của những “nhân vật tưởng tượng nửa được tin là có thật,” theo cách gọi của ông, không còn gây được ấn tượng nữa, thì họ trở thành những bạn đồng hành đáng ghét, không thể ôm ấp vuốt ve như những con rối. Những thủ pháp của họ phơi bày trần trụi đến gai mắt, và giờ đây mang lại cảm giác như một gương mặt tô son trét phấn bị nhìn ngắm dưới ánh sáng ban mai sau những giờ khiêu vũ say sưa. Làm sao mà những Lurewell hay Pliant có thể từng được ca ngợi vì sự khéo léo trong thói đồi bại? Các nhà phê bình, thoạt trông có vẻ tỉnh táo và có uy tín cao, lại đem tung hô những mánh khóe nông cạn của họ cho thế giới ngưỡng mộ. Những Lurewell, Pliant, Pinchwife, Fondlewife, cô Prue, Peggy, Hoyden ấy – tất cả bọn họ, ngoại trừ nàng Milamant duyên dáng – đều đã chết khô như những bộ quần áo của năm ngoái trong tủ đồ của một quý cô thời thượng, và phải là một ả tỳ nữ đồi bại ngoại lệ lắm của thời đại chúng ta mới nhìn họ với mong muốn được giống như họ. Liệu rối châm biếm Punch và Judy có truyền cảm hứng cho bọn trẻ đường phố nhà ta lập tức lao vào ẩu đả khi có tranh chấp, theo gương của tất cả các nhân vật trong chương trình giải trí công cộng đó – những kẻ vớ lấy gậy tre và phang nhau – vẫn là một điều còn bỏ ngỏ: người ta đã ám chỉ điều đó; và những nhà đạo đức phẫn nộ đã lần ra gu thẩm mỹ chuộng chuyện tr Crime của dân tộc từ mùi máu trong những khúc ca ru trẻ em của chúng ta. Dù thế nào đi chăng nữa, sẽ khó mà tranh cãi rằng việc để cho đàn ông và phụ nữ nhìn thấy chính mình nguyên vẹn như bản chất thật là điều độc hại, nếu như họ vốn chẳng tốt đẹp gì cho cam; và họ sẽ chẳng màng bận tâm ngắm nhìn lại mình của một thuở ngày xưa một khi cung cách đã tiến bộ hơn. Đó là hậu quả của chủ nghĩa hiện thực trong nghệ thuật trào lộng; và đó không phải là sự thất thường của công chúng, mà là hệ quả của một trạng thái xã hội đang tốt dần lên. {2} Điều tương tự đối với sự vô đạo đức cũng có thể nói về các màn trình diễn hiện thực của một xã hội tầm thường.

Người Pháp vạch ra một ranh giới phê bình rõ ràng giữa *ce qui remue* và *ce qui émeut* — thứ gây xáo trộn kích động với thứ chạm đến cảm xúc. Trong kịch hài hiện thực, đó là sự khuấy động không ngớt (*remuage*) — chẳng có sự tĩnh lặng, chỉ toàn những nhân vật lăng xăng bận rộn và không có lấy một chút tư duy. Ngoại trừ vở *Way of the World* của Congreve vốn từng thất bại trên sân khấu, chẳng có gì cứu vớt kịch hài nước ta sống sót dựa trên chính thực lực của nó; không có bức chân trọn vẹn đúng nghĩa dẫu mang đầy tính hiện thực, chẳng có mấy tiếng cười đáng trích dẫn, cũng chẳng có tư tưởng; không có muối mặn lẫn linh hồn.

Người Pháp sở hữu một dòng kịch hài trang nghiêm để họ có thể quay về tìm kiếm sự đổi mới bất cứ khi nào họ sa sút; và việc họ có được một dòng kịch như thế chính là lý do chủ yếu khiến cho, như John Stuart Mill đã chỉ ra, họ am hiểu tường tận về con người chính xác hơn chúng ta. Moliere tuân theo lời răn của Horace, đó là quan sát phong tục của thời đại mình và khoác cho các nhân vật thứ màu sắc phù hợp với họ ở thời điểm đó. Ông không vẽ bằng thứ chủ nghĩa hiện thực thô ráp. Ông tóm lấy các nhân vật của mình một cách kiên quyết nhằm phục vụ cho mục đích trung tâm của vở kịch, đúc tạc họ vào trong ý niệm, và bằng cách nâng niu kiêm làm dịu nhẹ đối tượng nghiên cứu (như trong trường hợp của cựu tín đồ phái Huguenot – Công tước de Montausier, {3} để làm chất liệu cho vở *Misanthrope*, và theo St. Simon, là Tu viện trưởng Roquette cho vở *Tartuffe*), ông khái quát hóa nó để biến nó thành bản chất con người mang tính vĩnh cửu. Hãy thừa nhận rằng con người sống trong xã hội là một điều tự nhiên, và Alceste chính là biểu tượng bất tử về một con người như thế, dẫu ông được phác họa bằng những nét thanh mảnh, không có chút màu sắc con người nào quá mạnh bạo. Dòng kịch Anh của chúng ta chưa bao giờ hình dung rõ ràng về xã hội; và đối với tâm trí đang lơ lửng bên trên những đám đông con người tụ hội, nó chẳng hình dung ra được điều gì. Những nhà phê bình ca ngợi nó vì tính bộc trực, và vì đã đưa các hoàn cảnh sát sườn với chúng ta theo cách mà họ ca tụng, chắc chắn không thể không chê bai kịch hài của Moliere – vở kịch kêu gọi tâm trí cá nhân hãy nhận thức và hòa mình vào cộng đồng xã hội. Chúng ta có những vở bi kịch lừng lẫy, chúng ta có những vở kịch thơ tuyệt mỹ nhất, và chúng ta có những vở kịch hài văn học đọc lên vô cùng thú vị, thỉnh thoảng cũng được trình diễn trên sân khấu. Khi nhắc đến kịch hài văn học, ý tôi là những vở kịch mang cảm hứng cổ điển, được rút tỉa chủ yếu từ Menander và dòng Hài kịch Mới của Hy Lạp qua ngả Terence; hoặc là những vở kịch do trí tưởng tượng riêng của nhà thơ nhào nặn, vốn chẳng có hình mẫu nào ngoài đời thực, và là những sự phóng đại hài hước, dẫu thành công hay không. Đó là những vở kịch của Ben Jonson, Massinger và Fletcher. Nhân vật Justice Greedy của Massinger là kẻ mà tất cả chúng ta đều có thể quy về một hình mẫu, “với lớp lót là thịt chim béo ngậy,” từng tồn tại và sẽ còn tồn tại; và hắn sẽ mang tính hài hước, hệt như cách Panurge mang tính hài hước, nhưng chỉ có một Rabelais mới đủ sức làm hắn chuyển động với sự sống động thực sự. Có lẽ Justice Greedy sẽ rất buồn cười đối với khán giả tại một rạp hát hội chợ ở vùng quê và đối với một số bạn bè của chúng ta. Nếu chúng ta đã đánh mất khẩu vị thời trẻ đối với việc trình diễn những nhân vật được chắp vá lại để khớp với một hình mẫu, chúng ta sẽ thấy khó lòng nở nổi một nụ cười xã giao trước màn hắn liệt kê các món ăn của mình. Điều tương tự cũng có thể nói về Bobadil, kẻ chuyên thề thốt “bằng bàn chân của Pharaoh”; với một chút lưu ý, bởi vì hắn được cho là chuyển động nhanh hơn và có hành động nhiều hơn. Chất hài của Jonson là thứ chất hài do một học giả ngẫm ngợi ra; còn của Massinger là từ một nhà đạo đức học.

Shakespeare là mạch nguồn tuôn trào của những nhân vật ngập tràn tinh thần hài hước; với nhiều hơn thứ gọi là sự sống-máu mà ta không thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào ngoài Shakespeare; và họ thuộc về thế giới này, nhưng là thế giới được mở rộng để chúng ta ôm trọn bằng trí tưởng tượng, và bằng một trí tưởng tượng thi ca vĩ đại. Họ tựa như – tôi ví von thế cho phù hợp với sự so sánh hiện tại – những sinh vật của chốn rừng thiêng nước độc, chứ không nằm trong những thị trấn có tường bao bọc, không bị gò ép hay điều chỉnh để theo đuổi một màn trình diễn trào lộng của thế giới xã hội thu hẹp hơn. Jaques, Falstaff cùng đạo quân của ông, đoàn quân đủ sắc thái của những gã hề (Clowns), Malvolio, Sir Hugh Evans và Fluellen – những gã người xứ Wales tuyệt vời! – Benedick và Beatrice, Dogberry, và những người khác nữa, đều là đối tượng của một sự nghiên cứu đặc biệt trong dòng kịch trào lộng mang tính thi ca.

Vở hài kịch gồm những tình tiết rắc rối khó tin của ông thuộc về mảng văn học. Người ta có thể hình dung rằng có một sự tương đồng tự nhiên giữa ông và Menander, cả trong cốt truyện lẫn phong cách của những vở kịch nhẹ nhàng hơn của ông. Giả sử Shakespeare sống trong một giai đoạn muộn hơn và ít cảm xúc hơn, ít anh hùng ca hơn trong lịch sử chúng ta, ông hẳn đã quay sang miêu tả phong tục cũng như con người. Euripides có lẽ cũng đã, vào thời của Menander khi Athens tuy bị nô dịch nhưng vẫn thịnh vượng, góp tay vào việc sáng tác hài kịch lãng mạn. Ông chắc chắn đã truyền cảm hứng cho bậc thiên tài xuất chúng đó.

Về mặt chính trị, người ta coi đó là một bất hạnh cho nước Pháp khi các nhà quý tộc của họ đổ xô đến triều đình của Louis Quatorze. Nhưng đó lại là một món quà đối với nhà thơ trào lộng. Ông có trước mắt mình cả một thế giới thủy ngân đầy náo nhiệt của những đam mê nhỏ mụn, những thói kiêu căng ngút trời, những sự ngớ ngẩn điềm nhiên; nào là những kẻ lang băm huyên náo và những tên khờ dễ dãi sập bẫy, những kẻ đạo đức giả, những kẻ làm dáng làm điệu, những kẻ lập dị, những gã hiếu học rơm rúng, những quý cô hồng nhạt và những nhà ngữ pháp phát cuồng, những hầu tước làm thơ thẩn, những tình nhân kiêu kỳ, những cô hầu gái thực tế, đan xen vào nhau như trong một khung cửi, ồn ào tựa như một phiên chợ. Một vòng tròn thuần túy tư sản sẽ không thể cung cấp nổi chất liệu ấy, bởi vì tầng lớp trung lưu cần phải có tầng lớp thượng lưu rực rỡ, phù phiếm và độc lập làm động lực và khuôn mẫu; bằng không, nó rất dễ trở nên tẻ nhạt từ bên trong cũng như chuẩn mực ở bề ngoài. Thế nhưng, dẫu Nhà vua tỏ ra nhân từ với Moliere, chúng ta không phải mang ơn triều đình Pháp vì những nghiên cứu vô song của ông về con người trong xã hội. Những vở ba-lê và kịch hề được viết ra cốt để giải trí cho triều đình, những thứ vốn được lòng tầng lớp thượng lưu bần tiện cũng như hạ lưu bần tiện hơn là kịch hài trí tuệ. Tầng lớp tư sản Paris lúc bấy giờ đủ sắc sảo và được giáo dục soi đường để chào đón những tác phẩm vĩ đại như *Le Tartuffe*, *Les Femmes Savantes* và *Le Misanthrope* – những tác phẩm từng là canh bạc đầy nguy hiểm đối với trí tuệ đại chúng, những con tàu lớn được hạ thủy trên những dòng sông đang cạn dòng. Vở *Tartuffe* lướt đến tầm nhìn tựa như một chiến thuyền của kẻ thù; nó gây phẫn nổ, không phải *Dieu mais les devots* [Chúa tể nhưng là những kẻ sùng đạo], như cách Thân vương de Conde giải thích về âm mưu chống lại nó trước nhà vua.

Vở *Femmes Savantes* là một ví dụ điển hình về công dụng của hài kịch trong việc dạy cho thế giới hiểu điều gì đang làm nó nhức nhối. Vở hài kịch nhảm *Precieuses* từng chế giễu và chặn đứng thứ biệt ngữ lãng mạn quái dị vốn được ưa chuộng bởi một số tiểu thuyết gia nổi tiếng. Vở hài kịch *Femmes Savantes* phơi bày sự phi lý muộn màng và ít hiển hiện hơn nhưng tinh tế hơn của thói cầu kỳ thái quá trong ngữ pháp và từ vựng, cùng xu hướng trở nên lố bịch trong sự chuẩn xác. Người Pháp từng cảm nhận gánh nặng của thứ trò vô nghĩa mới mẻ này; nhưng họ phải xem vở hài kịch đó vài lần mới được xoa dịu nỗi thống khổ của mình bằng cách tận mắt chứng kiến nguyên nhân của nó bị phơi bày.

Vở *Misanthrope* còn đón nhận sự lạnh nhạt hơn nữa. Moliere tưởng rằng nó đã chết. “Tôi không thể làm cho nó hay hơn, và chắc chắn sẽ không bao giờ làm được,” ông đã nói thế. Đó là một trong những niềm vinh dự của nước Pháp khi vở hài kịch tinh túy về sự đối lập giữa Alceste và Celimene cuối cùng cũng được thấu hiểu và tán thưởng. Ở mọi quốc gia, tầng lớp trung lưu chính là công chúng – những kẻ đang chiến đấu với cuộc đời, và nắm giữ chỗ đứng vững chắc trong cuộc chiến đó – là những kẻ am tường thế giới nhất. Nó có thể là kẻ ích kỷ nhất, nhưng đó là một câu hỏi dẫn dắt chúng ta vào những ngụy biện. Những người đàn ông và đàn bà văn minh, những kẻ không hớt lấy phần váng sữa của cuộc đời mà gắn bó với các bổn phận, đồng thời tránh được những đòn giáng khắc nghiệt nhất, chính là những người quan sát sắc sảo và cân bằng nhất. Moliere chính là nhà thơ của họ.

Thuộc tầng lớp này ở nước Anh, một bộ phận lớn – không theo Thanh giáo cũng chẳng chuộng Cuồng hoan – lại có sự phản kháng mang tính tình cảm khi phải đối mặt với việc nghiên cứu thế giới thực tại. Họ tỏ ra khinh miệt nó khi những sự thật của nó phơi bày sự nhục nhã: khi các sự kiện không bị ép buộc ngay lập tức lên họ, họ bám lấy sự kiêu ngạo của lòng hoài nghi. Họ sống trong một bầu không khí mờ ảo mà họ cho là lý tưởng. Họ có thể chịu đựng văn chương trào lộng, thậm chí tán thành nó, nếu nó hòa quyện với sự bi ai để làm rung động và nâng cao cảm xúc. Họ tán thưởng Trâm biếm (Satire), bởi vì giống như chiếc mỏ của loài kền kền, nó mang mùi của xác thối, thứ mà họ không phải là. Nhưng họ lại có một nỗi sợ hãi run rẩy đối với Hài kịch, bởi vì Hài kịch bao bọc họ cùng đám đông khốn khổ của thế giới, nhồi nhét họ cùng tất cả chúng ta vào một sự đồng hóa hèn m hạ, và không thể được sử dụng bởi bất kỳ tầng lớp cao quý nào làm roi vọt hay chổi quét. Thậm chí, việc thuộc về một tầng lớp cao quý có nghĩa là lọt vào tầm mắt tò mò điềm tĩnh của tinh thần Trào lộng, và bị mổ xẻ để xem thực chất bạn là gì. Ta có thể bắt gặp đàn ông trong số họ, và rất nhiều phụ nữ văn minh. Bạn có thể nhận ra họ qua một câu cửa miệng ưa thích: “Chắc chắn là chúng ta không đến nỗi tồi tệ thế đâu!” cùng với nhận xét: “Nếu đó là bản chất con người, xin hãy cứu chúng ta khỏi nó!” cứ như thể điều đó có thể làm được vậy; nhưng trong cõi Thiên đường riêng biệt của những kẻ ngoan cố không chịu nhìn nhận, lời thốt lên ấy lại mang ơn sủng cứu rỗi.

Thế nhưng, nếu bạn hỏi họ rằng họ có ghét sự khôn ngoan lành mạnh không, họ sẽ thề là không. Và nếu hỏi những phụ nữ văn minh rằng họ có thích được thấy mình đứng ngang hàng về trí tuệ với đàn ông hay không, họ sẽ trả lời là có; rất nhiều người trong số họ đòi hỏi vị thế đó. Giờ đây, Hài kịch chính là suối nguồn của sự khôn ngoan lành mạnh; không hề kém phần lành mạnh chỉ vì nó lấp lánh: và Hài kịch nâng phụ nữ lên một vị thế trao cho họ sân chơi tự do cho sự dí dỏm của mình – đúng như cách họ thường thể hiện, khi họ có khiếu, về phía của sự khôn ngoan lành mạnh. Hài kịch càng cao cấp, vai trò họ thụ hưởng trong đó càng nổi bật. Dorine trong vở *Tartuffe* chính là hiện thân của sự khôn ngoan đời thường, dẫu rõ ràng chỉ là một ả hầu gái. Celimene là nữ chúa không thể tranh cãi của cùng một thuộc tính ấy trong vở *Misanthrope*; khôn ngoan hơn với tư cách là một người phụ nữ so với Alceste với tư cách là một người đàn ông. Trong vở *Way of the World* của Congreve, Millamant lấn át cả Mirabel, nhân vật nam năng nổ nhất của hài kịch Anh.

