Tuyển Tập Truyện Ngắn George Meredith

Lượt đọc: 579 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11

❊ ❊ ❊

Annette đã lên đường đến đô thị lớn — nơi trong trí tưởng tượng của những kẻ ở thuộc địa rực cháy như mặt trời của các thành phố — và chuẩn bị khám phá một phần London dưới sự bảo bọc tuyệt vời của người bạn mới, Mary Fellingham, cùng với một làn sương mù dày đặc. Cô cảm thấy hoảng sợ trước bóng tối, lại có đôi chút e dè Herbert; và những cảm xúc ấy khiến cô tự trách mình vì đã rời xa cha.

Nghe cô nhắc đến người cha với giọng buồn bã, Herbert ân cần đề nghị xuống Crikswich ngay trong ngày cô đến. Cô cảm ơn anh, và tặng anh một chút vị đắng ngắt khi nở nụ cười dễ dãi trước đề nghị đó; nhưng vì anh muốn cô nhận thức rõ và khắc ghi sự khác biệt giữa người đàn ông này với người đàn ông khác dưới lăng kính của một kẻ theo đuổi, anh để cô nhận ra rằng việc phải rời đi ngay lập tức khiến anh đau đớn nhường nào, rồi mặc cô nghiền ngẫm tấm gương ấy.

Mary Fellingham quý mến Annette. Cô nghĩ Annette là một cô gái thực tế với những cảm xúc chưa được mài giũa, trái ngược hoàn toàn với hàng ngàn người khác; vì thế, cô ấy không tầm thường; và việc những cảm xúc ấy đang dần nảy nở được thể hiện qua sự ngập ngừng ngày càng rõ khi phải nói về đính ước với ông Tinman, dẫu tình thân giữa cô với Mary ngày càng nồng ấm. Annette vẫn đinh ninh mình buộc phải kết hôn với người đàn ông ấy vào một thời điểm xa xôi nào đó, và hiện tại cô chưa cảm thấy bất hạnh. Cô chỉ thấy bứt rứt mỗi khi phải chào hỏi và trò chuyện với vị hôn phu của mình, đặc biệt là khi có mặt cô tiểu thư người London. Việc Herbert ra đi đã xua tan đi cảm giác đối lập đè nặng trong lòng cô. Cô ca ngợi anh trước mặt Mary vì lòng tốt vô bờ bến dành cho cha mình, và tận sâu thẳm trong cõi lòng chưa từng được dò thấu, cô khao khát cha mình sẽ còn trân trọng điều ấy hơn cả cô.

Herbert lái xe vào Crikswich khi màn đêm buông xuống, ghé qua tiệm của Crickledon và nghe tin Van Diemen đang dùng bữa tối cùng Tinman.

Thợ mộc Crickledon để lộ những đường cong khô khan quanh khóe miệng — trông giống như những dải bào gỗ thu nhỏ — khi nghe đến cái tên Tinman; nhưng khi Herbert gặng hỏi: “Lại chuyện gì nữa thế?”, anh ta chẳng thu được gì, bèn đi tìm đầu bếp Crickledon.

Sự kết hợp giữa hai vợ chồng nhà Crickledon ấy là một sự hòa hợp lý tưởng, kiểu mà những người phụ nữ nghèo hằng mơ ước; và đàn ông cũng sẽ làm vậy, nếu họ biết mình nghèo khó nhường nào. Mỗi người một nghề, độc lập với nhau, và cùng nhau chống đỡ mái nhà. Nhờ thế mà họ dành cho nhau sự tôn trọng lẫn nhau, tựa như hai cột trụ của một ngôi nhà. Người này nhìn thấy khuyết điểm của người kia kèm theo một cái nháy mắt ranh mãnh với đời, cùng những lời châm chọc thỉnh thoảng được tung hứng như một liều thuốc bổ, làm tâm trí thêm phần minh mẫn mà không hề làm tổn hại đến tình nghĩa vợ chồng. Đầu bếp Crickledon kiên định với quan điểm riêng và định hướng cả hạnh kiểm ngoài xã hội của người thợ mộc Crickledon; và nếu anh ta đi chệch khỏi đường lối cô đã vạch ra, cô quy trách nhiệm đó cho bản tính con người, thứ mà cô luôn bao dung. Còn anh ta, khi không làm theo lời khuyên của vợ, lại quy đó là bản tính của phụ nữ. Cô chưa từng nhận mình ngang hàng với chồng; nhưng người thợ mộc thì tự hào công nhận rằng vợ mình giỏi giang chẳng khác gì đàn ông, và anh ta dung thứ cho những điểm yếu vốn dĩ đi kèm với vóc dáng cao cả ấy bằng cách tự rèn luyện cho bản thân sự ngăn nắp trong việc quản "lý gia đình cũng như việc chung — điều nhắc nhở anh rằng bản thân chắc chắn không tài giỏi bằng phụ nữ. Herbert vô cùng say mê họ. Nữ đầu bếp thết đãi chồng những món ăn khéo léo, ngon lành và tiết kiệm; còn người thợ mộc, vâng lời thỉnh cầu của vợ, đã hứa rằng nếu anh sống thọ hơn cô, sẽ chẳng có đôi bàn tay nào khác ngoài tay anh được phép đóng chiếc quan tài cho cô. “Thật là tuyệt làm sao,” cô từng nói, “khi nghĩ rằng chính chồng mình sẽ tự tay đóng lấy cái hộp mà bạn phải nằm vào!” Ngay cả khi họ là một cặp vợ chồng chẳng mấy mặn nồng đi chăng nữa, thì sự chờ mong của người vợ về một cỗ quan tài thoải mái — tác phẩm của người thợ mộc cự phách nhất nước Anh — cũng đủ để giữ họ gắn kết với nhau; và điều mà nghệ thuật ẩm thực tinh tế mang lại trong việc hàn gắn các cặp đôi thì chẳng cần phải kể lại cho những ai đã đọc dăm ba chương về lịch sử tự nhiên của giới mày râu.