Nhưng hai người phụ nữ mê hoặc ấy, với lời ăn tiếng nói phong phú và tinh tế, những kẻ đấu kiếm bằng ngôn từ với đàn ông và vượt qua cả thế thủ của họ, lại là những kẻ vô tâm! Chẳng lẽ không phải làm một cô nàng ngốc nghễu xinh đẹp, một mỹ nhân thụ động, một bọc chứa đầy những ý thích bất chợt đáng yêu, rất nữ tính, rất đồng cảm, của tiểu thuyết lãng mạn và tình cảm thì tốt hơn sao? Phụ nữ nước ta được dạy dỗ để nghĩ như vậy. Nàng Agnes trong vở *Ecole des Femmes* đáng lẽ phải là một bài học cho đàn ông. Các nữ anh hùng của Hài kịch giống như những phụ nữ của thế giới thượng lưu, không nhất thiết phải vô tâm chỉ vì họ có cái nhìn thấu suốt: họ có vẻ như vậy đối với những kẻ được nuôi dưỡng theo lối đa cảm chỉ vì họ biết sử dụng trí khôn của mình, chứ không phải là những con thuyền trôi dạt đang kêu gào một vị thuyền trưởng hay hoa tiêu. Hài kịch là một màn trình diễn cuộc chiến giữa họ với đàn ông, và của đàn ông với họ; và vì cả hai, dẫu có phân kỳ đến đâu, đều cùng nhìn vào một đối tượng, đó là Cuộc sống, nên sự tương đồng dần dần trong ấn tượng của họ ắt sẽ đưa họ đến một vài điểm giống nhau. Nhà thơ trào lộng dám cho ta thấy đàn ông và ngời phụ nữ tiến đến sự tương đồng lẫn nhau này; ông muốn nói rằng khi họ xích lại gần nhau trong đời sống xã hội, tâm trí họ trở nên giống nhau hơn; hệt như triết gia nhận thức sự tương đồng giữa bé trai và bé gái, cho đến khi bé gái bị lùa thẳng vào nhà trẻ. Triết gia và nhà thơ trào lộng có họ hàng với nhau qua ánh mắt họ đổ dồn vào cuộc đời; và họ đều không được lòng những người Anh cứng đầu thuộc vùng đất mờ ảo và lý tưởng không muốn bị quấy rầy.

Do đó, vì thiếu sự giáo dục về Ý niệm trào lộng, chúng ta đánh mất một lượng lớn khán giả thuộc tầng lớp trung lưu văn minh – những người mà ta lẽ ra có thể kỳ vọng sẽ ủng hộ Hài kịch. Kẻ đa cảm cũng bài xích chẳng khác nào tín đồ phái Thanh giáo và phái Cuồng hoan.

Những truyền thống của chúng ta thật bất hạnh. Gu thẩm mỹ của công chúng đứng về phía những kẻ cười chơi bời, và vẫn nghiêng về phía họ. Ta có thể thấy qua việc phân tích vở *Plain Dealer* của Wycherley – một bản phóng tác văn xuôi thô tục từ vở *Misanthrope*, được nhồi nhét những mảng hiện thực trong một chủ đề bình dân nhằm gãi đúng chỗ ngứa của khẩu vị người Anh – rằng ta tìm thấy trong đó âm hưởng chủ đạo của dòng Hài kịch trên sân khấu nước ta. Đó là một vở Moliere bị xuyên tạc, có móng guốc ở chân và lông mọc trên đầu chiếc tai nhọn. Và thật khó khăn biết bao cho các nhà văn khi muốn dứt mình ra khỏi những truyền thống tồi tệ, điều đó rõ mồn một khi ta thấy Goldsmith, người nắm giữ vững chắc chất hài trong nghệ thuật kể chuyện, lại cho ra đời một vở kịch hài nhảm thanh lịch dưới mác hài kịch; và Fielding, một bậc thầy về hài kịch cả trong kể chuyện lẫn đối thoại, lại chẳng thèm bén mảng đến mức có thể đưa lên sân khấu trong thể loại kịch nhảm.

Những truyền thống tồi tệ của Hài kịch này không chỉ ảnh hưởng đến chúng ta trên sân khấu, mà còn ngấm vào văn chương, và có thể lần theo dấu vết vào đời sống xã hội. Chúng là nền tảng cho những lời đạo đức giả nặng nề khiến chúng ta kiệt quệ, bàn về Cuộc sống như một vở Hài kịch, và Hài kịch như một mụ đĩ, {4} khi những nhà văn nổi tiếng, cảm thấy mệt mỏi trong sự sáng tạo, muốn tỏ ra sắc sảo trong một thói hoài nghi thời thượng: những sự xuyên tạc về ý niệm cuộc sống, và về sự trân trọng đúng mực đối với xã hội mà ta đã giành giật khỏi loài dã thú, và muốn đưa nó lên cao hơn. Những hình tượng rập khuôn thuộc mô tả này được chấp nhận bởi những kẻ rụt rè và nhạy cảm, cũng như bởi những kẻ u sầu, một cách hoàn toàn nghiêm turơng; bởi vì chẳng có mấy người nhìn ra ngoài kia bằng đôi mắt của chính họ, và lại càng ít người có thói quen tự suy nghĩ. Cuộc sống, ta thừa hiểu, không phải là một vở Hài kịch, mà là một thứ gì đó pha trộn kỳ lạ; và Hài kịch cũng không phải là một chiếc mặt nạ đê tiện. Món hàng nhập khẩu bị vẩn đục từ Pháp vốn dĩ mang độc tính; một hình thức giải trí cao quý bị hủy hoại để chiều theo thị hiếu tồi tệ của một thời đại đồi bại; và những bản sao chép sau đó của nó, dẫu đã phần nào được rút bớt độc tố và làm cho đoan trang hơn, vẫn trở nên nhàm chán dẫu có nhiều tiếng cười, bởi sự lặp đi lặp lại vĩnh viễn của cùng những hoàn cảnh, do sự thiếu vắng sự nghiên cứu nguyên bản và sức mạnh sáng tạo. Màn 5 Hồi 2 của vở *Misanthrope*, chắc chắn là do thực tế rằng chúng ta không sản xuất ra chất liệu cho việc nghiên cứu nguyên bản, đã được lặp lại liên tiếp bởi Wycherley, Congreve và Sheridan, và vì đó là hàng qua tay, nên cách thể hiện của nó mang màu sắc hoài nghi — hoặc tông điệu là thế; theo kiểu cách của “lũ người dưới bếp”. Hài kịch được đối xử theo cách này có thể được chấp nhận như một phiên bản hiểu biết thông thường của đời sống xã hội chúng ta; ít nhất là phù hợp với những lời phán truyền hiện hành về nó. Những câu châm ngôn có thể được tạo ra; nhưng nó chẳng mang lại bài học gì, mà thay vào đó lại có xu hướng làm hại nhiều hơn. Hài kịch nếu được đối xử đúng đắn, như ta thấy ở Moliere – người mà ta từng đối xử một cách thô lỗ cục cằn, Hài kịch của Moliere không hề ném lên cuộc đời một tấm gương phản chiếu ô nhược. Trước hết, nó được thai nghén một cách sâu sắc, và do đó nó không thể vẩn đục. Hãy ngẫm nghĩ về tuyên bố đó. Chưa từng có ai vung ngọn roi rít gió vào thói hư tật xấu dữ dội đến thế, nhưng sự tự chủ tuyệt đối của ông chưa hề bị lay chuyển trong lúc vung roi. Tartuffe và Harpagon, trên thực tế, đều tự lôi bản thân và tầng lớp của mình ra để quất – những kẻ giả đạo đức giả, và những kẻ tham lam đến mức điên cuồng. Moliere chỉ đơn giản là đặt chúng vào chuyển động. Ông lột trần Thói ngu ngốc ra tận da thịt, phơi bày sự bịp bợm của sinh vật đó, và mãn nguyện dâng cho nó bộ trang phục tốt hơn, cùng với bài học mà Chrysale đọc cho Philaminte và Belise nghe. Ông sáng tạo một cách thuần khiết, và ông viết lách một cách thuần khiết, bằng ngôn ngữ giản dị nhất, trong thể thơ tiếng Pháp giản dị nhất. Nguồn cội của sự dí dỏm trong ông chính là lý trí trong trẻo: đó là dòng suối của thổ nhưỡng ấy; và nó trào lên để minh oan cho lý trí, cho sự khôn ngoan lành mạnh, cho sự đúng đắn và công lý; chẳng bao giờ vì một mục đích hão huyền nào. Sự dí dỏm ấy mang một tinh thần thấm đẫm đến mức nó truyền cả ý nghĩa và sự hứng thú cho một trò chơi chữ. {5} Đạo đức trong kịch của ông không treo lủng lẳng như cái đuôi, hay thuyết giáo từ một nhân vật lúc nào cũng lườm nguýt khán giả như trong các vở kịch Pháp hiện thực gần đây: mà nằm ngay trong tim tác phẩm của ông, phập phồng theo từng nhịp đập của một cấu trúc hữu cơ. Nếu Cuộc sống được ví với vở hài kịch của Moliere, thì chẳng có chút tai tiếng nào trong sự so sánh ấy.

Vở *Way of the World* của Congreve là một ngoại lệ so với các vở hài kịch khác của chúng ta, kể cả những vở của chính ông, nhờ vào sự rực rỡ đáng kinh ngạc của văn phong và nhân vật Millamant. Vở hài kịch chẳng có tư tưởng nào bên trong, ngoài cái ý tưởng cũ rích rằng thế giới vốn dĩ là thế; và nó khép lại với sự phát hiện nhàm chán về một tài liệu vào đúng thời điểm thuận lợi cho việc hạ màn. Cốt truyện đối với Congreve chỉ là một ý nghĩ phát sinh sau. Nhờ sự trợ giúp của một gã phản diện bằng gỗ (Maskwell) có đè sẵn chữ “Gía treo cổ” trước mắt kẻ đần độn nhất, ông tạo ra được một dạng cốt truyện trong vở *Double Dealer*. {6} Vở *Way of the World* của ông có thể được gọi là *Cuộc chinh phục một ả kiêu kỳ thị thành*, và Millamant là bức chân dung hoàn hảo của một ả kiêu kỳ, cả trong sự kháng cự lại Mirabel lẫn cách thức đầu hàng của ả, và cả trong lời ăn tiếng nói. Sự dí dỏm ở đây không sắc sảo bằng một số phân đoạn trong *Love for Love*, nơi Valentine giả điên hoặc bật lại cha mình, hay Mrs. Frail vui mừng vì tính vô hại của những vết thương giáng vào trinh tiết của một phụ nữ, miễn là cô ta “giữ chúng khỏi không khí”. Trong *Way of the World*, nó có vẻ ít được chuẩn bị trước trong sự lém lỉnh, và được lan tỏa nhiều hơn trong phong cách đặc trưng hơn của các nhân vật. Tuy nhiên, ở đây cũng như ở những nơi khác, sự dí dỏm nổi tiếng của ông giống như một gã đấu kiếm côn đồ, không ngượng ngùng giăng bẫy để khoe mẽ, tỏ ra bẳn tính một cách lộ liễu đối với sợi dây dẫn giữa một số từ ngữ thông thường và kho thuốc súng của những điều bất lịch sự sắp bị châm ngòi. Hãy so sánh sự dí dỏm của Congreve với của Moliere. Sự dí dỏm của người đi trước giống như một lưỡi gươm Toledo, sắc bén, và uyển chuyển kỳ diệu đối với thép; được đúc ra để đấu kiếm, không chịu nằm yên trong vỏ vì quá đẹp khi rút ra ngoài. Để tỏa sáng, nó bắt buộc phải có đối thủ. Sự dí dỏm của Moliere lại giống như một con suối chảy róc rách, với vô số ánh sáng tươi mới ở mỗi khúc cua của khu rừng mà nó buộc phải tìm đường đi qua. Nó không chạy đi tìm những vật cản để gào thét ầm ĩ; nhưng khi lá mục và những thứ dơ bẩn hơn bị chất đống dọc theo dòng chảy, khúc ca tự nhiên của nó lại càng vang dội hơn. Không cần gắng sức, và chẳng có những tia chớp lóa mắt của thành tựu, nó tràn đầy khả năng chữa lành, đó là sự dí dỏm của phong thái thanh lịch, sự dí dỏm của sự khôn ngoan.

Landor {7} từng nói: “Sự hài hước chân chính và sự dí dỏm đích thực đòi hỏi một tâm trí lành mạnh và dung lượng lớn, vốn luôn là một tâm trí trầm tĩnh. Rabelais và La Fontaine được đồng hương ghi nhận là những kẻ mộng mơ (*reveurs*). Rất ít người trầm tĩnh hơn Pascal. Rất ít người dí dỏm hơn.”

Việc áp dụng lời trích dẫn của một bộ óc vĩ đại như Pascal vào đồng hương của chúng ta có phần bất công. Congreve sở hữu một sự lành mạnh nhất định trong tâm trí; còn về dung lượng, theo nghĩa mà Landor ám chỉ, ông có rất ít. Đánh giá ông qua sự dí dỏm của mình, ông thực hiện được một số cú đâm thành công, và nếu coi đó là dí dỏm chân chính, thì đó chỉ là thứ dí dỏm bề mặt, không xuất phát từ chiều sâu cũng chẳng tuôn trào từ suối nguồn.

“Người ta thấy hắn đang chật vật thốt ra những lời hay ý đẹp.”

Hắn vắt kiệt cái từ “ngu ngốc” tội nghiệp, bắt nó ra chợ bán khôn y như bất kỳ đối thủ nào của hắn. Dưới đây là một ví dụ từng được tung hô:

WITWOUD: Hắn vừa mang cho tôi một bức thư từ cái tên ngốc là anh trai tôi, vân vân và vân vân.

MIRABEL: Một kẻ ngốc, lại là anh trai anh sao, Witwoud?

WITWOUD: Phải, phải, anh cùng cha khác mẹ của tôi. Anh cùng cha khác mẹ với tôi; chẳng họ hàng gần gũi gì hơn đâu, xin thề với danh dự của tôi.

MIRABEL: Thế thì rất có thể hắn chỉ là một nửa thằng ngốc.

Thông qua sự chuẩn bị rõ mồn một. Đây là loại dí dỏm mà người ta nhớ là từng nghe ở trường học từ một kẻ ngoại đạo xuất chúng; có lẽ bản thân ta cũng từng phạm phải, muộn hơn một chút. Đó chắc chắn là một màn pháo hoa trí tuệ đối với gã địa chủ nhà quê, kẻ lặn lội đến London để vào nhà hát học hỏi phép lịch sự.

Điểm mà Congreve vượt trội hơn tất cả các đối thủ người Anh chính là sức mạnh văn chương, và tính súc tích trong phong cách thuộc về riêng ông. Ông có phán đoán chuẩn xác, thính giác chuẩn xác, sự minh họa nhanh nhạy trong phạm vi hẹp, những cú chộp nhanh về cái hiển nhiên ở cái hiển nhiên, và ngôn ngữ phong phú. Ông chạm đến điểm trung dung của một phong cách tinh tế và một phong cách tự nhiên trong đối thoại. Ông vừa chuẩn xác vừa lưu loát. Nếu bạn từng suy ngẫm về phong cách, bạn sẽ công nhận đó là một thành tựu đáng chú ý. Ở điểm này, ông là một nhà kinh điển, và xứng đáng được bước chung một nhịp với Moliere. Vở *Way of the World* có thể được đọc trôi chảy ngay từ cái nhìn đầu tiên, bởi vì những âm điệu của ý nghĩa nhấn mạnh chắc chắn sẽ đập vào mắt người đọc, nhờ vào độ giòn giã và sự trau chuốt đầy mưu mô của các câu văn. Bạn không cần phải đọc lướt qua chúng trước khi trao trọn niềm tin cho ông; ông sẽ đưa bạn đi an toàn. Sheridan từng bắt chước, nhưng còn lâu mới vượt qua được ông. Dòng chảy ngôn ngữ chợ búa chốn khuê phòng của Lady Wishfort là vô địch về mặt sức mạnh và sự sắc sảo của lưỡi miệng. Nó cuốn đi với một âm vang cuối cùng, giống như tiếng nói của Tự nhiên trong cơn thịnh nộ, và quả thực, đó là thứ hùng biện đậm đà của một mụ hàng cá cao cấp.

Millamant là một nữ anh hùng tuyệt vời, suýt chút nữa là đáng yêu. Đó là một nét thiên tài của nhà văn khi dùng cách nói năng của một người phụ nữ để khắc họa tính cách cô ta. Bạn cảm nhận rõ sự hiện diện của nàng trong từng dòng thoại. Những điều kiện đặt ra với người tình trước ngưỡng cửa hôn nhân, sự e ấp của một quý cô, cách né tránh thanh nhã những điều bất nhã của một quý cô, dáng vẻ điệu đà trêu ngươi, và sự chơi đùa với sự do dự – thứ mà ở một cô hầu gái bình thường sẽ là sự bẽn lẽn, cho đến khi nàng chịu khuất phục để “teo tóp lại thành một người vợ,” như nàng tự nói – tạo nên một bức tranh sống mãi trong khung, và hài hòa với miêu tả của Mirabel về nàng:

“Kia kìa nàng tới, thề có Chúa, căng phồng buồm cánh, quạt xòe rộng, dải băng bay phấp phới, kéo theo một bầy khờ làm vật phụ họa.”

Và sau một cuộc gặp gỡ:

“Nghĩ đến em ư! Nghĩ đến một cơn lốc xoáy, dẫu có ở giữa tâm bão đi chăng nữa, thì cũng là một trường hợp dễ suy ngẫm hơn, quả là một sự tĩnh lặng của tâm hồn và dinh thự.”

Có một vẻ đẹp nên thơ, mang dấu ấn của riêng Millamant chứ không ai khác, trong giọng nói của nàng khi nàng được khuyến khích nhận lời Mirabel bởi Mrs. Fainall – kẻ “chắc chắn nàng có ý với anh ta”:

MILLAMANT: Thế ư? Em nghĩ là mình có — và cái gã kinh tởm ấy trông cứ như thể hắn cũng nghĩ thế, vân vân và vân vân.

Người ta nghe được âm điệu, nhìn thấy cả bản phác thảo và màu sắc của toàn bộ khung cảnh khi đọc đoạn này.

Celimene thua kém Millamant về độ sống động. Một bầu không khí kỳ quặc đầy mê hoặc lướt qua những nét duyên dáng của nữ anh hùng trào lộng này, tựa như màn chơi đùa trò chuyện sôi nổi của một khuôn miệng đẹp.

Nhưng về sự dí dỏm, nàng không phải là đối thủ của Celimene. Những gì nàng thốt ra chỉ làm tăng thêm sức quyến rũ cá nhân, chứ không đọng lại gì đáng nhớ hơn. Nàng chỉ là một bức chân dung chớp nhoáng, và là biểu tượng của những quý cô bề trên không biết suy nghĩ, chứ không phải của những người biết suy nghĩ. Do đó, khi đại diện cho một tầng lớp, đó là một tầng lớp thấp hơn, tương ứng với việc một bức tranh sơn dầu toàn thân vẽ phụ nữ quý tộc của Gainsborough kém hơn sức ấn tượng vĩnh cửu của một cái đầu thiếu nữ Venice xinh đẹp.

Millamant đặt cạnh Celimene là một ví dụ cho thấy việc vẽ tranh hiện thực về một nhân vật có thể được đẩy đi xa đến đâu để chiếm lấy thiện cảm của chúng ta; và nó hụt hơi ở chỗ nào. Celimene là tâm trí của một người phụ nữ đang chuyển động, được trang bị một sự dí dỏm không thể kìm chế; với đôi mắt tinh tường thấu suốt thế giới, và một nhận thức cực kỳ rõ ràng rằng nàng thuộc về thế giới này và cảm thấy thoải mái nhất ở nơi đó. Nàng bị thu hút bởi Alceste vì sự kính trọng của nàng đối với sự trung thực của ông; nàng không thể không nhìn thấy chỗ mà sự khôn ngoan của người đàn ông ấy đã nhiễm bệnh.

Rousseau, trong bức thư gửi D’Alembert về chủ đề vở *Misanthrope*, đã bàn luận về tính cách của Alceste cứ như thể Moliere đưa ông ta ra làm một ví dụ tuyệt đối về tính ghét bỏ loài người; trong khi Alceste chỉ là kẻ ghét bỏ loài người trong vòng tròn mà ông ta tự đặt mình vào: ông ta mang một niềm tin cảm động vào đức hạnh ngự trị ở chốn thôn quê, và một tình yêu mang tính phê phán dành cho sự giản đơn ngọt ngào. Ông ta cũng chẳng phải là nhân vật chính của vở hài kịch mang tên mình. Ông ta chỉ mang tính hài hước một cách thụ động. Celimene mới là linh hồn chủ động. Trong lúc ông ta đang tố cáo và tuôn lời lăng mạ, thì thử thách được đặt lên vai nàng là làm sao để xoay sở tốt nhất với ông ta và kiềm chế bản thân, chừng mực nhất có thể đối với một người phụ nữ dí dỏm đang được theo đuổi ráo riết. Bằng cách trân trọng ông ta, nàng thực ra đã thú nhận những khiếm khuyết của chính mình, và nàng sẵn sàng tiến đến nửa đường với ông ta hơn là ông ta chịu nhượng bộ dù chỉ một inch: chỉ có điều nàng là *une ame de vingt ans* [một tâm hồn tuổi đôi mươi], thế giới ngoài kia rất thú vị, và nếu những con ruồi mạ vàng của triều đình ngớ ngẩn, thì những kẻ cuồng tín không thỏa hiệp cũng có những nét lố bịch chẳng kém. Liệu nàng có thể từ bỏ cuộc sống mang lại cho nàng sự dễ chịu ấy, vì một kẻ từ chối tuân theo lẽ khôn ngoan thông thường của tầng lớp mình; và một kẻ cứ khăng khăng lao đầu vào một thái cực – điều mà nàng cho là tương tự tự sát – chỉ để tránh một thái cực khác? Đó chính là câu hỏi trào lộng của vở *Misanthrope*. Tại sao ông ta không tiếp tục hòa nhập vào thế giới một cách êm ái, được xoa dịu bởi lời nịnh hót từ sự ưu ái thầm kín và thực sự chân thành của nàng dành cho mình, rồi tự trả thù bằng cách trào phúng nó, hệt như cách nàng làm từ tiêu chuẩn không lấy gì làm cao cả của mình và chẳng mấy chốc sẽ làm từ tiêu chuẩn cao cả hơn của ông?

Celimene là hiện thân của sự đời; Alceste là sự xa lánh trần tục. Nó không hoàn toàn đồng nghĩa với sự vô vị kỷ; và điều đó được nhìn nhận bởi cái đầu tinh anh của nàng. Dù vậy, ông ta vẫn là một nhân vật vô cùng khác thường trong vòng tròn của nàng, và nàng trân trọng ông ta – *l'homme aux rubans verts* [gã đeo dải ruy-băng xanh], kẻ “thỉnh thoảng làm trò cười nhưng thường xuyên làm nàng phát điên một cách khủng khiếp,” như nàng có thể thốt lên khi chiếc lưỡi châm biếm của nàng đã được đà tuôn chảy. Khốn nỗi, linh hồn sự thật ở con người ông – thứ đã chiến thắng sự tôn trọng của nàng – lại từ chối việc bị thuần hóa, hay giữ im lặng, hay bớt hoài nghi, và chính là chướng ngại vật vĩnh viễn cho sự hòa hợp của họ. Ông ta chính là kẻ sầu muộn đó – nhà phê bình của tất cả mọi người trừ chính mình; cực kỳ nhạy cảm trước những lỗi lầm của kẻ khác, bị tổn thương bởi chúng; yêu mến sự trung thực không thể chối cãi của chính mình, và lý tưởng về lối sống giản dị hơn phù hợp với nó: những phẩm chất cấu thành nên một nhà châm biếm. Ông ta chính là một Jean Jacques của chốn triều đình. Lời đề nghị của ông với Celimene khi ông tha thứ cho nàng, rằng nàng hãy theo ông trốn chạy loài người, và cơn cuồng nộ căm ghét của ông đối với nàng trước lời từ chối đó, hoàn toàn mang tâm trạng của Jean Jacques. Ông ta là một sinh vật bất khả thi với một đức hạnh vô giá; nhưng Celimene có thể cảm thấy rằng việc trốn chạy cùng ông ta đến chốn hoang vu – nghĩa là từ triều đình về thôn quê:

“Nơi mà làm một người danh dự là một quyền tự do,”

nàng có nguy cơ nhận ra mình đang bầu bạn với một nhà châm biếm đang chết đói, giống như vị công chúa tội nghiệp bỏ trốn cùng gã hầu phòng, và khi cả hai đều đói lả trong rừng, nàng ta bị hắn ra lệnh cắt thịt cho hắn ăn. Nàng là một ả kiêu kỳ chính hiệu, vui sướng với sự dí dỏm và sức hút của mình, nổi bật bởi thiên hướng dành cho Alceste giữa muôn vàn kẻ theo đuổi khác; chỉ có điều nàng thấy khó khăn khi phải cắt đứt với họ – người phụ nữ nào có cả một tá kẻ bám theo lại không thấy thế? – và khi việc phơi bày thói dí dỏm hư hỏng đã đẩy nàng vào sự quở trách của họ, nàng sẽ làm hết sức có thể: nàng sẽ trao tay mình cho sự trung thực, nhưng nàng không thể hoàn toàn từ bỏ thói đời. Nàng sẽ thật dại dột nếu làm thế.

Cốt truyện thật mỏng manh. Những kẻ nhào nặn cốt truyện cay cay đắng đắng của chúng ta sẽ chẳng thấy bóng dáng sự sống nào trong những đường nét phác thảo đó. Sức sống của hài kịch nằm ở tư tưởng. Giống như tiếng hót của sơn ca vút bay khuất tầm mắt, bạn phải yêu lấy loài chim ấy thì mới chú ý đến khúc ca, thì trong chuyến bay cao vút này của Nàng Thơ Trào Lộng, bạn phải yêu mến Hài kịch thuần khiết đến tận đáy lòng để thấu hiểu vở *Misanthrope*: bạn phải cởi mở đón nhận Ý niệm trào lộng. Và để yêu Hài kịch, bạn phải am hiểu thế giới thực, và hiểu rõ đàn ông lẫn phụ nữ để không kỳ vọng quá nhiều ở họ, dẫu bạn vẫn có thể nuôi hy vọng về những điều tốt đẹp.

Menander từng viết một vở hài kịch mang tên *Misogynes*, được cho là nổi tiếng nhất trong các tác phẩm của ông. Gã đàn ứng ghét phụ nữ này là một người đã có gia đình, theo đoạn trích còn sót lại, và là kẻ căm ghét phụ nữ do căm ghét chính người vợ của mình. Hắn khái quát hóa về họ từ ví dụ của mụ vợ đáng buồn trong vận mệnh đời mình, và có vẻ như đã chịu lép vế trong cuộc chiến với mụ, điều này giống với kết cục thực tế ngoài đời, trong giới thượng lưu. Hắn cũng có vẻ xứng đáng nhận lấy điều đó, điều này cũng đúng với bản sao thực tế. Nhưng chúng ta không thể khẳng định liệu người vợ có phải là một đại diện tiêu biểu cho giới tính của nàng hay không; hay Menander trong trường hợp này đã nâng tầm ý niệm về người phụ nữ lên khỏi vũng lầy mà nàng bị dìm xuống bởi các nhà thơ trào lộng, hay đúng hơn là các nhà soạn kịch châm biếm, thời kỳ giữa của Hài kịch Hy Lạp trước ông và Hài kịch Mới – những kẻ dành sự dí dỏm chủ yếu để lăng mạ, và đổi gió bằng cách ca ngợi, những quý cô ngoại thành có tiếng tăm lừng lẫy. Menander lý tưởng hóa họ mà không có chủ ý nâng cao. Ông châm biếm một ả Thais nào đó, và nàng Thais trong vở *Eunuchus* của Terence không hề có sức hấp dẫn chuyên nghiệp cũng như không đáng ghét; bức chân dung của ông về hai người nữ Andros, Chrysis và em gái nàng, là không đâu sánh bằng về sự dịu điều. Nhưng hoàn cảnh của những người phụ nữ lương thiện thời đại ông không cho phép sự tự do hành động và lối biện luận đấu kiếm của một Celimene, và do đó nó thấp hơn chuẩn mực Hài kịch thuần khiết của chúng ta.

Sainte-Beuve triệu hồi bóng ma của Menander, nói rằng: Vì tình yêu dành cho tôi, hãy yêu Terence. Chính qua tình yêu dành cho Terence mà người hiện đại mới có thể yêu Menander; và những gì còn sót lại của Terence rõ ràng chưa mang lại cho chúng ta những gì tinh túy nhất của người bạn phái Epicurus. [Văn bản Hy Lạp không thể tái tạo], gã người tình bị đẩy vào nỗi kinh hoàng, và [Văn bản Hy Lạp không thể tái tạo] thiếu nữ bị cắt xén mái tóc, mang âm hưởng đầy hứa hẹn cho những phân cảnh ghen tuông và sự thể hiện quyền lực bề trên quá mức, dẫn đến sự hối tiếc, theo kiểu mà những kẻ vô độ từng tưởng tượng rằng họ đang chiến đấu với kẻ yếu hơn, như các đoạn trích cho thấy.

Trong số sáu vở hài kịch của Terence, có bốn vở bắt nguồn từ Menander; hai vở, *Hecyra* và *Phormio*, từ Apollodorus. Hai vở này kém hơn về mặt hành động hài hước và sự ngọt ngào đặc trưng của Menander so với *Andria*, *Adelphi*, *Heautontimorumenus* và *Eunuchus*: nhưng Phormio lại là một gã ăn bám vui vẻ, bạt mạng hơn cả Gnatho trong vở hài kịch vừa nhắc tới. Từng có vô số đối thủ mà chúng ta hầu như không biết gì – ngoại trừ qua các trích dẫn của Athenaeus và Plutarch, cùng các nhà ngữ pháp Hy Lạp, những kẻ trích dẫn họ để củng cố một luận điểm – trong giai đoạn này cũng như các giai đoạn hài kịch trước đó ở Athens, bởi vì các vở kịch của Menander được tính bằng hàng chục, và chúng chỉ giành được giải thưởng có tám lần. Nhà thơ được giới phê bình yêu thích, ở Hy Lạp cũng như ở Rome, chính là Menander; và nếu một số đối thủ của ông đôi chỗ vượt qua ông về sức mạnh hài hước, và qua mặt ông trong các cuộc thi nhờ sự thích ứng đúng lúc với hoàn cảnh – thứ từng cướp đi phần thưởng xứng đáng của thiên tài Aristophanes trong *Clouds* và *Birds* – thì vị trí của ông với tư cách là thủ lĩnh của các nhà thơ trào lộng thời đại đó vẫn là không thể lay chuyển. Plutarch một cách hoàn toàn không cần thiết đã lôi Aristophanes vào một cuộc so sánh với ông, khiến nhà thơ lớn tuổi hơn phải bối rối. Mục đích, chất liệu họ xử lý và thời đại của họ hoàn toàn khác biệt. Nhưng không có gì ngạc nhiên khi Plutarch, viết vào thời điểm vẻ đẹp phong cách Athens là niềm say mê của các nhà bảo trợ của ông, lại xếp Menander ở bậc cao nhất. Mức độ trung thành mà Terence sao chép Menander đến đâu, liệu như ông đã nói về đoạn trong vở *Adelphi* lấy từ Diphilus, *verbum de verbo* [từng từ một] trong những phân cảnh đáng yêu hơn – ví dụ như miêu tả về những lời trăn trối của người phụ nữ Andros sắp chết, và đám tang của nàng – vẫn chỉ là điều phỏng đoán. Đối với chúng ta, Terence chia sẻ với bậc thầy của mình lời ca ngợi về một sự nhã nhặn tựa như lời thoại chốn Elysium, điềm đạm và luôn duyên dáng; tựa như gương mặt của cô em gái trẻ tuổi của người phụ nữ Andros:

“Adeo modesto, adeo venusto, ut nihil supra.” [Vừa khiêm nhường, vừa kiêu sa, không gì sánh bằng.]

Câu nói nổi tiếng “flens quam familiariter” [khóc một cách vô cùng thân thiết] – mà bản dịch sát nghĩa nhất cũng đành bất lực trước thứ văn xuôi khắc nghiệt, để diễn tả sự thổ lộ đầy đau khổ và tin tưởng của một thiếu nữ vừa mất đi người chị em kiêm người bạn thân thiết nhất, và chỉ còn lại người tình duy nhất; “nàng quay đi và ngã gục vào ngực anh, khóc sướt mướt như thể đang ở nhà”: bản năng của chúng ta mách bảo rằng điều này chắc chắn phải là tiếng Hy Lạp, dẫu trong tiếng Hy Lạp khó mà hay hơn được. Một số dòng thơ của Terence, khi so sánh với các đoạn trích nguyên bản, cho thấy ông đã tô điểm chúng; nhưng gu thẩm mỹ của ông quá tinh tế nên ông không thể làm gì khác ngoài việc cống hiến thiên tài của mình cho bản dịch trung thực của những đoạn như trên. Vậy là Menander; cùng với ông, qua sự đồng điệu về tâm hồn, là Terence; và Shakespeare cùng Moliere sở hữu sự trong suốt tuyệt đẹp này của ngôn ngữ; và việc nghiên cứu các nhà thơ trào lộng có lẽ chỉ cần vì điều đó cũng đáng được giới thiệu.