“Crickledon, linh hồn bé nhỏ của anh, chồng chị đang ấp ủ một trò cười đấy,” Herbert nói với cô.

“Hắn ta có dám cười to trước mặt Punch đâu, sợ bị kiện tụng ấy mà,” cô đáp. “Hắn chẳng bao giờ cười lớn cho đến khi lên giường và khóa chặt cửa; và khi làm vậy, hắn toàn suỵt ‘Suỵt!’ với tôi. Tinman phỏng có còn làm tra án nữa đâu, và anh cứ thử hỏi xem bộ đồ hầu tòa đẹp nhất của hắn lấy ở đâu ra kìa. Hắn diện nó suốt cả tuần, khi thì chốc lát vào ban đêm, khi lại giữa ban ngày.”

Herbert liền trêu chọc sự cả tin của cô.

“Đó là sự thật,” cô quả quyết. “Tôi nghe từ con bé hầu phòng, bé Jane, người mà hắn trả bốn bảng một năm để làm toàn bộ việc nhà: một con bé cực kỳ tháo vát cả tay lẫn đầu óc; đọc viết giỏi giang; và nó đang có ý định bỏ đi nếu họ không tăng lương. Nó gõ cửa bước vào khi hắn đang đứng rực rỡ trong bộ dạng ngùn ngụt, cúi gập gáy trước tấm gương soi. Giờ thì hắn khóa trái cửa rồi, đến trẻ con cũng biết hắn đang làm trò gì.”

“Hắn không thể ngốc đến thế chứ!”

“Và người ta còn thấy hắn đứng ở cửa sổ hướng ra biển. ‘Đô đốc nào của anh đang trọ ở căn nhà trên bãi biển thế?’ người ta đã hỏi thế khi cập bờ. Chồng tôi nghe thấy cả đấy. Lão Tinman ngấm vào não rồi. Hắn có thể được chữa khỏi nếu kết hôn với một người phụ nữ đầu óc tỉnh táo, nhưng cứ độc thân thế này thì chẳng mấy chốc hắn sẽ đòi mặc quần lụa đi dạo mất thôi. Người ta bảo tôi rằng mụ mẹ già của hắn ở đây từng có một chiếc váy trị giá tận hai mươi bảng; cái thói hoa hòe hoa sói này đúng là di truyền. Dù có tằn tiện thế nào đi nữa, hắn vẫn có cái thói sĩ diện hão đó.”

Sự khinh miệt của Herbert dành cho Tinman vô cùng sâu sắc; đó là nỗi khinh miệt của tuổi trẻ và sự thiếu hiểu biết — những kẻ sống trong trí tưởng tượng như những đứa con hoang đàng, chẳng hề nhận thức được tầm quan trọng của chúng như thứ lương thực nuôi sống cuộc đời, cũng như việc nắm bắt lấy những điều vững chắc hơn trong số đó là cần thiết đến nhường nào để làm chỗ dựa vĩnh viễn khi những ảo ảnh kia phai tàn. Sự kiện lớn lao trong nhiệm kỳ trã án của lão đã trở thành trung tâm trong hệ mặt trời của Tinman. Hắn sưởi ấm trong những tia sáng ấy. Hắn khao khát được một lần nữa trở thành vị quan chức kiêu hãnh, được tôn vinh như hoàng tộc; trong lúc ấy, dù chẳng hề hay biết rằng những ngày tháng của mình thật tẻ nhạt, hắn vẫn rên rỉ dưới sức nặng của sự tẻ nhạt đó; và cũng giống như những con ngựa kéo xe hay xe điện, vốn dĩ thường ngày vẫn ngoan ngoãn nhưng lại bộc lộ bản chất thật của dây cương khi được thả rông nô đùa trên đồng cỏ, rất có thể sự tồn tại của gã đàn ông tẻ nhạt này được làm cho dễ chịu hơn đôi chút nhờ vài phút phấn khích trong bộ đồ hầu tòa của trã án.