Một số phận éo le kỳ lạ đã giáng xuống các tác phẩm của Menander. Những gì chúng ta có về ông qua Terence có lẽ được chọn lọc để làm hài lòng những người La Mã văn minh; {8} và là một vở kịch lãng mạn với cốt truyện hài hước, đạt được trong hai trường hợp, *Andria* và *Eunuchus*, bằng cách gộp đôi ba nguyên tác của ông thành một. Tựa đề của một số vở kịch đã thất lạc hé lộ bản chất chiếu sáng trào lộng của chúng; *Kẻ tự thương hại*, *Kẻ tự trừng phạt*, *Kẻ tính tình khó chịu*, *Kẻ mê tín*, *Kẻ hoài nghi*, v.v., chỉ ra những chủ đề gia đình đầy gợi mở.

Terence từng gửi các bản thảo dịch từ Hy Lạp về, nhưng chúng đã gặp nạn đắm tàu; còn ông, người có thể khôi phục lại kho báu ấy, đã qua đời trên đường về nhà. Những kẻ cuồng tín ở Byzantium đã hoàn thành nốt công việc hủy diệt. Và thế là chúng ta có bốn vở hài kịch của Terence, tính cả sáu vở của Menander, cùng một vài bản phác thảo cốt truyện – một trong số đó, *Thesaurus*, giới thiệu một kẻ hà tiện mà ta rất muốn đem ra so sánh với Harpagon – và vô số các đoạn trích ngắn mang giọng điệu châm ngôn, phù hợp để trích dẫn. Vẫn còn đủ phần còn lại để làm ta cảm nhận được tầm vóc vĩ đại của ông.

Không hề đánh giá thấp các nhà thơ trào lộng khác, tôi cho rằng có thể khẳng định Menander và Moliere đứng độc lập như những nhà thơ trào lộng thuần túy của cảm xúc và tư tưởng. Ở mỗi người trong số họ đều có một sự hình dung về Chất hài đủ sức tinh luyện đến mức nhói lòng, như trong nhân vật Menedemus của vở *Heautontimorumenus*, và trong vở *Misanthrope*. Menander và Moliere đã cống hiến cho Hài kịch những hình mẫu chủ đạo cho đến nay. Micio và Demea trong vở *Adelphi*, với những quan điểm trái ngược nhau về cách quản lý giới trẻ đúng đắn, vẫn đang sống mãi; Sganarelles và Arnolphes của vở *Ecole des Maris* và *Ecole des Femmes* chưa hề bị chôn vùi hoàn toàn. Tartuffe chính là cha đẻ của những kẻ đạo đức giả; Orgon của những kẻ khờ dại sập bẫy; Thraso của những kẻ khoác lác; Alceste của những gã “Manly”; Davus và Syrus của những gã đầy tớ mưu mẹo, Scapins và Figaros. Những quý cô bay bổng trong cõi Hồng Nhạt, kẻ có ngôn từ đội những chiếc mũ lông công của sự kiêu ngạo trí tuệ, đều có thể tìm thấy gốc gác từ Philaminte và Belise của vở *Femmes Savantes*; và những người phụ nữ dí dỏm sắc sảo sở hữu lưỡi dao của Celimene. Lý do là vì hai nhà thơ này đã lý tưởng hóa cuộc sống: nền tảng cho các hình mẫu của họ là thực tế và đang chuyển động, nhưng họ vẽ bằng sức mạnh tinh thần, thứ vốn là phần cốt lõi vững chắc trong Nghệ thuật.

Quan niệm lý tưởng hóa của Hài kịch mang lại chiều rộng và cơ hội cho sự táo bạo của thiên tài trào lộng, đồng thời giúp giải quyết những khó khăn mà nó tạo ra. Ví dụ, làm thế nào để khán giả có thể tin chắc rằng một kẻ khờ dại rõ mồn một và quái dị lại thực sự bị lừa phỉnh mà không phải là một kẻ đần độn tuyệt đối? Trong vở *Le Tartuffe*, nốt nhạc của Hài kịch cao cấp vang lên khi Orgon vừa trở về nhà và nghe kể về khẩu vị tuyệt vời của thần tượng nhà mình. “Le pauvre homme!” [Tội nghiệp con người ấy!] hắn thốt lên. Hắn được bảo rằng người vợ hiền tề của hắn đã không được khỏe. “Et Tartuffe?” [Còn Tartuffe thì sao?] hắn hỏi, sốt ruột muốn nghe nhắc đến y, tâm trí ngập tràn suy nghĩ về Tartuffe, phát cuồng vì sự dịu dàng, rồi hắn lại lẩm bẩm khẽ khàng, “Le pauvre homme!” Đó là tiếng kêu xót xa đầy sung sướng của một người mẹ khi nghe cô bảo mẫu kể về chiến tích phàm ăn như thú non của đứa con cưng. Sau cú đánh chí mạng này của Hài kịch, bạn không chỉ đặt niềm tin vào sự mê muội tràn ngập ánh hồng của Orgon, bạn còn chia sẻ nó cùng hắn thông qua sự đồng cảm trào lộng, và có thể lắng nghe với không quá một cái run rẩy của cơ cười trước ví dụ mà hắn đưa ra về lòng nhân đạo siêu việt của Tartuffe:

“Un rien presque suffit pour le scandaliser, Jusque-le, qu’il se vint l’autre jour accuser D’avoir pris une puce en faisant sa priere, Et de l’avoir tuee avec trop de colere.” [Gần như một chút xíu cũng đủ làm hắn chướng tai gai mắt, Đến mức mà ngày nọ hắn tự lôi mình ra tố giác Đã bắt một con rệp trong lúc đang làm lễ cầu kinh, Và đã giết nó với quá nhiều sự tức giận.]

Và lại còn giết nó với quá nhiều sự tức giận nữa chứ! Dịch Moliere cũng giống như đang ngâm nga một giai điệu từng được biểu diễn bởi một nghệ sĩ vĩ cầm tài hoa với những nốt nhạc thuần khiết không chút luyến láy.

Orgon, bừng tỉnh để nhận ra thêm một kẻ khờ nữa là Madame Pernelle, kẻ vẫn hoài nghi trước những sự thật cuối cùng đã mở ra đôi mắt u mê của chính hắn, là một cảnh quay mang tính Hài kịch kép, được tiếp thêm sinh khí bởi bùa chú từng giăng mắc lên tâm trí. Ở đó, ta cảm nhận được sức mạnh sáng tạo của nhà văn; và trong ánh sáng sắc bén của cú bẻ lái đột ngột ấy, tính nhân văn trở nên sống động hơn bất kỳ tác phẩm hiện thực nào có thể làm được.

Hài kịch Ý cung cấp nhiều gợi ý cho một vở Tartuffe; nhưng chúng có thể được tìm thấy trong Boccaccio, cũng như trong vở *Mandragola* của Machiavelli. Nhân vật Frate Timoteo trong tác phẩm này chỉ là một tu sĩ dẻo mỏ, sẵn sàng tòng phạm vào một vụ âm mưu bằng những ngụy biện mang màu sắc giáo hội (nói theo cách nhẹ nhàng nhất) để đổi lấy tiền thù lao. Frate Timoteo mang một dáng vẻ tu sĩ Ý vô cùng bóng bẩy.

DONNA: Credete voi, che’l Turco passi questo anno in Italia? [Thưa ngài, ngài có tin năm nay Thổ Nhĩ Kỳ sẽ tiến đánh vào Ý không?]

F. TIM.: Se voi non fate orazione, si. [Nếu phu nhân không chịu cầu nguyện, thì có.]

Sự kiêu ngạo và sướt mướt của giới tu sĩ, cùng những mánh khóe và ngụy biện, không thể được vẽ ra mà không khiến ta phát hiện ra sự tương đồng trong phòng tranh dài dằng dặc của nước Ý. Goldoni đã phác họa phong cách sống của người Venice trong thời kỳ suy tàn của nền Cộng hòa bằng một cây bút chì của Pháp, và mang phong cách của một Scribe người Ý.

Sân khấu Tây Ban Nha phong phú hơn với những vở hài kịch giống như tác phẩm từng cung cấp ý tưởng cho vở *Menteur* của Corneille. Nhưng bạn phải tự ép mình tin rằng gã thợ lượm dối trá này không hề cố gắng ép gân khi hắn chất chồng lời nói dối này lên lời nói dối khác. Chẳng có chút gợi mở trước nào để lôi kéo tâm trí người xem vào sự nhẹ dạ tin tưởng. Hài kịch Tây Ban Nha thường có đường nét sắc sảo, tựa như những bộ xương; với chuyển động chớp nhoáng, tựa như những con rối dây. Vở hài kịch có thể được biểu diễn bởi một đoàn múa ba-lê; và trong ký ức của việc đọc nó, nó biến thành một màn lê la bước chân đầy hoạt náo. Trên thực tế, đó là một thứ gì đó khác lạ so với ý niệm chân chính về Hài kịch. Nơi nào mà nam nữ bị chia cắt, đàn ông và phụ nữ sẽ trở nên, theo cách gọi của người Bồ Đào Nha, *affaimados* [đói khát] lẫn nhau; và tất cả các yếu tố bi kịch đều hiện diện trên sân khấu. Don Juan là một nhân vật trào lộng gieo rắc nỗi kinh hoàng khiến các linh hồn bay tán loạn; và sự hài hước của việc làm tan nát trái tim chục người phụ nữ cũng chẳng thể làm Nàng Thơ Trào Lộng hòa giải với việc đổ máu.

Những nỗ lực viết hài kịch của người Đức gợi nhớ một cách sống động đến hình ảnh nước Đức của Heine qua điệu nhảy của Atta Troll. Lessing từng thử sức với thể loại này, mang lại một hiệu ứng làm chùng lòng độc giả. Ý định tạo ra hiệu ứng ngược lại chỉ vừa lấp ló, và ở đó, giống như dáng vẻ bệ vệ đáng yêu của chú gấu già tội nghiệp vùng Pyrenees đang giữ thăng bằng và xoay vòng trên chân sau bên phải và bên trái, chính là niềm vui cười. Jean Paul Richter mang đến phiên bản hay nhất về chất hài của Đức trong sự tương phản giữa Siebenkas và nàng Lenette. Ánh sáng của Hài kịch thấp thoáng ở Goethe; đủ để hoàn thiện bức tượng vĩ đại của con người đó, nhưng không hơn.

Tiếng cười văn chương của người Đức, giống như những nhịp thức dậy đúng giờ của vị vua Barbarossa trong lòng hang Untersberg, rất hiếm hoi và có phần quái dị — chưa bao giờ là tiếng cười đồng lòng của cả đàn ông lẫn phụ nữ. Nó xuất phát từ trí tưởng tượng trừu tượng thô sơ, kỳ dị hoặc ảm đạm, hoặc thô tục, giống như tính khí kỳ quặc của những gã lùn dưới lòng đất của họ. Tiếng cười tâm linh là thứ họ vẫn chưa chạm tới được; chủ nghĩa đa cảm thường đón lõng họ trong đường bay. Đâu đó một bài hát dân gian (*Volkslied*) hay truyện cổ tích (*Marchen*) cho thấy năng khiếu quốc gia đối với tiếng cười động vật sảng khoái; và ta thấy văn học được xây dựng dựa trên nền tảng đó, điều đó cũng đáng hy vọng; nhưng để tận hưởng nó, để bước vào triết lý của Nụ cười ngoác miệng (*Broad Grin*) – thứ dường như đang dao động giữa hộp sọ và phôi thai, và đạt đến độ rộng hoàn hảo từ việc dùng hai ngón tay vuông vức kéo căng khóe miệng – người ta phải có sự trợ giúp của “rượu vang sông Rhine hảo hạng” và hơn thế nữa phải mang dòng máu Đức nguyên chất. Sự nặng nề đặc sệt kiểu Hà Lan của tinh thần hài hước tự thân nó đã loại trừ ý niệm về Hài kịch, và tiếng nói yếu ớt dành cho phụ nữ trong đời sống gia đình người Đức sẽ giải thích cho sự vắng bóng của những cuộc đối thoại trào lộng phản chiếu cuộc sống ở xứ sở đó. Tôi sẽ bàn lại về điều này trong phần thứ hai của bài giảng này.

Hướng về phía Đông, bạn sẽ bắt gặp sự im lặng tuyệt đối của Hài kịch giữa một cộng đồng cực kỳ nhạy bén với tiếng cười, như *Nghìn lẻ một đêm* sẽ làm chứng. Nơi nào mà tấm mạng che mặt trùm lên gương mặt phụ nữ, bạn không thể có nổi xã hội, thiếu đi điều đó các giác quan sẽ trở nên hoang dã và tinh thần trào lộng bị đẩy ra những cống rãnh của sự thô tục để giải khát. Người Ả Rập về mặt này còn tệ hơn cả người Ý – tệ hơn rất nhiều so với người Đức; đúng bằng mức độ mà hệ thống đối xử với phụ nữ của họ tồi tệ hơn.

M. Saint-Marc Girardin, nhà tiểu luận xuất sắc người Pháp kiêm bậc thầy phong cách phê bình, kể về một cuộc trò chuyện mà ông từng có với một quý tộc người Ả Rập về chủ đề cách đối xử khác biệt với những sinh vật rắc rối này ở phương Đông và phương Tây: và người Ả Rập đã ca ngợi nhiều kết quả tốt đẹp từ sự tự do lớn hơn mà các quý cô phương Tây được thụ hưởng, cùng sức hút khi trò chuyện với họ. Ông được hỏi tại sao đồng bào của ông không thực hiện các biện pháp để ban cho họ một chút tự do kiểu đó. Lập tức ông ta nhảy chồm ra khỏi cái tôi cá nhân của mình, hòa mình vào tâm tư của chủng tộc mình, và trả lời từ đỉnh cao của một sự tự đắc huy hoàng với vẻ khiêm nhường giả tạo: “CÁC NGƯỜI có thể nhìn ngắm họ mà không hề xao xuyến – nhưng CHÚNG TÔI thì!...” Và sau lời đệm mang tính trào lộng sâu sắc này, ông ta bổ sung bằng giọng trầm ngâm: “Chính gương mặt của một người phụ nữ!” Đại diện cho các khái niệm ôn hòa của chúng ta liền nhã nhặn đồng ý rằng niềm tự hào dễ nổi sóng của người Ả Rập về sự dễ dãi bốc lửa cần đến sự ra dẻ đoan trang của tấm mạng che mặt như một phương tiện văn minh của chủng tộc họ.

Đã từng có tiếng cười ở Baghdad. Nhưng sẽ không bao giờ có nền văn minh ở nơi nào mà Hài kịch không thể tồn tại; và điều đó xuất phát từ một mức độ bình đẳng xã hội nhất định giữa hai giới. Tôi không dẫn lời người Ả Rập để khuyên rẩy hay khuấy động phương Đông đang say ngủ; mà đúng hơn là để những người phụ nữ văn minh nhận ra rằng Nàng Thơ Trào Lộng là một trong những người bạn tốt nhất của họ. Họ đang tự làm mờ mắt trước quyền lợi của chính mình khi gia nhập hàng ngũ của những kẻ đa cảm. Hãy mở rộng tầm mắt sáng suốt nhất để nhìn ngắm cả trong và ngoài nước. Họ sẽ thấy rằng ở nơi nào họ không có sự tự do xã hội, Hài kịch vắng bóng; ở nơi nào họ chỉ là những con bò mộng làm việc vặt trong nhà, hình thức của Hài kịch vẫn còn nguyên thủy; ở nơi nào họ tương đối độc lập, nhưng kém văn hóa, kịch giật gân kích thích sẽ thay thế chỗ đó cùng với một phiên bản đa cảm về họ. Thế nhưng chất trào lộng vẫn sẽ bùng nổ, như họ sẽ biết nếu họ lắng nghe một số cuộc trò chuyện riêng tư của những đàn ông có tâm trí không được dẫn dắt bởi Nàng Thơ Trào Lộng: giống như người đàn ông đa cảm, đến sự kinh ngạc của chính mình, cũng sẽ nhận ra nếu anh ta có thể nhận được một bài học theo cách tương tự. Nhưng ở nơi nào phụ nữ đang trên con đường bước đến một vị thế bình đẳng với đàn ông, về mặt học thức và sự tự do – trong những gì họ tự giành lấy cho mình, và những gì được ban ơn bởi một nền văn minh công bằng – ở đó, và chỉ chực chờ được chuyển dịch từ đời thực lên sân khấu, hay tiểu thuyết, hay thơ ca, Hài kịch thuần khiết mới hưng thịnh, và sẽ là – đúng như cách nó giúp họ – sự giải trí ngọt ngào nhất, người bạn đồng hành khôn ngoan và thú vị nhất.