Để thực sự sống lại với những ký ức, chúng ta phải kịch tính hóa chúng. Tuy nhiên, chỉ có lời khai của một cô hầu phòng và một người thủy thủ là bằng chứng cho thấy Tinman đã làm điều đó, và đó lại là những nhân chứng xuất xứ từ những tầng lớp chuyên “nổ phóng đại”, hay thổi phồng những chi tiết sự thật nhỏ nhoi.

Khi đến sảnh, Herbert thấy lò sưởi trong phòng hút thuốc đang cháy rực, và chẳng bao lâu sau khi an vị ở đó, anh nghe thấy giọng của Van Diemen vang lên ngoài cửa sảnh nói lời chào tạm biệt Tinman.

“Tạ ơn Chúa! Cậu đây rồi,” Van Diemen bước vào phòng và nói. “Tôi cứ ngỡ chẳng còn hy vọng gì nữa. Cái tên khốn kiếp ấy!” ông quay người hướng về phía cửa. “Hắn vừa đe dọa, lại vừa xoa dịu tôi. Quỷ tha ma bắt cái thứ dầu của hắn đi! Dễ bắt lửa lắm. Và quỷ tha ma bắt luôn cả chai cảng mà hắn định khui, theo cách gọi của hắn. ‘Cứ để lại cho đời sau đi,’ tôi bảo thế. ‘Tại sao?’ hắn hỏi. ‘Vì bọn trẻ sau này sẽ có khả năng tự lo cho chúng hơn,’ tôi đáp, thế là hắn cứ khăng khăng đòi giải thích. Tôi bèn giải thích cho hắn hiểu. Thế là hắn nổi sọc lên như một cái tổ tò vò. Chắc lúc đó hắn lỡ lời vì nóng giận thôi. Sau đó hình như hắn cũng thấy hối hận — tội nghiệp lão Mart! Tên khốn đó còn nhắc đến cả Cận vệ Hoàng gia và đường dây điện báo nữa chứ.”

“Đúng là đồ khốn, nhưng lại càng là thằng ngốc,” Herbert nói, tràn ngập vẻ khinh miệt. “Cứ thách thức hắn làm điều tệ nhất đi. Đại tướng bảo với tôi rằng họ sẵn sàng bỏ qua chuyện đó ở chỗ Cận vệ, kể cả khi họ nắm được toàn bộ sự thật. Chuyện đóng dấu thích từ lâu đã dẹp bỏ rồi.”

“Tôi thề là nó vẫn còn diễn ra vào thời của tôi đấy,” Van Diemen tái mặt, sùng sục lửa giận.

“Chuyện đó bỏ qua đi. Cậu có thể được khuyên nên rời khỏi nước Anh vài tháng. Còn về các mối quan hệ xã hội ở đây—”

“Nếu tôi đi, tôi sẽ đi luôn không quay lại. Tim tôi vỡ nát rồi. Tôi thất vọng lắm. Tôi bị người bạn của mình lừa dối. Hắn và tôi trong những ngày tháng cũ! Chuyện quái gì đã xảy ra với hắn vậy? Rốt cuộc thì thứ gì đã làm thay đổi những con người cứ bám trụ ở nước Anh này cơ chứ? Chắc không phải do khí hậu đâu. Thế cậu có nhắc đến tên tôi trước Đại tướng Fellingham không?”

“Chắc chắn là không rồi,” Herbert đáp. “Nhưng xin ngài hãy nghe tôi nói một lát. Tại sao không tập hợp nửa dozen người bạn trong vùng lại và thổ lộ hết sự thật đi? Người Anh thích kiểu nam tính đó, và họ chắc chắn sẽ hưởng ứng chân thành.”

“Tôi không thể!” Van Diemen thở dài. “Đó không phải là cảm giác tự nhiên — tôi đã nghiền ngẫm cái từ đó quá nhiều rồi. Cứ mỗi khi gặp ác mộng là tôi lại thấy chữ ‘Kẻ đào ngũ’ hiện lên bằng lưu huỳnh trên bức tường đen kịch.”

“Ngài không thể cứ mãi phó mặc bản thân cho sự thương hại của hắn và chịu đựng sự bắt nạt thế này mãi được. Hắn đang làm ngài ngả bệnh đấy, thưa ngài. Hắn sẽ chẳng dám làm gì đâu, nhưng hắn cứ hành hạ ngài mãi thôi. Tôi sẽ chặn đứng hắn lại ngay lập tức. Ngày mai tôi sẽ bắt tàu lên gặp Tổng tư lệnh. Ngài ấy chính là người sẵn sàng giúp đỡ ngài trong hoàn cảnh thế này. Đại tướng sẽ giúp ngài có buổi gặp mặt đó.”

“Ý đó hợp ý tôi hơn đấy; nhưng không, tôi không làm nổi đâu,” Van Diemen rên rỉ trong sự yếu đuối của mình. “Tiền bạc đã làm tôi mất hết ý chí rồi. Trước đây tôi đâu phải con người thế này; mà lão Mart phản bội kia cũng vậy! Cả thế giới này dường như đang thay đổi theo chiều hướng tồi tệ hơn, và nước Anh không còn được như xưa nữa.”

“Ngài cứ để gã đó phá hủy mọi thứ của mình sao, thưa ngài.” Herbert kể lại câu chuyện của bà Crickledon về ông Tinman, rồi nói thêm: “Hắn ta đúng là một tên đần độn cùng đường. Cháu mà là ngài, cháu sẽ thách thức hắn. Cháu sẽ cho hắn biết vào sáng mai rằng ngài không có ý định gặp lại hắn nữa. Ăn miếng trả miếng mới là thứ hắn cần. Chỉ một tuần là hắn sẽ phải cúi đầu khép nép trước ngài ngay.”

“Và cậu muốn cưới Annette chứ gì,” Van Diemen nói, dẫu vậy ông vẫn tỏ ra thích thú với lời khuyên mà ông nhìn thấu rõ mồn một cả về nguồn gốc lẫn mục đích.

“Tất nhiên là cháu muốn thế rồi,” Herbert đáp, gương mặt đỏ bừng còn thật thà hơn cả lời nói.

“Tôi không đời nào coi hắn là chồng của con bé nhà tôi được.” Van Diemen đăm đăm nhìn vào khoảng trống rực đỏ của đống than đang lụi tàn. “Hồi tôi mới đến đây, thấy hắn là một người đàn ông khỏe mạnh, trông cũng được mã ở độ tuổi hơn bốn mươi một chút, nếu con bé gật đầu, tôi đã gả nó cho hắn một cách vui vẻ. Còn giờ đây, điều tôi sợ nhất là con bé lại làm thật. Thật đấy, tôi cứ nghĩ lão Mart vẫn chỉ là một dạng trẻ con; cứ đóng giả làm người lớn ấy mà. Nhưng làm sao cậu hiểu được chứ. Tôi cứ tưởng cái điều kiện và vẻ cứng nhắc của hắn chỉ là làm hàng; cứ ngỡ bên trong hắn vẫn cháy bùng sự chân thành. Ai mà biết được cơ chứ? Hắn có vẻ ghen tị với việc tôi mua bất động sản ở quê nhà của hắn. Có cái gì đó đang dằn vặt hắn. Lẽ ra tôi không bao giờ nên đánh hắn! Đó là sai lầm của tôi, và tôi hối hận vì điều đó. Lại đi đánh một người bạn! Tôi ngạc nhiên là hắn không chạy ngay đến Cận vệ Hoàng gia để tố cáo. Nếu ở vào vị trí của hắn, tôi đã làm thế rồi nếu thấy không đấm lại được. Ít ra tôi sẽ dùng chân đá trước.”

“Vâng, đá ống quyển trước khi đi mách lẻo,” Herbert nói, ngạc nhiên chẳng kém gì sự ghê tởm trước mối tình cảm uỷ mị bám rễ sâu xa của Van Diemen dành cho người bạn cũ của ông.

Martin Tinman tràn trề hy vọng về nỗi sợ hãi mà hắn đã gieo rắc cho gã đàn ông kia sau bữa tối. Hắn quả thực đã không kìm được nóng giận, quên mất sự khôn ngoan vốn là thứ cực kỳ khó thực hiện. Nhưng hắn đã xoa dịu được con thú đang hoảng sợ; họ đã bắt tay nhau khi chia tay, và Tinman hy vọng rằng tuần lễ Annette vắng nhà sẽ giúp hắn uốn nắn được cha cô. Chuyện cậu thanh niên Fellingham hẹn đến Elba đã trôi tuột khỏi trí nhớ của ông Tinman. Sự xuất hiện của kẻ xen ngang này thật phiền toái. “Dù sao thì cậu ta cũng không đi cùng Annette,” bà Cavely nói. “Con mồi của nó còn sống được bao lâu nữa?”

“Năm tháng,” Tinman đáp. “Lẽ ra hắn đã hoàn thành thời hạn phục vụ trong năm tháng nữa.”

“Và nghĩ đến việc hắn ta trở thành người giàu có chỉ vì tội đào ngũ kìa,” bà Cavely chêm vào. “Ồ! Tôi gọi đó là vô đạo đức. Lẽ ra hắn phải bị bắt gi vì và trừng phạt để làm gương cho xã hội chứ. Nếu anh chần chừ, Martin thân mến, cơ hội sẽ vụt mất đấy. Hắn đang giãy giụa kìa. Và nếu tôi tin được chuyện hắn đem chúng ta ra bàn tán với cái tên mặt dày nhãi ranh chẳng có xu dính túi ngoài tiền viết lách thuê ấy, tôi sẽ hô lên: tố cáo hắn vào ngày mai đi. Tôi thèm đến Elba lắm rồi. Tôi ghét cái ngôi nhà này. Sớm muộn gì nó cũng bị nuốt chửng thôi; tôi biết mà; tôi đã mơ thấy thế. Bằng mọi giá phải đến Elba. Tin tôi đi, Martin, anh đã thất bại trong các cuộc tình suồng sã của mình chỉ vì cái ngôi nhà tồi tàn mà anh đang ở đấy. Hãy bước chân vào Elba với tư cách là chồng của con bé đó, hoặc đến đó để làm chủ nhân của nó, khi ấy bọn con gái sẽ phải bò đến quỳ lụy dưới chân anh.”