Giờ đây, khi nhìn quanh thời đại chúng ta hiện tại, tôi nghĩ người ta sẽ phải thừa nhận rằng trong việc lơ là vun trồng Ý niệm trào lộng, chúng ta đang đánh mất sự trợ giúp của một trợ lực hùng mạnh. Bạn thấy Thói ngu ngốc liên tục trượt vào những hình hài mới trong một xã hội sở hữu sự giàu có và thời gian rảnh rỗi, với vô vàn ý thích bất chợt, vô vàn căn bệnh kỳ lạ và những vị bác sĩ kỳ lạ. Có vô số sự khôn ngoan đời thường trên thế giới này để đẩy lùi nó khi nó giả vờ lên ngôi báu. Nhưng đứa con đầu lòng của sự khôn ngoan đời thường, đó là Chất hài cảnh giác, thiên tài của tiếng cười mang tính tư duy, thứ lẽ ra đã dễ dàng tiêu diệt nó ngay từ trứng nước, lại không đóng vai trò như một biện hộ viên công chúng.

Bạn hẳn đã nhận thấy xu hướng của sự khôn ngoan đời thường, dưới áp lực của một mẩu bồng bột ngoan cố nào đó, thường trở nên thiếu kiên nhẫn và cáu giận. Đó là dấu hiệu của sự vắng mặt, hoặc ít nhất là sự ngủ quên, của Ý niệm trào lộng. Bởi vì Thói ngu ngốc chính là con mồi tự nhiên của Chất hài, bị nó nắm thóp trong mọi biến hóa, trong mọi lớp cải trang; và với niềm vui sướng nhảy chót vót của diều hâu vờn diệc, chó săn đuổi cáo, nó lao vào săn đuổi mả chẳng hề bực bội, chẳng hề mệt mỏi, chắc chắn sẽ tóm được ả, không cho ả một phút ngơi nghỉ.

Sự khinh bỉ là một thứ tình cảm không thể được nuôi dưỡng bởi trí tuệ trào lộng. Nó chẳng qua là một cái cớ để sống hời hợt, hoặc để tự cao tự đại, hoặc để thu mình trong sự chật hẹp thoải mái, không hoàn toàn nhân văn? Nếu chúng ta không giả vờ khi nói rằng chúng ta khinh miệt Thói ngu ngốc, thì chúng ta đã đóng sập bộ não lại. Tồn tại một thái độ khinh khỉnh khi đứng trước Thói ngu ngốc, mang mầm mống của sự ngớ ngẩn dưới góc nhìn trào lộng: và sự tức giận cũng chẳng kém ngớ ngẩn hơn sự khinh miệt là bao. Cuộc chiến mà chúng ta phải tiến hành là cuộc chiến giữa bản chất này với bản chất khác. Đừng ai nghi ngờ về kết cục khi thứ tinh chất phát xuất từ phần kiên định nhất trong chúng ta được phóng ra để quật ngã đứa con gái của Sự phi lý và Chủ nghĩa đa cảm: đó chính là dòng dõi của Thói ngu ngốc, khi nó được coi là đàng hoàng.

Hệ thống chiến đấu với nó của thời hiện đại chúng ta quá thiên về phòng thủ, và tiến hành quá chậm chạp với những cỗ máy chiến tranh hữu hình trong cuộc tấn công. Nó có đủ thời gian để rút lui sau những chiến hào. Nó sẵn sàng chịu đựng một cuộc vây hãm, trước khi gã khoa học gia mang vũ khí nặng nề cùng nhà văn viết bài xã luận hay tiểu luận công phu kịp nạp đạn cho những cỗ đại bác của họ. Cần phải ghi nhớ rằng nó có sức quyến rũ đối với quần chúng; và một đám đông người Anh chứng kiến nó chiến đấu một cách anh dũng sẽ đâm ra yêu mến nó một nửa, chắc chắn là sẵn sàng tung hô cho nó. Những khoản quyên góp từ thiện giúp nó thuê mướn nhà khoa học của riêng mình, cơ quan ngôn luận của riêng mình trên Báo chí. Nếu cuối cùng nó bị tống cổ và lật đổ, nó vẫn có thể giơ ngón tay chỉ vào những khoảng trống trong hàng ngũ chúng ta. Nó có thể nói rằng nó từng chỉ huy một đạo quân và dụ dỗ những người đàn ông – những kẻ mà ta từng nghĩ là điềm đạm và an toàn – đóng vai trò làm trung úy cho nó. Chúng ta phát hiện ra một cách khá ảm đạm, sau khi nó đã giơ ngọn đèn lồng của mình lên, rằng giữa chúng ta tồn tại những người đàn ông tài năng và những bộ óc không hề có ngôi sao dẫn đường trong hàng hải trí tuệ. Hài kịch, hay yếu tố trào lộng, chính là thứ thuốc đặc trị cho độc dược của ảo tưởng trong lúc Thói ngu ngốc đang chuyển hóa từ trạng thái hơi nước sang hình hài thực thể.

Ôi, khao khát một hơi thở của Aristophanes, Rabelais, Voltaire, Cervantes, Fielding, Moliere! Đó là những linh hồn mà, nếu bạn hiểu họ rõ, sẽ xuất hiện khi bạn cất tiếng gọi. Bạn sẽ thấy chính lời thỉnh cầu họ tác động lên bạn như một luồng gió đổi mới – ngọn gió Tây Nam thổi từ đại dương tới, hay một tiếng vọng trên dãy Alps.

Sẽ chẳng ai dám mạo muội tuyên bố rằng chúng ta thiếu vắng những kẻ chọc cười. Họ nhan nhản khắp nơi, và tổ chức điều phối cỗ máy của họ để bắn ra những phát ngôn bám sát bài xã luận và tình cảm công chúng hoạt động rất hiệu quả.

Nhưng Chất hài khác biệt với họ ở chỗ nó đánh thẳng vào trí tuệ để gây ra tiếng cười; và trí tuệ lờ đờ cần phải được huấn luyện đôi chút để hưởng ứng lại nó, dù là trong đời sống công cộng hay riêng tư, và đặc biệt là khi cảm xúc đang bị kích động.

Cảm nhận về Chất hài bị cùn mòn đáng kể bởi thói quen chơi chữ và sử dụng văn phong hài hước: trò dùng những từ đa âm tiết kiểu Johnson để bàn về những thứ nhỏ nhặt vô tận. Và nó thực sự có thể mang tính hài hước, theo một kiểu nào đó, thế nhưng nó sẽ trượt khỏi trọng tâm bằng cách đi vòng vo quá xa.

Một vị công tước người Pháp tên là Pasquier đã qua đời cách đây vài năm ở tuổi rất cao. Ông từng là vị công tước Pasquier đáng kính trong những năm cuối đời cho đến tận lúc lâm. Từng có lời đồn đại rằng công tước Pasquier là một kẻ ích kỷ sâu sắc. Do đó, một cuộc tranh luận đã nổ ra, và được duy trì nảy lửa, về sự ích kỷ thái quá của những kẻ – trong một thế giới đầy rẫy rắc rối, những lời kêu gọi hành động và vô số bổn phận – lại biết tiết kiệm sức lực của mình chỉ để sống cho bằng được. Cuộc tranh luận cho rằng liệu có thể nào một trái tim thực sự hào phóng lại vẫn tiếp tục đập cho đến tận tuổi một trăm? Công tước Pasquier không phải là không có những người bênh vực, những người đã ví ông với cây sồi trong rừng – một sự so sánh đáng kính.

Cuộc tranh luận được tiến hành ở cả hai phía với tinh thần và sự nghiêm túc, được làm nhẹ đi ở chỗ này chỗ khác bằng những nét chạm nghịch ngợm mang tính đa âm tiết, gợi nhớ đến việc theo đuổi sự vui đùa một cách nghiêm túc của những đứa trẻ trốn học, tin chắc rằng chúng đã thoát khỏi tầm mắt của thầy giáo và thỉnh thoảng lại bắt chước thầy. Và người ta hoàn toàn có thể đoán rằng Ý niệm trào lộng lúc ấy đang ngủ quên, không hề giám sát họ! Nó cuối cùng đã chốt lại rằng, hoặc công tước Pasquier là một vết nhơ đối với nhân loại chúng ta vì bám lấy sự sống quá lâu, hoặc ông đã tôn vinh nhân loại bằng sự kháng cự bền bỉ đến thế trước kẻ thù. Giống như một kẻ tự vướng vào mê cung cảm thấy vui mừng khi tìm được lối ra ở cổng vào, cuộc tranh luận cứ lượn lờ để kết thúc bằng đúng điểm khởi đầu của nó.

Giờ đây, hãy tưởng tượng một bậc thầy trào lộng xử lý chủ đề này, và đặc biệt là cuộc tranh luận xung quanh nó. Hãy tưởng tượng một vở kịch hài kiểu Aristophanes mang tựa đề *KẺ SỐNG TRĂM TUỔI*, với những khúc ca hợp xướng ca ngợi cái chết anh hùng từ thưở thanh xuân, và ca ngợi cả một sức sống ngoan cố, cùng với nhà thơ cười nhạo dàn hợp xướng; và câu hỏi lớn để tranh cãi trong phần đối thoại, về độ tuổi chính xác mà một người nên chết, đến từng phút một, để hắn có thể bảo toàn sự kính trọng của đồng loại, theo sau là một nỗ lực có hệ thống nhằm đo đạc chính xác bằng các đường thẳng, với một sợi dây thừng dai dẳng từ một phía và một chuỗi tiếng ngáp dài từ phía bên kia, về khả năng chịu đựng sự sống của vị cựu chiến binh, và khả năng chịu đựng HẮN của chúng ta, với những cú kéo phăng phăng dữ dội từ cả hai phe.

Góc nhìn trào lộng về cuộc tranh cãi ấy chẳng phải sẽ chiếu rọi lên nó và những kẻ tranh cãi tựa như ánh chớp hay sao? Có những câu hỏi, cũng như những con người, mà chỉ có Chất hài mới có thể chạm tới một cách phù hợp.

Aristophanes có lẽ đã đội vòng hoa lên cái cây cổ thụ ấy, với nhận xét an ủi dành cho hàng dài những kẻ thừa kế đang mòn mỏi chờ đợi lão già trăm tuổi, rằng họ sống để thấy được diễm phúc của việc xuất thân từ một dòng dõi khỏe mạnh. Mũi tên chế giễu của ông chủ yếu sẽ nhắm vào những kẻ tranh cãi. Bởi vì nền tảng duy nhất của cuộc tranh luận chính là tính cách của lão già, và đám ngụy biện chẳng cần phải chứng minh rằng chúng ta rất nhanh chóng sẽ phải ngấy đến tận cổ trước một điều tồi tệ. Một kẻ sống trăm tuổi không nhất thiết phải khơi gợi Ý niệm trào lộng, cái xác của một vị công tước cũng vậy. Nó không được khơi gợi theo trật tự tự nhiên, cho đến khi chúng ta kéo sự chú ý sắc bén của nó đến một hoàn cảnh nào đó mà chúng ta đã pha trộn vào đó những lợi ích cá nhân, hoặc sự mê muội suy đoán của mình. Sự Ngù Mờ, vốn vô cảm trước Chất hài, lại có đặc quyền khơi dậy nó; và việc đặt một ngón tay ngù mờ lên các vấn đề của đời sống con người chính là phương pháp chắc chắn nhất để thiết lập kết nối điện với một cỗ bình điện tiếng cười – ở nơi mà Ý niệm trào lộng đang ngự trị.

Nhưng nếu Ý niệm trào lộng ngự trị nơi chúng ta, và chúng ta có một Aristophanes để gắn ngạnh và thêm cánh cho nó, chúng ta sẽ được hít thở bầu không khí của Athens. Những kẻ chuyên tuôn ra những lời vô vị như những vòi nước công cộng giờ đây sẽ bị ngắt lời ngay giữa phố và bị bỏ lại trong trạng thái chớp chớp mắt, câm n lặng như những trụ thư tín, với những bức thư bị nhét vào miệng. Chúng ta sẽ rũ bỏ được bóng ma đè nặng, nỗi ám ảnh quen thuộc đáng sợ của chúng ta – thứ mà một số người gọi là sự nhàm chán – cái thứ mà sự sỉ nhục hiện tại của chúng ta là chỉ đủ sống để ghê tởm nó, chứ chưa bao giờ đủ nhạy bén để đánh bại nó. Sẽ có một nhận thức Hellen rực rỡ, tích cực và rõ ràng về các sự thật. Hơi sương của Sự phi lý và Chủ nghĩa đa cảm sẽ bị thổi bay trước khi chúng kịp đơm hoa kết trái. Lúc đó Kẻ bi quan và Kẻ lạc quan sẽ trôi về đâu? Dù thế nào thì họ cũng sẽ có một lượng khán giả bị thu hẹp lại. Dù vậy, có lẽ sự thay đổi những kẻ độc tài, từ sự đần độn già nua tốt bụng sang trí tuệ sắc bén như dao – thứ về bản chất là tàn nhẫn – sẽ vượt quá sức chịu đựng của chúng ta. Việc cắt đứt mối liên kết giữa những kẻ đần độn – bao gồm sự đồng thuận anh em rằng có cái gì đó quá thông minh đối với họ, và vượt quá tầm với của họ – không phải là điều có thể xem nhẹ; bởi vì, dẫu mối liên kết có vẻ mong manh đến đâu, nó tương đương với một lớp xi măng tạo nên khối bê tông kết dính đặc quánh, điều vô cùng đáng mong ước trong ước tính của một nhà chính trị.

Một Aristophanes chính trị, tận dụng lợi thế về quyền tự do ca hát Bacchus của mình, từng bị coi là quá sức chịu đựng đối với một Athens chính trị. Tôi không yêu cầu phải hồi sinh ông, nhưng tôi mong ước ánh sáng sắc bén của một tinh thần như thế có thể ở bên chúng ta để thỉnh thoảng chiếu rọi lên các vấn đề công cộng, các chủ đề công cộng, nhằm khiến chúng quay cuồng một cách nhanh nhẹn hơn.

Ông căm ghét với sự nhiệt thành của nhà chính trị đối với tên ngụy biện làm vẩn đục sự trong sáng của tư duy, nhà thơ phá hủy sự thanh ịnh của phong cách, gã demagogue – “con quái vật răng cưa” – kẻ mà ông cho là đã bịp bợm đám đông, và ông giữ vững lập trường chống lại chúng bằng sức mạnh của tiếng cười, cho đến khi những án phạt tiền, việc cắt xén quyền tự do trào lộng của ông trong dàn hợp xướng, và cuối cùng là sự sụp đổ của Athens – nơi không còn đủ khả năng chi trả cho chi phí của dàn hợp xướng – đã đẩy hoàn toàn ông vào thể loại đối thoại và đưa ông ra trước vành móng ngựa. Sau thảm họa đó, nhà thơ – kẻ từng luôn ngước nhìn về những con người ở Marathon và Salamis – hẳn đã cảm thấy rằng ông đã tiên liệu trước được nó; và rằng ông đã khôn ngoan khi lên tiếng cầu hòa, chế nhễu thói kiêu căng quân sự, cùng sinh vật già cả hay bắt bẻ Demus, điều mà chúng ta có thể công nhận. Ông sở hữu năng khiếu khôn ngoan đời thường của nhà thơ trào lộng – thứ không phải lúc nào cũng bao hàm trí tuệ chính trị; thế nhưng xu hướng chính trị của ông đã nâng ông lên khỏi thói quen chuộng kịch hề ồn ào của dòng Hài kịch Cũ. Ông từng lăng mạ Socrates, nhưng Xenophon, học trò của Socrates, thông qua tài hùng biện được huấn luyện của mình đã cứu lấy Mười Vạn Quân. Aristophanes có thể nói rằng nếu các cảnh báo của ông được tuân theo thì đã chẳng có cuộc viễn chinh đánh thuê nào của người Hy Lạp dưới thời Cyrus xảy ra. Tuy nhiên, Athens lúc bấy giờ đang nằm trên một bãi đất lở, sụp đổ dần; chẳng ai có thể ngăn cản nổi. Ngước nhìn về quá khứ, bảo vệ thời đại cũ, là một chủ nghĩa bảo thủ tự nhiên nhất, và vô ích nhất. Cây lô-hô đã trổ hoa. Dù đúng hay sai trong chính trị và những lời phê bình của mình, và hãy ghi nhớ những công cụ ông chơi đùa cùng và khán giả mà ông phải chinh phục, vẫn luôn tồn tại một ý niệm trong các vở hài kịch của ông: đó là Ý niệm về Tinh thần công dân tốt.

Ông khó lòng được hồi sinh. Ông đứng sừng sững, giống như Shakespeare, như một đỉnh cao bất khả chạm tới. Swift từng nói về ông với một tiếng cười khúc khích đầy âu yếm:

“Nhưng còn Aristophanes trào lộng, Gã chó má ấy quá dí dỏm và quá báng bổ.”