“Chị đúng là một người đàn bà ngớ ngẩn, Martha,” Tinman nói, nhưng không phản đối.

Sự pha trộn giữa ý thức về nghĩa vụ công dân với mối thù hằn cá nhân là động lực mạnh mẽ để theo đuổi một đường lối cứng rắn; và chút ánh sáng vụ lợi đan xen vào đó không hề làm chùn bước chân của nhà đạo đức học. Dẫu vậy, Tinman vẫn kìm chế bản thân. Hắn yêu hòa bình. Hắn ra rả giảng về nó, hắn truyền bá nó. Tại một cuộc họp ở thị trấn, hắn đã cố gắng thuyết phục Van Diemen bỏ phiếu cấp thêm kinh phí để bảo vệ “bờ biển của chúng ta”. Van Diemen bật cười vào mặt hắn, bảo rằng hắn chỉ muốn lập một khẩu đội pháo thì có. “Không,” Tinman đáp, “tôi đã quá ngán ngẫm với mấy tên lính rồi.”

“Sao thế?”

“Họ lẽ ra nên thận trọng hơn. Ý tôi là, họ nên học cách phân biệt bạn và thù.”

“Chính thế, chính thế,” Van Diemen nói. “Nếu anh còn nói thêm câu nữa, bạn hiền ạ, anh sẽ thấy tôi nhảy vào đấu giá với anh vào tuần tới cho khu Marine Parade và Belle Vue Terrace đấy. Mắt tôi tinh tường lắm trong chuyện bất động sản, và cái thị trấn này đang phất lên đấy.”

“Anh nên tự xem lại mình trước khi đầu cơ đất đai và nhà cửa ở đây đi,” Tinman đáp trả.

Van Diemen chịu đựng hắn nhiều đến mức tự hỏi không biết bản thân mình có phải là người Anh nữa không. Danh xưng Kẻ đào ngũ chính là vết thương rỉ máu của ông. Ông đã cố gắng tập thói quen tự bêu riếu bản thân bằng từ đó trong sự kín đáo của phòng ngủ, và ông đã thành công trong việc hình thành thói quen lẩm bẩm một mình khiến cả nhà nghe thấy, đến nỗi khi Annette trở về, cô đã phải nhắc nhở ông về sự vô ý tứ đó. Sự phát triển của một điểm yếu mới này làm ông thêm phẫn nộ. Hơn là để chứng minh lòng dũng cảm bằng sự thách thức, hay để cản trở tham vọng trở thành chủ sở hữu nhà cửa lớn nhất ở Crikswich của Tinman bằng cách trả giá cao hơn tại buổi đấu giá Marine Parade và Belle Vue Terrace, Van Diemen đã đẩy giá nhà lên cao chót vót trong phiên đấu giá, và cuối cùng đã hốt được Belle Vue về tay mình. Cuộc cãi vã dữ dội đến mức Annette, kết hợp cùng bà Cavely, đã phải đứng ra can thiệp với dáng vẻ dịu dàng nhất. “Quê hương của tôi,” Tinman nói với cô; “đó là quê hương tôi. Tôi tự hào về nó; tôi khao khát sở hữu bất động sản ở đó, thế mà cha cô lại chống lại tôi. Hắn chống lại tôi. Rồi hắn bảo tôi có thể mua lại nó bằng giá đấu giá, sau khi hắn đã đẩy giá lên gần gấp đôi! Tôi đã chịu đựng — tôi nhắc lại là tôi đã chịu đựng quá nhiều rồi.”

“Chẳng phải tài sản của hai người rồi sẽ nhập làm một sao?” bà Cavely nói, mỉm cười hiền hậu như mẹ hiền từ Tinman sang Annette.

Hắn cố nặn ra một ánh mắt trìu mến trên cái khuôn mặt nhăn nhó, rồi nói: “Đúng vậy, tôi sẽ ghi nhớ điều đó.”

“Annette sẽ ban phước cho anh bằng bàn tay thân yêu của con bé trong một hoặc hai tháng là cùng,” bà Cavely thì thầm ve vãn.

“Con bé sẽ làm thế chứ?” Tinman cong người cúi chào cô.

“Ồ, tôi không thể nói trước; xin đừng làm tôi khó xử. Hãy đối xử thân thiện với ba tôi,” cô gái đáp lời, rồi bước đi để tránh mặt.

“Đó mới là điều cốt lõi,” bà Cavely nói; và tiếp tục khi Annette đã rời đi: “Điều cốt lõi là phải vượt qua mấy tháng tới đây, cô bé ạ, rồi sau đó hãy búng tay cười vào mặt chúng tôi. Martin, tôi sẽ buộc gã đàn ông đó phải bán lại Belle Vue cho anh thấp hơn giá hắn đã mua, chỉ để thử quyền lực của anh thôi.”