Aristophanes từng bị coi là “báng bổ”, dưới sự chỉ đạo của trâm biếm, khác với các đối thủ Cratinus, Phrynichus, Ameipsias, Eupolis và những người khác – nếu chúng ta tin lời ông – những kẻ trong phiên chợ Donnybrook hỗn loạn của thời đại Hài kịch đã nện nhau và nện tất cả mọi người bằng sự nhiệt tình tuyệt đối y như ông, nhưng lại nhắm vào những mục tiêu nhỏ nhặt, và lôi những người phụ nữ cụ thể ra đùa cợt, điều mà ông không làm. Ông là tổng hòa của rất nhiều con người, tất cả đều đạt đến một tầm vóc vĩ đại nhất định. Chúng ta có thể dựng lên một hình dung về năng lực của ông nếu ta đặt Rabelais cưỡi trên lưng Hudibras, nâng ông lên với âm điệu thi ca của Shelley, ban cho ông một mạch ngầm của Heinrich Heine, và khoác lên ông chiếc áo choàng của phái Chống-Gia-cô-binh (Anti-Jacobin), thêm vào đó (để ông có chút máu mủ Ireland) một chút phong cách của Grattan, trước khi ông chuyển động.

Nhưng những nỗ lực hình dung về một vĩ nhân bằng cách dung hợp các nhân vật nhỏ bé hơn là điều vô ích, và cần phải được tha thứ. Giả sử Wilkes đóng vai trò nhân vật chính trong một quốc gia liên tục lao vào chiến tranh dưới một gã Lamachus đội mũ lông, với kẻ thù định kỳ đốt phá đất nước đến tận các cổng thành London, và một Samuel Foote với thiên tài phi thường tấn công hắn bằng sự chế nhễu, tôi nghĩ điều đó mang lại một khái niệm về cuộc chiến mà Aristophanes dấn thân vào. Gã hói đầu hay cười này, theo cách hắn tự gọi, là một nhà viết tiểu luận xuất chúng, sử dụng tiếng cười làm vũ khí chính trị; một tiếng cười không màng kiêng kị, tiếng cười của Hercules. Hắn được nạp đầy sự dí dỏm, giống như thứ tỏi mà hắn nhắc đến việc cho gà chọi ăn, để khiến chúng chiến đấu giỏi hơn. Và hắn là một nhà thơ trữ tình mang độ tinh tế bay bổng, với khúc ca bình dị của một nhà thơ quốc gia vui tính, cùng một nhà thơ giàu cảm xúc đến mức chiếc mặt nạ trào lộng đôi khi chẳng rộng hơn một mảnh vải che mặt để phơi bày những nét nghiêm turơng của diện mạo chung chúng ta. Hắn không thể được hồi sinh; nhưng nếu phương pháp của hắn được nghiên cứu, một phần ngọn lửa trong ông sẽ truyền sang chúng ta, và chúng ta có thể được hồi sinh.

Nói chung, công chúng Anh tỏ ra đồng điệu nhất với dòng hài kịch nguyên thủy kiểu Aristophanes này – nơi chất trào lộng được tô điểm bởi sự quái dị, châm biếm nhọn hoắt đầu lưỡi và trâm biếm là một thanh gươm trần. Họ mang trong mình nền tảng của Chất hài: sự trân trọng khôn ngoan đời thường. Họ kịch liệt ghét bỏ mặt trái của nó. Họ sở hữu một tiếng cười đầm ấm, dẫu đó không phải là tiếng cười lớn (*gros rire*) của người Gaul tung tóe muối thô (*gros sel*), cũng chẳng phải tiếng cười tiêu hóa bằng trí tuệ của người Pháp tinh tế. Và nếu bây giờ họ – giống như một vị vua đi kèm một đoàn chú lùn, quá nhiều kẻ chọc cười đá văng cuốn từ điển để không phải phản tỉnh rằng mình đôi lúc ngớ ngẩn – trông có vẻ thế khi vị vua trầm ngâm tự ngạc nhiên với ý niệm về một ý niệm của chính mình. Và họ có thói quen soi gương. Họ hẳn phải thấy rằng mình có gì đó bất ổn. Đến mức nào thì ngay cả tầng lớp khá giả hơn của họ cũng sẽ chịu đựng mà không hề nghĩ đến việc phòng thủ, khi kẻ đang hành hạ họ lại được bảo vệ khỏi sự châm biếm, ta có thể đọc được trong *Hồi ký của một thời đại trước*, nơi mụ chủ nhà thô lỗ bạo ngược của một dinh thự tiếp khách lớn đã xào xáo khách khứa và chơi đùa họ như một cỗ bài, với ước tính chính xác của mụ về sức mạnh của từng người được in sẵn lên họ: thế nhưng dinh thự này vẫn tiếp tục là nơi nổi tiếng nhất ở nước Anh; và mụ đàn bà ấy chưa từng xuất hiện trên bản in hay trên sân khấu kịch dưới hình mẫu trào lộng mà mụ vốn là.

Người ta từng gợi ý rằng họ vẫn chưa thấu hiểu về mặt tâm linh ý nghĩa của việc sống trong xã hội; bởi vì ai có thể vui vẻ hơn, lanh lợi hơn ở những cánh đồng, và với tư cách là những nhà thám hiểm, thực dân, thợ săn rừng sâu? Họ hạnh phúc trong những bài tập thể lực vất vả, và cả trong trạng thái nghỉ ngơi hoàn toàn. Trạng thái trung gian, khi họ được yêu cầu trò chuyện với nhau, về những vấn đề khác ngoài công việc kinh doanh hay sở thích cá nhân, lại phơi bày gương mặt mang vẻ ngơ ngác kỳ lạ, tựa như hốc mắt thiếu đi tròng mắt. Chất hài liên tục bùng nổ trong đời sống xã hội, và nó đè nặng lên họ vì không được nhận thức.

Chẳng hạn, tại một buổi tiệc tối, một vị khách vô tình gia nhập một công ty mai táng, lại lịch thiệp nài nỉ những người khác ký tên làm cổ đông, huyên thuyên về những lợi ích tích lũy được trong trường hợp họ đột ngột qua đời trong nay mai, sự trong lành của vị trí đất nghĩa trang, sự phù hợp của thổ nhưỡng cho việc tiêu hủy nhanh chóng thi hài của họ, vân vân; và họ uống lấy sự ủ dột từ gã người kỳ quặc ấy, rồi mắc chứng khó tiêu, không nhìn nhận hắn dưới một ánh sáng sắc nét rõ ràng – thứ lẽ ra sẽ ra lệnh cho họ thưởng thức chất trào lộng từ hắn. Hoặc người ta nhắc đến việc một nghị sĩ mới đắc cử vào Quốc hội của chúng ta kỷ niệm sự kiện vinh quang của mình bằng cách xuất bản một cuốn sách về giá cước xe ngựa, đề tặng một người nữ thân nhân đã qua đời, và lời bình luận cho việc đó chỉ là từ “Thế ư?”. Nhưng, chỉ để tạo ra sự tương phản, hãy quay sang một cảnh tượng không có gì là hiếm hoi của ngày hôm qua trên trường đua ngựa, nơi một tay nài ngựa trẻ xuất sắc vừa bị gãy xương quai xanh, lại phi ngựa rời đi ngay sau đó, bất chấp lệnh cấm của bác sĩ, với cơ thể được băng bó nẹp giò tạm bợ, đến điểm tập trung xa nhất trong vùng, chắc chắn sẽ chạm trán ngay vị bác sĩ của mình – người đầu tiên anh ta đụng độ. “Tôi đến đây cố tình để tránh mặt anh,” bệnh nhân nói. “Tôi đến đây cố tình để chăm sóc cho anh,” bác sĩ đáp. Họ phi nước đại lao đi, và tiến đến một con lạch đang dâng nước. Bệnh nhân vượt qua nó cực kỳ đẹp mắt: còn bác sĩ thì lộn nhào ngã tõm xuống nước. Toàn bộ trường đua sục sôi với niềm hân hoan sâu sắc nhất cho từng sự cố và từng ánh sáng giao thoa trên đó; và gã nào không biết mở miệng thốt lên lời nào khi phi ngựa về nhà hẳn sẽ bị coi là đần độn.

Trong văn xuôi tiếng Anh, chúng ta từng có những nhà văn trào lộng tuyệt vời. Bên cạnh Fielding và Goldsmith, còn có Miss Austen, người có nhân vật Emma và Mr. Elton có thể bước thẳng vào một vở hài kịch, nếu cốt truyện được dàn dựng sẵn cho họ. Những cuốn tiểu thuyết bị lãng quên của Galt sở hữu một số nhân vật và nét chạm khắc của chất trào lộng sắc sảo. Trong văn học thơ ca của chúng ta, chất hài mang nét tinh tế và duyên dáng vượt trên cả sự chạm trổ của người Ý và người Pháp. Nhìn chung, tuy nhiên, tầng lớp tinh hoa nước Anh xuất sắc trong nghệ thuật châm biếm, và họ là những nhà hài hước cao quý. Bản chất quốc gia chuộng lối đánh đấm mạnh tay, với một mục đích đạo đức để ban phép cho nó; hoặc chuộng sự hồng hào, đôi khi là bi lụy (*larmoyant*), hòa nhã, không hề thiếu nam tính khi nó chớm chạm đến sự dịu dàng, và với một sức hút kỳ lạ dành cho sự đần độn dày đặc, để trang trí cho nó đôi tai lừa cùng những vành hào quang rừng rú đẹp đẽ nhất. Nhưng Chất hài lại là một tinh thần hoàn toàn khác.

Bạn có thể đánh giá năng lực cảm thụ Chất hài của mình bằng việc có thể phát hiện ra sự lố bịch của những người bạn yêu thương mà không hề bớt yêu họ đi; và hơn thế nữa là việc có thể nhìn thấy bản thân mình có phần lố bịch trong đôi mắt thân yêu, rồi chấp nhận sự sửa sai mà hình ảnh của bạn trong mắt họ đề xuất.

Mỗi người trong một cặp đôi yêu nhau có thể sẵn sàng, như chúng ta thường nói, chết vì người kia, nhưng lại không sẵn sàng thốt ra một lời dễ chịu vào đúng thời điểm; thế nhưng nếu trí tuệ của họ đủ nhạy bén để nhận ra rằng họ đang rơi vào một hoàn cảnh trào lộng – điều mà các cặp đôi yêu nhau chắc chắn sẽ vướng phải khi họ cãi vã – họ sẽ chẳng cần đợi trăng sao, lịch thiên văn hay một nàng Dorine mang dòng thủy triều của cảm xúc dịu dàng quay trở lại, để rồi nắm chặt tay và môi kề môi.

Nếu bạn phát hiện ra sự lố bịch, và lòng nhân hậu của bạn bị đóng băng bởi điều đó, bạn đang trượt vào tầm nanh vuốt của Trâm biếm.

Nếu thay vì lao vào tấn công kẻ lố bịch bằng chiếc gậy châm biếm để bắt hắn quằn quại và thét lên thành tiếng, bạn thích châm chích hắn dưới lớp vỏ bán-âu yếm, khiến hắn trong cơn đau đớn phải hoang mang tự hỏi liệu có thực sự thứ gì vừa làm tổn thương mình không, bạn chính là một cỗ máy của Trớ trêu (Irony).

Nếu bạn cười ngất quanh hắn, quật ngã hắn, lăn lộn hắn, giáng cho hắn một cú vỗ và rơi một giọt nước mắt lên hắn, nhận ra sự tương đồng giữa hắn với bạn và giữa bạn với người láng giềng, tha thứ cho hắn ít như việc bạn né tránh, xót xa cho hắn nhiều như việc bạn phơi bày, đó chính là tinh thần Hài hước (Humour) đang lay động bạn.

Chất hài – vốn là sự nhận thức – chính là tinh thần thống trị, đánh thức và trao mục đích cho những sức mạnh tiếng cười này, nhưng nó không được phép bị nhầm lẫn với chúng: nó bao bọc một hình thái mỏng manh hơn của chúng, khác biệt với trâm biếm ở chỗ không đâm sâu sắc nhọn vào các giác quan đang run rẩy, và khác với hài hước ở chỗ không xoa dịu và ủ ấm chúng, hay chỉ ra cho chúng một tầm vóc rộng lớn hơn giới hạn của thế giới bận rộn này.

Tác phẩm *Jonathan Wild* của Fielding trình bày một trường hợp về sự phân biệt kỳ lạ này, khi con người mang tầm vóc vĩ đại nổi bật ấy nhận xét về sự bất công của một phiên tòa nơi bản án kết tội được quyết định bởi mười hai gã thuộc phe đối lập; bởi vì nó không mang tính châm biếm, nó không mang tính hài hước; thế nhưng việc nghe một tên tội phạm có tội phản đối rằng “phe” của chính hắn phải có tiếng nói trong Luật pháp lại mang tính trào lộng tột độ. Nó mở ra một lối đi vào quá trình suy luận của bọn tội phạm. {9} Và Chất hài không hề bị xóa bỏ dẫu ta có giả định rằng Jonathan đang bộc lộ khiếu hài hước của mình đi nữa. Tôi có thể đã mơ thấy điều này hoặc được ai đó gợi ý cho, bởi vì khi tra cứu lại *Jonathan Wild*, tôi không tìm thấy nó.

Hãy áp dụng trường hợp này vào gã đàn ông mang trí tuệ sâu sắc, kẻ luôn chắc chắn về bản án kết tội dành cho mình từ phe đối lập, và khi đó nó ngừng mang tính hài hước và sẽ biến thành châm biếm.

Cái nhìn của Fielding đối với Richardson về cơ bản mang tính hài hước. Phương pháp chỉnh đốn nhà văn đa cảm của ông là sự pha trộn giữa chất trào lộng và hài hước. Mục sư Adams là một sáng tạo của sự hài hước. Nhưng cả việc thai nghén lẫn cách trình bày Alceste và Tartuffe, Celimene và Philaminte, đều thuần túy mang tính trào lộng, hướng đến trí tuệ: chẳng có chút hài hước nào trong đó, và chúng làm tươi mới trí tuệ – thứ được đánh thức để phát hiện ra chất hài của chúng – bằng sức mạnh của sự tương phản mà chúng mang lại giữa bản thân chúng với thế giới khôn ngoan hơn xung quanh; nghĩa là xã hội, hay tập hợp những bộ óc nơi tinh thần trào lộng phát xuất nguồn cội.

Byron sở hữu sức mạnh hài hước tuyệt vời, và dòng thơ châm biếm mang tính thi ca nhất mà chúng ta từng có ví dụ, đôi khi dung hợp thành thứ trớ trêu cứng rắn. Ông không có cảm quan trào lộng mạnh mẽ, bằng không ông đã chẳng tự đặt mình vào vị trí chống đối xã hội – thứ vốn đi ngược lại hoàn toàn với Chất hài; và trong triết học của ông, nếu được đánh giá bởi các triết gia, ông là một nhân vật trào lộng, chính vì sự thiếu hụt này. “So bald er philosophirt ist er ein Kind” [Ngay khi triết lý, hắn chỉ là một đứa trẻ], Goethe đã nói về ông như vậy. Carlyle nhìn nhận ông dưới ánh sáng trào lộng này, và đối xử với ông theo lối hài hước.

Nhà Châm biếm là một tác nhân đạo đức, thường là một kẻ dọn rác xã hội, hoạt động dựa trên lượng mật đắng tích tụ.

Kẻ Biếm họa Trớ trêu là thế này hay thế khác, tùy theo ý thích thất thường của hắn. Trớ trêu chính là sự hài hước của châm biếm; nó có thể hung tợn như ở Swift, với một mục đích đạo đức, hoặc điềm đạm như ở Gibbon, với một mục đích hiểm độc. Sự trớ trêu làm hàng phô ph trương bứt rứt muốn được nhìn thấy, và sự trớ trêu liếc mắt đưa tình để bạn không thể hiểu lầm ý đồ của nó, đều là những thất bại trong nỗ lực châm biếm nhưng lại ngộ nhận mình đang sở hữu kho báu của sự đa nghĩa.

Nhà Hài hước hạng xoàng là một kẻ mang lại tiếng cười sảng khoái, tạo tông điệu cho cảm xúc và đôi khi để cảm xúc lấn át bản thân. Nhưng nhà hài hước cao cấp lại sở hữu sự dung chứa các mặt đối lập vượt xa tầm với của nhà thơ trào lộng.

Cả trái tim lẫn khối óc đều cười vang trước Don Quixote, và rồi bạn vẫn miên man suy ngẫm về ông. Sự đặt cạnh nhau giữa hiệp sĩ và người hầu là một sáng tạo mang tính Trào lộng, sự đối lập về bản chất của họ lại cực kỳ hài hước. Họ khác biệt như hai bán cầu trong thời đại Columbus, thế nhưng họ chạm nhau và được buộc chặt làm một nhờ tiếng cười. Những mục tiêu lớn lao và những tai họa liên tiếp của vị hiệp sĩ, sự dũng mãnh hiệp sĩ được thực thi trên những đối tượng ngớ ngẩn, sự khôn ngoan của ông dọc theo con đường cái quan của những cuộc viễn chinh điên rồ nhất; lòng trắc ẩn mà ông vớt vát ra từ sự chế giễu, và vóc dáng đáng ngưỡng mộ mà ông duy trì khi lê bước qua những thứ kỳ quái và hề hồng đang lao vào tấn công ông, nằm ở những cung bậc cao cả nhất của sự hài hước, dung hợp tình cảm Bi kịch với câu chuyện Trào lộng.

Cú đánh của nhà hài hước vĩ đại mang tầm vóc toàn cầu, với những ánh sáng Bi kịch lấp lánh trong tiếng cười của ông.