Tinman không quá cưỡng ép đến thế. Hắn mua lại được Belle Vue đúng bằng giá đấu giá, và niềm đam mê trả thù của hắn càng được châm ngòi bùng cháy khi nó được ban ơn như một đặc ân của bạn bè.

Tâm trạng đầu độc của hắn càng thêm tồi tệ bởi trận gió lốc tháng Mười hai làm lật lật các khung cửa sổ, cảnh báo hắn về khối tài sản mới kết nạp đang phơi mình trước cuồng phong. Cả hắn và người chị gái đều quy sự bồn chồn của họ cho hành vi bất thường của Van Diemen. Bởi vì ngôi nhà trên bãi biển xưa nay vốn chỉ bị biển cả đe dọa vào những lúc triều cường xa xôi nhất, và chẳng có ngôi nhà nào trên trái đất này được bảo vệ khỏi con người tốt hơn thế — vị thần Neptune dưới hình dạng một lính canh bờ biển được Chính phủ trả lương để tuần tra quanh đó suốt đêm đen. Họ chưa từng cảmấy sợ hãi điều gì trước khi Van Diemen đến và khiến họ phải tăng gấp ba lần số bữa tiệc chiêu đãi khách khứa thường niên. Thực ra, trước khi Van Diemen xuất hiện, ngôi nhà trên bãi biển nhìn xuống Crikswich mà không hề có bất kỳ đối thủ nào thách thức vị thế thống trị được chờ đợi của nó ở nơi đây, và vì một lý do khó hiểu nào đó, trong mắt những cư dân ở đây, nó từng là một nơi trú ẩn an toàn cũng như hạnh phúc hơn.

Họ được an ủi phần nào khi Tinman thực hiện một nước đi khôn ngoan là mua lại bí mật những ngôi nhà nhỏ phía tây thị trấn, bao gồm cả cửa tiệm của Crickledon, nằm liền kề với Marine Parade. Thế là từ ngôi nhà trên bãi biển, họ phóng tầm mắt bao quát toàn bộ mặt tiền là tài sản của chính mình.

Họ bước vào tháng Hai. Không thể chần chừ thêm nữa, “nếu không chúng ta sẽ tỉnh giấc và nhận ra mình đã bị gã đó xỏ mũi,” bà Cavely nói. Tinman xuất hiện tại Elba để đòi gặp riêng Annette. Chiếc mũ của hắn bị gió thổi bay vào sảnh ngay khi cửa mở, và bản thân hắn cũng phải vội vã núp vào sau cánh cửa vì cơn bão quá dữ dội. Annette và cha cô đang ngồi cùng nhau. Họ để cho vị hôn phu phải chờ đợi suốt một khoảng thời gian dài đằng đẵng. Cuối cùng, Van Diemen bước ra gặp hắn và nói: “Netty sẽ gặp cậu, nếu cậu nhất thiết phải thế. Ta đoán cậu chẳng có việc gì bàn với ta chứ?”

“Hôm nay thì không,” Tinman đáp.

Van Diemen sải bước quanh phòng khách với hai tay đút túi quần. “Có sự chênh lệch về tuổi tác,” ông nói bỗng ngắt quãng, như thể muốn trút ra bài học đã được dặn dò trong đầu. “Một người đàn ông hơn bốn mươi tuổi kết hôn với một cô gái chưa tròn đôi mươi, khi cô ấy bốn mươi thì ông ta đã qua sáu mươi; lúc cô ấy đang ở độ chín muồi thì ông ta đã tàn tạ rồi. Ta biết lẽ ra ta không nên đánh cậu. Và đôi khi cậu lại nổi cái tính điên khùng quái gở ấy lên, người ta bảo tuổi già thì không cải thiện được tính nết đó đâu; thêm nữa con bé lại được giáo dục cao cấp. Nó rất rành ngữ pháp, mà đàn ông khi đã có vợ thì thường không thích điều đó cho lắm. Cứ gặp nó đi, nếu cậu buộc phải thế. Nhưng sự thật là con bé không nuốt trôi cái ý tưởng đó đâu. Chênh lệch tuổi tác và không hợp tính nết — Fellingham đã nói thế nào nhỉ? — giống như hai cái đàn thùng quay hai giai điệu khác nhau suốt cả ngày trong một ngôi nhà vậy.”

“Tôi không muốn nghe mấy lời so sánh của ông Fellingham,” Tinman cộc cằn ngắt lời.

“Ồ! Cậu ta chẳng có nghĩa lý gì với con bé cả,” Van Diemen nói. “Nó không đành lòng rời xa tôi.”

“Philip thân mến của tôi! Tại sao con bé lại phải rời xa anh chứ? Khi chúng ta có chung lợi ích dưới một mái nhà—”

“Nó bảo cậu tính tình cục cằn chết tiệt.”

Tinman vẫn ôn tồn tiếp lời: “Khi chúng ta về chung một nhà—” Nhưng lời cáo buộc khủng giáng vào tính khí của hắn đã chặn họng hắn lại. “Nóng nảy thì tôi có thể. Annette đã thấy tôi là người biết dung thứ. Tôi là một Kitô hữu. Anh đã khiêu khích tôi; anh đã đánh tôi.”

“Tôi sẽ đưa cho anh hai ngàn bảng tiền mặt để hủy bỏ vụ giao dịch này và đừng làm phiền con bé nữa,” Van Diemen nói.

“Giờ thì,” Tinman đáp lại, “tôi bị xúc phạm rồi. Tôi thích tiền, giống như phần lớn những kẻ kiếm ra nó vậy. Anh cũng thế thôi, Philip. Nhưng tôi không đến cầu hôn như một kẻ ăn mày đâu. Không phải mười ngàn; cũng chẳng phải hai ngàn. Tiền bạc không thể bù đắp cho tôi sự mất mát Annette. Tôi đã nói là tôi yêu Annette.”

“Bởi vì,” Van Diemen tiếp lời, “cậu đã giăng bẫy chúng tôi vào cái đính ước đó, Mart. Cậuốc nhồi nhét tôi bằng thứ nước mà cậu gọi là rượu vang, trong khi chị gái cậu thì ngồi đường mật ngọt ngào rót vào tai con bé; và mụ ta đã hoàn thành xuất sắc trò lừa chỉ trong chớp mắt, chớp lấy lúc Netty bất ngờ nhất khi tôi thì toàn là tình cảm chứ chẳng có chút lý trí nào; và kể từ đó cậu có thể thấy con bé cứ quay mặt đi mỗi khi nhắc đến chuyện cưới xin giống như rừng cây nhà tôi trước gió vậy.”

“Ông Van Diemen Smith!” Tinman thở hổn hển; hắn tự kiềm chế bản thân. “Ông đừng hòng khiêu khích tôi. Những lần tôi giới thiệu ông với vùng này, sự bảo trợ của tôi, chính là minh chứng cho tình bạn của chúng ta.”

“Cậu sẽ là một lão bạn hiền tuyệt vời, Mart ạ, khi nào cậu dẹp bỏ được cái hy vọng được phong tước hiệp sĩ đi.”

“Ông Fellingham có thể rót vào đầu ông những thành kiến về rượu của tôi, Philip. Để tôi nói cho ông biết — tôi hiểu con người ông — ông chắc chắn sẽ không phản đối việc con gái mình được gọi là Phu nhân đâu.”

“Cùng với một gã chồng chân gầy còm nhảy nhót trong bộ đồ hầu tòa trước khi đi ngủ mỗi đêm, để hắn không quên mất một thời oanh liệt trong quá khứ của mình! Cậu ngày càng còm cõi đi vì điều đó đấy, Mart ạ, giống như một ký ức từ năm mươi năm trước vậy.”

“Ông chưa bao giờ tha thứ cho tôi về ngày hôm đó, Philip!”

“Tôi ghen tuông chắc? Nhận tiền đi, từ bỏ con bé đi, rồi xem chúng ta sẽ thân thiết đến nhường nào. Tôi sẽ chống lưng cho những thương vụ mua bán của cậu. Tôi sẽ thuê họa sĩ vẽ chân dung cậu trong bộ đồ hầu tòa, rồi treo một bản sao của cậu trong phòng ăn nhà tôi.”

“Annette ở đây rồi,” Tinman — kẻ vừa bộc lộ những dấu hiệu nổi loạn như núi lửa Etna — lên tiếng.

Hắn ngưỡng mộ Annette. Phải đến tận thời gian gần đây, Herbert Fellingham mới thực sự là một kẻ ngưỡng mộ Annette chân thành như Tinman. Trông cô thật chân thành và cô ăn mặc giản dị. Vì những lý do đó, cô chính là hình mẫu phụ nữ tuyệt vời nhất mà hắn từng biết, và niềm đam mê của cô dành cho nước Anh đã tạo ra sự đồng điệu trong hắn, làm mờ đi phần còn lại của thế giới và khiến hắn rung động với niềm tin vững chắc rằng mình thật may mắn về dòng máu và nơi chốn sinh thành — những điều đôi khi bị làm cho lung lay trong tâm trí bởi những lời khoe khoang về Gippsland của cha cô, hay những câu chuyện của người khác về cảnh sắc ở Lục địa.

“Annette,” hắn nói, “anh đến đây để xin được trò chuyện riêng với em.”

“Nếu anh muốn — nhưng em không thích thế,” cô đáp.

Tinman ngẩng cao đầu, giống như cách hắn từng làm ở Helmstone mỗi khi một nữ nhân viên cửa hàng phạm lỗi sắp phải nghe bản án dành cho cô ta.

Hắn cúi người nhìn cô. “Anh hiểu rồi. Vậy thì trước mặt cha em nhé!”

“Với tôi thì đó chẳng phải là một việc thú vị gì cho cam,” Van Diemen lầm bầm, cau mày và nhún vai.