Lấy một nhà hài hước vĩ đại còn sống, dẫu không mang tính sáng tạo, để dẫn dắt miêu tả của chúng ta: chiếc hộp sọ của Yorick nằm trong tay ông vào những mùa lễ hội của chúng ta; ông nhìn thấy những viễn cảnh về nguyên thủy nhân loại đang nhảy múa ngớ ngẩn dưới lớp áo choàng lộng lẫy của nghi lễ. Linh hồn chúng ta buộc phải bốc cháy khi khoác lên mình sự trang nghiêm, nếu không muốn chạm phải dây thần kinh nhạy bén nhất của ông. Hữu hạn và vô hạn lóe lên từ người này sang người khác cùng với ông, trao cho ông một tư tưởng hai lưỡi thỉnh thoảng hé lộ từ những dòng bình yên nhất của ông, tựa như chiếc lồng đèn của người canh gác cửa sổ đi tuần tra vào ban đêm. Phẩm hạnh và hành động của con người trong xã hội đối với ông, qua sự so sánh sống động với tính tử vong của họ, mang tính quái dị nhiều hơn là đáng kính. Nhưng hãy tự hỏi bản thân, Liệu ông có luôn đáng tin cậy về tính công tâm không? Ông sẽ bay thẳng như chú đại bang sứ giả trở về bên thần Jupiter trước một Anh hùng thực sự. Ông cũng sẽ thực hiện một cú sà xuống đầy quyết tâm không kém nhắm vào kẻ mà ông tự ý lựa chọn, trong khi chúng ta không thể nhận ra đó có phải là một người thực sự hay không. Sức mạnh to lớn này của ông, được xây dựng từ cảm xúc và trí tuệ hợp nhất, thường thiếu đi sự cân đối và sự kín đáo. Các nhà hài hước khi chạm đến Lịch sử hoặc Xã hội thường có tính khí thất thường. Giống như trường hợp của Sterne, họ hay có thói đa cảm; bởi vì đối với họ cảm xúc là ưu tiên hàng đầu, hệt như những ca sĩ. Hài kịch, mặt khác, là sự giải mã tâm trí chung và vì lý do đó bắt buộc phải được kìm giữ trong giới hạn. Người Pháp đặt trọng tâm rõ rệt vào *mesure et gout* [chừng mực và gu thẩm mỹ], và họ thừa nhận họ mang ơn Moliere biết bao trong việc dẫn dắt họ đến sự giản đơn đúng mực và gu thẩm mỹ. Chúng ta có thể dạy họ nhiều điều; họ có thể dạy chúng ta điều này.

Nhà thơ trào lộng đứng trong không gian chật hẹp, hay ô vuông khép kín, của xã hội mà ông miêu tả; và ông hướng đến không gian chật hẹp hơn nữa của trí tuệ con người, với tham chiếu đến tác động của thế giới xã hội lên tính cách của họ. Ông không bận tâm đến điểm khởi đầu, điểm kết thúc hay bối cảnh xung quanh, mà chỉ tập trung vào những gì bạn đang dệt nên lúc này. Để thus hiểu tác phẩm của ông và đánh giá nó, bạn phải có một tình yêu chừng mực dành cho đồng loại và một ước tính chừng mực về những phẩm chất văn minh của chúng ta. Mục đích và công việc của nhà thơ trào lộng bị hiểu lầm, ý nghĩa của ông không được nắm bắt cũng như góc nhìn của ông không được đón nhận, khi ông bị buộc tội làm ô nhục bản chất con người và thù địch với tình cảm, có khuynh hướng cay độc và lạm dụng tiếng cười một cách bất công. Những ai phát hiện ra sự mỉa mai trong Hài kịch làm thế là vì họ chọn nhìn thấy nó trong cuộc đời. Sự nghèo đói, nhà châm biếm nói, không có gì khắc nghiệt hơn bản thân nó ngoài việc nó biến con người thành kẻ lố bịch. Nhưng nghèo đói chưa bao giờ là lố bịch dưới góc nhìn trào lộng cho đến khi nó cố gắng dùng những khúc giẻ rách để che đậy sự trần trụi trong một nỗ lực thảm hại nhằm tỏ ra đoan trang, hoặc ngốc nghếch cạnh tranh với sự hào nhoáng xa hoa. Caleb Balderstone, trong nỗ lực duy trì danh dự của một gia đình quý tộc trong trạng thái ăn mày, là một nhân vật trào lộng tuyệt mĩ. Trong trường hợp của những “họ hàng nghèo,” mặt khác, chính những kẻ giàu có – những kẻ bị làm cho bối rối – mới thực sự là kẻ buồn cười; và việc cười nhạo nhóm trước mà không nhìn thấy chất hài của nhóm sau chính là phơi bày sự đần độn trong nhãn quan. Nhà Hài hước và Nhà Châm biếm thường xuyên săn bắn cùng nhau dưới tư cách là những Kẻ biếm họa trớ trêu trong cuộc săn lùng sự quái dị, gạt phăng Chất hài ra bên ngoài. Đó là một khoảnh khắc đầy cảm xúc trong lịch sử của Thân vương Nhiếp chính, khi Cựu trào lịch thiệp nhất Châu Âu oà khóc trước một nhận xét châm biếm của Beau Brummell về kiểu dáng chiếc áo khoác của ngài. Hài hước, Châm biếm, Trớ trêu cùng nhau chồm hổm vồ lấy nó như con mồi chung. Tinh thần trào lộng ngắm nhìn nhưng không chạm vào nó. Nếu được đưa vào hành động, nó sẽ mang tính kịch hề. Nó quá thô tục đối với Hài kịch.

Những sự cố mang tính chất giáng sự lố bịch xuống bản chất bất hạnh của chúng ta thay vì lối sống quy ước của chúng ta, sẽ khơi gợi tiếng cười chế giễu, thứ cản trở Ý niệm trào lộng. Nhưng sự chế giễu bị đánh bại bởi màn chơi đùa của trí tuệ. Hầu hết các nguyên nhân đáng nghi ngờ trong tranh chấp đều cởi mở trước sự diễn giải trào lộng, và bất kỳ lời biện hộ trí tuệ nào cho một nguyên nhân đáng nghi ngờ đều chứa đựng mầm mống của một Ý niệm về Hài kịch.

Tiếng cười của trâm biếm là một cú đấm vào lưng hoặc vào mặt. Tiếng cười của Hài kịch mang tính phi cá nhân và sự lịch thiệp vô song, gần với một nụ cười hơn; thường chẳng hơn gì một nụ cười. Nó cười qua tâm trí, bởi vì tâm trí dẫn dắt nó; và nó có thể được gọi là sự hài hước của tâm trí.

Một thử nghiệm xuất sắc về nền văn minh của một quốc gia, như tôi đã nói, chính là sự hưng thịnh của Ý niệm trào lộng và Hài kịch; và thử nghiệm của Hài kịch chân chính là nó phải đánh thức được tiếng cười mang tính tư duy.

Nếu bạn tin rằng nền văn minh của chúng ta được xây dựng trên sự khôn ngoan lành mạnh (và đó là điều kiện tiên quyết của sự minh mẫn để tin điều đó), bạn sẽ, khi chiêm ngưỡng con người, nhận ra một Tinh thần ngự trị bên trên; không hề thần thánh hơn ánh sáng hắt ngược lên từ những bề mặt kính, nhưng đầy rực rỡ và cảnh giác; chưa từng phóng vụt qua họ, cũng chẳng tụt lại phía sau; bám sát họ đến mức nó có thể bị nhầm tưởng là một hình ảnh phản chiếu nô dịch, cho đến khi các nét mặt của nó được nghiên cứu. Nó mang đôi mày của bậc hiền triết, và sự cay độc đầy nắng của một vị thần rừng ẩn hiện ở khóe của đôi môi khép hờ được kéo lại trong sự cảnh giác nhàn nhạt của độ căng một nửa. Nụ cười tiệc tùng mảnh mai ấy, có hình dáng như chiếc cung dài, từng là một tiếng cười lớn tròn vo của thần satyr, từng hất tung đôi mày lên như một pháo đài được nâng lên bằng thuốc súng. Tiếng cười ấy sẽ trở lại, nhưng nó sẽ thuộc về trật tự của nụ cười, được tôi luyện tinh tế, phơi bày ánh nắng của tâm trí, sự phong phú về tinh thần hơn là sự to lớn ầm ĩ. Vẻ bề ngoài thông thường của nó là sự quan sát không màng vồn vã, tựa như đang khảo sát một cánh đồng trù phú và có thời gian rảnh rỗi để chộp lấy những miếng mồi đã chọn, không chút háo hức bồn chồn. Tương lai của con người trên trái đất không hấp dẫn nó; sự trung thực và cân đối của họ trong hiện tại mới là thứ thu hút; và bất cứ khi nào họ phình to mất cân đối, thổi phồng quá mức, làm dáng, kiêu căng, ba hoa, đạo đức giả, pédant, điệu đà một cách kỳ quái; bất cứ khi nào nó thấy họ tự lừa dối hoặc bị bịp bợm, sa đà vào thói sùng bái thần tượng, trôi dạt vào sự hão huyền, tụ tập trong những sự ngớ ngẩn, lên kế hoạch cận thị, mưu mô mất trí; bất cứ khi nào họ mâu thuẫn với những tuyên bố của bản thân, và vi phạm các quy luật bất thành văn nhưng có thể nhận thức được ràng buộc họ trong sự cân nhắc lẫn nhau; bất cứ khi nào họ xúc phạm lý trí lành mạnh, công lý công bằng; giả tạo trong sự nhún nhường hoặc ngập tràn thói kiêu ngạo, cá nhân hay tập thể – Tinh thần ngự trị bên trên sẽ nhìn xuống với vẻ mặt nhân văn đầy ác ý và thả một luồng ánh sáng xiên xẹo lên họ, theo sau là những tràng cười vang dội như tiếng bạc. Đó chính là Tinh thần Trào lộng.

Không phân biệt được nó tức là mù tịt như bò trước thế giới tâm linh, và phủ nhận sự tồn tại của một tâm trí con người ở nơi mà tâm trí con người đang kết hợp hoạt động.

Bạn phải, như tôi đã nói, tin rằng trạng thái xã hội của chúng ta được xây dựng trên sự khôn ngoan lành mạnh, bằng không bạn sẽ không bị ấn tượng bởi những sự tương phản mà Tinh thần Trào lộng nhận thức được, hay có nó để trông cậy làm sự an ủi của mình. Trên thực tế, bạn sẽ đứng trong luồng ánh sáng xiên xẹo kỳ lạ đó, chính bản thân bạn được rọi sáng trước mắt công chúng với tư cách là chính mục tiêu săn đuổi và con mồi bị định đoạt của thứ mà bạn không thể thấu hiểu. Nhưng việc cảm nhận sự hiện diện của nó và nhìn thấy nó chính là sự bảo đảm cho bạn rằng có rất nhiều bộ óc minh mẫn và vững chãi đang đứng cùng bạn trong những gì bạn đang trải nghiệm: và điều này tự thân nó tha thứ cho bạn khỏi sự đau đớn của cơn nóng giận châm biếm, và khát khao cay đắng muốn giáng những đòn nặng nề. Bạn chia sẻ sự vĩ đại của cơn thịnh nộ, thứ vốn không làm tổn thương những kẻ ngớ ngẩn, mà chỉ đơn giản chứng minh sự ngớ ngẩn của họ. Moliere từng mãn nguyện khi trả thù các nhà phê bình vở *Ecole des Femmes* bằng cách viết tác phẩm *Critique de l’Ecole des Femmes*, một trong những nghiên cứu khôn ngoan nhất cũng như vui tươi nhất trong lĩnh vực phê bình. Sự nhận thức về tinh thần trào lộng mang lại sự kết giao cao quý. Bạn trở thành công dân của một thế giới chọn lọc hơn, thế giới cao nhất mà chúng ta biết đến có liên kết với thế giới cũ của chúng ta, thứ vốn không nằm ngoài cõi trần gian. Hãy tìm kiếm ở đó tầng lớp thượng lưu không thể chối cãi của bạn! Bạn cảm thấy rằng bạn là một thành viên của cộng đồng văn minh này, rằng bạn không thể trốn chạy khỏi nó và sẽ không muốn trốn dẫu có thể. Niềm hy vọng lớn lao nâng đỡ bạn; sự mệt mỏi không đè bẹp bạn; trong sự cô lập bạn chẳng thấy có sức hút nào đối với sự hão huyền; sự kiêu ngạo cá nhân giảm bớt đáng kể. Tước hiệu công dân của bạn cũng sẽ không loại trừ bạn khỏi những thế giới của trí tưởng tượng hay sự sùng đạo. Tinh thần trào lộng không thù địch với những khúc ca thi ca ngọt ngào nhất. Chaucer sủi bọt với nó; Shakespeare trào dâng; có một tia sáng mặt trăng dịu dàng của nó (nhợt nhạt vì sự tinh tế siêu việt do khoảng cách từ hành tinh xác thịt của chúng ta) trong *Comus*. Pope sở hữu nó, và đó là ánh sáng ban ngày của nửa đêm đang lu mờ Cowper. Nó chỉ thù địch với yếu tố tu sĩ, khi thứ đó, bằng sự phình to tai hại, vượt qua và lấn chiếm ranh giới bổn phận của mình; và khi đó, trong những trường hợp cực đoan, nó quá trung thành với chính mình nên đành câm n lặng, và che khuất ngọn đèn: như, ví dụ, cảnh tượng Bossuet đứng trước thi hài của Moliere; nơi mà các thiên thần bóng tối có thể cười, nhưng con người thì không.

Chúng ta từng có những chiếc bục giảng mang tính trào lộng, như một dấu hiệu cho thấy tiếng cười và sự sùng bái có thể liên minh với nhau: tôi không biết nó trào lộng đến mức nào, hay được trợ giúp bao nhiêu trong việc tạo vẻ bề ngoài đó nhờ sự bất ngờ và sự giải tỏa của sự xuất hiện của nó; ít nhất chúng là phổ biến, được cho là chiếm được cảm tình của thính giả. Tiếng cười dễ bị xuyên tạc, giống như những điều tốt đẹp khác; loại khinh miệt và loại tàn bạo không phải là xa lạ với chúng ta; nhưng tiếng cười được dẫn dắt bởi Tinh thần Trào lộng lại là một thứ rượu vang vô hại, dẫn đến sự điềm đạm đúng bằng mức độ nó làm tươi vui. Nó xâm nhập vào bạn giống như luồng không khí trong lành tràn vào phòng nghiên cứu; giống như khi một trong những sự tương phản bất ngờ của ý niệm trào lộng tràn ngập bộ não như ánh ban mai trấn an. Bạn nhận thức được loại đích thực bằng cảm giác rằng bạn tiếp nhận nó, thưởng thức nó, và có được thứ mà các loài hoa sống nhờ, không khí tự nhiên làm thức ăn. Thứ mà bạn phát ra – tiếng gầm hân hoan – không phải là phần ưu tú hơn; hãy để điều đó cho tình bằng hữu và lợi ích của phổi. Aristophanes hứa với các thính giả của mình rằng nếu họ giữ gìn các tư tưởng của nhà thơ trào lộng cẩn thận, như họ giữ hoa quả khô trong hộp, quần áo của họ sẽ thoang thoảng mùi hương của sự khôn ngoan suốt cả năm. Lời khoác lác đó sẽ không bị coi là trống rỗng bởi những ai có những người bạn lựa chọn đã tự tích trữ theo chỉ dẫn của họ. Những kho tàng tiếng cười lấp lánh như thế chính là những mạch nước trong sa mạc của chúng ta. Sự nhạy cảm trước tiếng cười trào lộng là một bước tiến trong văn minh. Việc co rúm lại khi trở thành đối tượng của nó là một bước tiến trong tu dưỡng. Chúng ta biết được mức độ tinh tế ở con người qua chất liệu khiến họ bật cười, và âm vang của tiếng cười đó; nhưng chúng ta cũng biết rằng những bản tính lớn lao được phân biệt bởi độ rộng lớn của năng lực tiếng cười, và không ai thực sự yêu mến Moliere lại bị lòng yêu mến đó làm cho trở nên tầm thường để khinh miệt hay đần độn trước Aristophanes, dẫu rằng người yêu mến Aristophanes chưa chắc đã vươn lên tới tầm cao của Moliere. Hãy ôm ấp cả hai, và bạn sẽ có toàn bộ âm vực của tiếng cười trong lồng ngực mình. Không gì trên thế giới vượt qua được sự bão bùng vui nhộn trong phân cảnh vở *The Frogs*, khi Bacchus và Xanthias nhận những trận đòn roi từ tay gã OEacus tháo vát, nhằm khám phá ra ai trong hai kẻ là vị thần, thông qua sự trơ lì của hắn trước điều kiện phàm trần của sự đau đớn, và mỗi kẻ, dưới nghĩa vụ không được kêu la, đều giả vờ rằng tiếng tru tréo kinh hoàng của mình – tiếng *iou* — *iou* của vị thần vang dội hơn – thực chất chỉ là việc nén một cái hắt hơi, hoặc nhìn thấy một kỵ sĩ, hay khúc dạo đầu cho lời cầu khẩn một vị thần nào đó: và tên nô lệ xoay sở để vị thần nhận lấy phần đòn roi lớn hơn. Những đoạn văn của Rabelais, một hoặc hai đoạn trong *Don Quixote*, và bữa tối theo phong cách Cổ đại trong *Peregrine Pickle*, đều sở hữu cơn thác đổ của tiếng cười tương tự. Nhưng nó không mang tính soi sáng; đó không phải là tiếng cười của tâm trí. Tiếng cười của Moliere, trong những vở kịch tinh khiết nhất của ông, mang tính chất ethereal [thanh tao], tựa như ánh sáng đối với bản chất chúng ta, tựa như màu sắc đối với tư tưởng chúng ta. Vở *Misanthrope* và *Tartuffe* không có tiếng cười phát ra âm thanh; nhưng các nhân vật đều ngập tràn trong tinh thần trào lộng. Họ đánh thức tâm trí thông qua tiếng cười, xuất phát từ việc bước ra từ tâm trí; và tâm trí chấp nhận họ bởi vì họ là những sự giải mã rõ ràng về một số chương trong Cuốn sách đang mở ra trước mắt tất cả chúng ta. Đứng giữa hai người này là Shakespeare và Cervantes, với tiếng cười phong phú hơn của trái tim và tâm trí hợp làm một; với phần lớn sự mạnh mẽ của Aristophanes, cùng một chút sự tinh tế của Moliere.

Tiếng cười được nghe thấy trong các vòng tròn không được bao trùm bởi Ý niệm trào lộng sẽ vang lên chói tai và vô hồn, giống như văn xuôi được gieo vần, nếu bạn bước vào đó với cảm nhận về sự khác biệt. Bạn sẽ tưởng tượng rằng mình đã thay đổi nơi ở sang một hành tinh cách xa mặt trời hơn. Bạn có thể đang ở giữa những bộ óc quyền năng. Bạn sẽ không tìm thấy các nhà thơ – hoặc chỉ là một kẻ đi lạc, được tôn sùng quá mức. Bạn chắc chắn sẽ tìm thấy những nhà bác học, giáo sư, triết gia nổi tiếng, và những người uyên bác lỗi lạc. Họ có thể mang trong mình mọi yếu tố cấu thành ánh sáng, ngoại trừ Chất hài. Họ đọc thơ, họ diễn ngôn về nghệ thuật; nhưng những năng lực lỗi lạc của họ không nằm dưới sự giám sát cảnh giác của một sự kiểm duyệt tập thể, tinh thần và hiện hữu, thứ mà chúng ta đã ghi nhận. Họ xây dựng một ngôi đền của sự kiêu ngạo; họ nói nhiều bằng giọng của những lời tiên tri; sự hân hoan của họ, nếu không chìm vào sự thô tục, thường là một hình thức của sự hiếu chiến.

Sự thiếu hụt tầm nhìn ở đôi mắt hướng ngoại đã tước đi của họ con mắt lẽ ra phải hướng nội. Họ chưa từng tự cân đong trên chiếc cân tinh tế của Ý niệm trào lộng để có được sự hoài nghi về các quyền lợi và phần hưởng của thế giới; và do đó, họ sở hữu một cá tính đầy cáu kỉnh. Một vị giáo sư người Anh rất uyên bác từng đè bẹp một lập luận trong một cuộc tranh luận chính trị, bằng cách hỏi đối thủ của mình một cách giận dữ: “Anh có biết, thưa anh, rằng tôi là một nhà ngữ văn không?”

Thực tiễn của xã hội lịch sự sẽ giúp ích trong việc huấn luyện họ, và vị giáo sư ngồi trên sofa với những quý cô xinh đẹp ở mỗi bên có thể trở thành học trò của họ và là một học giả về phép lịch sự mà không hề hay biết: ít nhất ông ta là một cảnh tượng đẹp mắt và dễ chịu đối với Nàng Thơ Trào Lộng. Nhưng xã hội được gọi là lịch sự lại bay bổng trong những sự tôn sùng, và ngày mai sẽ nâng niu một người lính sạm nắng, hoặc một người gốc Phi da đen, hoặc một vị hoàng tử, hoặc một nhà linh hồn học: các tư tưởng không thể bám rễ trên nền đất luôn dịch chuyển của nó. Nó còn nghiện ngập trong tự vệ việc huyên thuyên độc quyền về các vấn đề của thế giới quay cuồng chóng mặt của nó, giống như những đứa trẻ trên chiếc đu quay dồn sự chú ý vào con ngựa gỗ hoặc chiếc nôi phía trước chúng, để trốn chạy cảm giác chóng mặt và bảo lưu một khái niệm về bản sắc. Vị giáo sư thà ở ngoài một vòng tròn thường gây bối rối bằng cách tôn vinh thành thần tượng, đôi khi gây khó chịu bằng cách ruồng bỏ, và luôn gây ra sự hỗn loạn còn hơn. Trường phái dạy dỗ một cách nhẹ nhàng về mối nguy cơ liệu một cái đầu văn hóa có thể vẫn là đầu của một kẻ kiêu ngạo, và những sự va chạm có thể giáng xuống những tâm trí bay cao, trống rỗng hay đầy ắp, là đáng được giới thiệu hơn là phạm vi chuyển động không ngừng cung cấp chất liệu cho nó.

Những vùng đất nơi tinh thần trào lộng mờ mịt ở bên trên thường mọc um tùm những vụ mùa thô ráp của vật chất. Lữ khách đã quen với những con đường cao tốc mượt mà và những con người không bị bao phủ bởi gai góc sẽ kinh ngạc, giữa rất nhiều thứ tươi đẹp và đáng trân trọng, khi vấp phải một sự dã man kỳ lạ như thế. Một người Anh từng trả chuyến thăm ngưỡng mộ đến một vị giáo sư ở Miền Đất Văn Hóa, và được ông ta giới thiệu với một vị giáo sư lỗi lạc khác, người mà anh ta cảm thấy hợp cạ đến mức đi dạo riêng với ông ta một buổi chiều. Vị giáo sư đầu tiên, một bậc uyên bác hoàn toàn xứng đáng với tình cảm kính trọng học thuật đã thúc đẩy chuyến thăm, đã hành xử (nếu ta loại trừ con dao găm) với sự ghen tuông báo thù của một ả mỹ nhân Tây Ban Nha bị tổn thương. Sau một khúc dạo đầu ngắn ngủi gồm sự u ám và những tiếng nổ mập mờ, hắn trút lên người ngưỡng mộ bội bạc của mình những mũi tên logic đầy đam mê quen thuộc với đôi tai của những gã hiệp sĩ phù phiếm: – “Hoặc tôi là một đối tượng xứng đáng cho sự ngưỡng mộ của anh, hoặc tôi không phải là một. Một trong hai điều này – hoặc anh đủ năng lực phán xét, trong trường hợp đó tôi đứng đây bị anh kết án; hoặc anh kém năng lực, và do đó thật xấc láo, và anh có thể xéo về nước của mình đi, đồ đạo đức giả!” Người ngưỡng mộ định thuyết phục vị học giả bị thương rằng chúng ta được ban cho khả năng có thể ngưỡng mộ hai vị giáo sư cùng một lúc. Anh ta bị đuổi tống đuổi tháo.

Có lẽ điều này đã có thể xảy ra ở bất kỳ quốc gia nào, và một vở kịch hài về *Kẻ Uyên Bác Giả*, phơi bày bản chất tham lam con người ẩn giấu bên trong vị học giả đầy bụi bặm, sẽ không chỉ đích danh một nơi chốn cụ thể nào. Tôi ghi nhớ rằng đó là ở Đức, khi tôi quan sát thấy người Đức chưa từng trải qua bất kỳ sự huấn luyện trào lộng nào để cảnh báo họ về tinh thần khôn ngoan mưu mẹo đang dõi theo họ từ trên cao, hay thậm chí là sự châm biếm. Heinrich Heine là chưa đủ để khiến họ nhói đau và suy ngẫm. Cả về mặt quốc gia lẫn cá nhân, khi họ bị kích động, họ đều nằm trong nguy cơ rơi vào sự quái dị, như khi, ví dụ, họ từ chối lắng nghe bằng chứng và dấy lên sự phẫn nộ quốc gia chỉ vì một người mang dòng máu Đức bị kết án phạm tội ở nước ngoài. Họ là những nhà phê bình sắc sảo, nhưng họ vẫn vung gậy trong tranh cãi. Hãy so sánh họ về mặt này với những con người được giáo dục qua La Bruyere, La Fontaine, Moliere; với những con người có hình tượng của một Trissotin và một Vadius trước mắt như một lời cảnh báo trào lộng về sự kiêu ngạo cá nhân của vị giáo sư được nuông chiều. Đó không chỉ là sự khác biệt về chủng tộc. Đó là sự khác biệt về truyền thống, tính khí và phong cách, xuất phát từ sự giáo dục.

Nhà tranh luận người Pháp là một kiếm sĩ được mài giũa, đáng sợ trong những dáng vẻ duyên dáng và phép lịch sự của mình. Người Đức là Orson, hoặc đám đông, hoặc một đoàn quân hành quân, trong việc bảo vệ một lý lẽ tốt hay xấu – lớn hay nhỏ. Sự trớ trêu của hắn là một thứ vũ khí hạng nặng kinh hoàng; sự châm biếm được hắn thốt ra như một luồng gió thổi từ miệng rồng. Hắn phải và sẽ trở thành Titan. Hắn giẫm đạp kẻ thù dưới chân, và kinh ngạc vì sinh vật đó không chết mà vẫn đang chích ngược lại; bởi vì, thực chất, Titan đang chiến đấu, nếu so sánh, với một vị thần.

Khi người Đức gác kiếm nằm im, nhìn qua biên giới Alsace vào đám đông người Pháp đang đổ xô đi cổ vũ vở *Lami Fritz* ở Nhà hát Comedie Francaise, nhìn ngắm và nghiền ngẫm ý nghĩa của tràng pháo tay đó – thứ mang tính trào lộng u ám trong phản ứng chính trị của nó đối với bài học đạo đức gia đình của vở kịch – khi người Đức quan sát và giữ im lặng, sức mạnh tính cách của họ lên tiếng. Họ là những vị vua trong âm nhạc, ta có thể nói là những vương tôn trong thơ ca, những nhà đầu tư tài ba trong triết học, và những người dẫn đầu của chúng ta trong học bổng. Việc một chủng tộc tài năng như thế, sở hữu hơn nữa sự khôn ngoan cứng rắn thu gom những dòng nước cười để tạo nên các mạch nước, lại tỏ ra thất thế, tôi cho đó là một minh chứng, mang tính giáo dục đối với chúng ta, rằng kỷ luật của tinh thần trào lộng là điều cần thiết cho sự phát triển của họ. Ta thấy được những gì họ có thể vươn tới trong nhân vật vĩ đại của nam tính hiện đại đó là Goethe. Họ là một dân tộc đang lớn mạnh; họ cũng rất cởi mở trò chuyện; và khi những người đàn ông của họ, giống như ở Pháp, và thỉnh thoảng tại những bàn trà Berlin, đồng ý trò chuyện trên cơ sở bình đẳng với phụ nữ của họ, và lắng nghe họ, sự lớn mạnh của họ sẽ được thúc đẩy nhanh hơn và trở nên cân đối hơn. Hài kịch, hay dưới bất kỳ hình thức nào của Tinh thần Trào lộng, khi đó sẽ đến với họ để tạc đẽo một vài hình nhân ra khỏi khối gỗ, giơ chiếc gương lên trước mặt họ, làm sống động và soi sáng trí tuệ xã hội.

Hài kịch Pháp hiện đại đáng được ca ngợi vì tính trực diện trong việc nghiên cứu đời sống thực tế, chừng nào điều đó – dẫu chỉ là bước đầu trong học bổng như vậy – còn có thể hữu ích trong việc sáng tác và tô điểm cho bức tranh. Hệ quả của chủ nghĩa hiện thực thô thiển, dẫu có thiện chí này, là sự va chạm của các nhà văn trong các phân cảnh, sự cố và nhân vật của họ. Nàng Thơ của phần lớn họ là một ả phiêu lưu (*Aventuriere*). Ả ta thông minh, và tồn tại một sự giải trí nhất định trong kế hoạch chung nhằm vạch mặt ả. Mục tiêu của nhân vật này là tái hòa nhập vào thế giới đoan trang; và hoặc là, sau khi hoàn thành mục đích này thông qua lừa dối, ả mắc chứng *nostalgie de la boue* [nỗi nhớ vũng bùn], cuối cùng ném ả trở lại đó, hoặc ả bị phơi bày trong quá trình lừa dối khi sắp đạt được mục đích. Một gã thanh niên ngây thơ rất tốt bụng là nạn nhân của ả, hoặc một gã thanh niên khôn ngoan mang chút tốt lành cản trở con đường của ả. Gã sau này có khả năng trở thành nhà vô địch của thế giới đoan trang nhờ am hiểu sâu sắc thế giới bất đoan. Gã từng tiếp tay cho sự trượt dốc của những ả phiêu lưu; gã sẽ không giúp họ leo lên. Thế giới đứng về phía gã; và chắc chắn đó không phải là sự thăng tiến mấy tốt đẹp mà họ khao khát; nhưng gã là loại nhân vật gì chứ? Khải hoàn của một chủ nghĩa hiện thực bộc trực là không tô vẽ gã thành anh hùng. Bạn buộc phải ngưỡng mộ gã (vì phải giả định rằng chủ nghĩa hiện thực ra vẻ đánh thức một chút ngưỡng mộ) như một gã thanh niên sống một cách đáng tin; chẳng tốt đẹp hơn, chỉ kiên quyết và khôn ngoan hơn những kẻ khác một chút. Tuy nhiên, nếu bạn suy ngẫm chút nào, sau khi tấm màn đã hạ xuống, bạn có khả năng nghĩ rằng những ả phiêu lưu cũng có lý lẽ để biện hộ trước gã. Đúng vậy, và tác giả chẳng hề nói điều gì trái ngược; ông chỉ vẽ từ đời thực; ông để mặc khán giả của mình chìm đắm trong những suy ngẫm của những bộ óc phi triết học về cuộc đời, từ mẫu vật mà ông đã trưng bày trong vòng tròn sáng sủa và chật hẹp của một chiếc ống nhòm gián điệp.

Tôi không rõ con ruồi bị kẹt trong hổ phách có ích gì đặc biệt không, nhưng Ý niệm trào lộng được bao bọc trong một vở hài kịch sẽ làm cho nó dễ được nhận thức và dễ mang theo hơn, và đó là một lợi thế. Có một lợi ích cho con người khi tiếp thu các bài học của Hài kịch trong những buổi tụ họp đông người, bởi vì nó làm trí tuệ thêm phần lân lân; và đối với các nhà văn thì điều đó có lợi, bởi vì họ phải có một cốt truyện rõ ràng, và thậm chí nếu họ không có tư tưởng nào để trình bày, họ phải chứng minh rằng họ đã bắt công chúng phải ngồi làm mẫu cho họ trước khi ngồi ngắm bức tranh. Và việc viết cho sân khấu sẽ là một liều thuốc điều chỉnh cho phong cách học thuật quá mức đóng vảy mà một số bậc vĩ nhân đôi khi vướng phải. Nó giữ cho các nhà văn nhỏ hơn tuân thủ một kế hoạch xác định, và đúng chuẩn tiếng Anh. Rất nhiều người trong số họ hiện đang làm phì nhiêu thị trường bằng việc sáng tác tiểu thuyết, trong các xưởng sản xuất trò chơi chữ và trong ngành báo chí; gắn liền với cỗ máy ép buộc những chất liệu dễ hỏng lên một công chúng đang ngấu nghiến và rên rỉ; lẽ ra, với sự khích lệ, họ đã có thể chú tâm vào việc nghiên cứu nghệ thuật trong văn chương. Các nhà phê bình của chúng ta dường như bị mê hoặc bởi sự kỳ quặc của công chúng chúng ta, giống như thế giới khi khu vườn thú của chúng ta có thêm một loài nhập khẩu mới cỡ lớn, và sự thèm ăn của sinh vật được tôn kính tham vấn. Họ đặt điều kiện cho sự nổi tiếng của một nhà văn trước khi họ làm gì hơn ngoài việc đứng ở vị thế trọng tài để ghi nhận sự thất bại hay thành công của hắn. Giờ đây, con heo cung cấp món ăn phổ biến nhất, nhưng nó không được coi là loài động vật được tôn vinh nhất, trừ khi là đối với người làm vườn cottage. Công chúng của chúng ta chắc chắn có thể được dẫn dắt để thử những loại thịt khác, có lẽ là ngon hơn. Họ có gu thưởng thức tốt trong âm nhạc. Họ có thể được dạy dỗ một cách công bằng không kém, nhìn chung là thế, và sẽ sớm hơn khi quan điểm của người làm vườn cottage về bữa tiệc ngừng là quan điểm khiêm nhường của các nhà phê bình văn học chúng ta, để mở rộng năng lực lựa chọn tinh tế này theo hướng chất liệu khơi gợi tiếng cười.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.