“Anh đến đây, Annette, để cầu xin em, van nài em, khẩn khoản — trước mặt một người thứ ba — cười cái gì thế, Philip?”

“Cười ra nước mắt đấy, bạn tôi ạ. Và tôi nói cho cậu biết nhé: chúng ta chuẩn bị đối mặt với sóng cả rồi đấy, và tôi không hề tiếc khi cậu đã gánh hộ tôi cái ngôi nhà trên bãi biển đâu.”

“Làm ơn, thưa ông Tinman, hãy nói thẳng vào vấn đề đi, và tôi sẽ cố gắng hết sức. Ba tôi làm anh phiền lòng rồi.”

“Không, không,” Tinman đáp.

Hắn lại bắt đầu màn dạo đầu của mình. Van Diemen tiếp tục cắt ngang lời hắn.

“Quỷ tha ma bắt cái quyền lực của anh trên người tôi đi, cái thứ mà anh cứ ra rả ấy. Hả, lão Mart? Tôi là một Kẻ đào ngũ đây. Tôi sẽ nộp một ngàn bảng cho quân đội Anh, dù họ có trừng phạt tôi hay không. Áp giải tôi đi ngay ngày mai đi!”

“Ba, ba thật bất công và quá đáng.” Annette quay sang ông trong giàn giụa nước mắt.

“Không, không,” Tinman nói, “tôi không cảm thấy thế đâu. Cha em đã hiểu lầm anh rồi, Annette.”

“Cháu tin là ngài ấy hiểu lầm thật,” cô thiết tha nói. “Và, thưa ông Tinman, cháu xin hứa một cách chân thành rằng chừng nào ông còn đối xử tốt với ba thân yêu của cháu, cháu sẽ không bội ước với đính ước này, chỉ xin ông đừng ép cháu phải định ngày cưới. Chúng ta sẽ là những người bạn tốt của nhau nếu ông đồng ý điều này. Ông chịu chứ?”

Dừng lại một lát, gã đàn ông si tình cất giọng rên rỉ than vãn: “Ôi! Annette, em còn muốn giam cầm anh đến bao giờ nữa?”

“Thôi nào; cậu lại làm con bé khóc bây giờ!” Van Diemen lên tiếng. “Giờ thì con có thể lên gác rồi, Netty. Ôi chao! Mart Tinman ạ, giọng trầm của cậu nghe hợp với chuyện tình ái phết nhỉ.”

“Annette,” Tinman gọi giật cô lại, buộc cô phải quay người khi đang định lui vào trong. “Anh phải biết ngày cưới trước khi mùa đông kết thúc. Xin em đấy. Hãy cân nhắc tử tế. Các sắp xếp của anh đòi hỏi điều đó.”

“Để con bé đi nghỉ đi,” Van Diemen nói. “Tối nay ở lại ăn tối với tôi, tôi sẽ thết đãi cậu một loại rượu làm phấn chấn tinh thần lên, bạn già ạ.”

“Cảm ơn. Khi tôi đã đặt cơm tối ở nhà rồi, thì tôi——và rượu của tôi hợp với TÔI lắm,” Tinman đáp.

“Tôi nghi lắm đấy.”

“Anh đừng hòng khiêu khích tôi, Philip.”

Họ chia tay nhau trong bầu không khí cứng nhắc.

Bà Cavely có những tin tức gia đình khó chịu muốn thông báo cho người anh trai, để đáp lại câu chuyện đầy đau khổ và thị nộ của hắn. Nó liên quan đến thái độ vô ơn của con bé hầu phòng nhỏ Jane, kẻ mà theo lời bà Cavely, “được mụ Crickledon xúi giục”, đã dám úp mở đòi tăng lương.

“Nó không dám nói thẳng, nhưng tôi nhìn thấu tâm can nó lúc nó làm vỡ một cái đĩa mà chẳng thèm mở miệng xin lỗi một câu. Tôi biết thừa nó toàn sang chỗ mụ Crickledon để nói xấu chúng ta. Nó là đứa làm việc chăm chỉ, nhưng chẳng có tí tâm can nào.”

Tinman từ hồi còn ở cửa tiệm bên Helmstone — nơi thiên Chúa đã ban phước cho hắn bằng sự ủng hộ của tầng lớp thượng lưu, hiển hiện rõ ràng như những tia sáng siêu phàm chiếu xuống đầu các nhà tiên tri trong những cuốn sách thánh rẻ tiền — đã quen đối phó với những nhân viên chăm chỉ nhưng không có tâm can. Trước khi có đơn xin tăng lương — và hắn thừa biết những dấu hiệu sắp tới — phương pháp của hắn là tính toán xem mình có khả năng bị đòi bao nhiêu, rồi đem con số ước tính đó chia cho 4; vì khoản tiền này trông có vẻ xuất phát từ sự hào phóng và chưa từng được ai nài nỉ, nên nó thường được đón nhận một cách ngoan ngoãn, và người nhân viên chăm chỉ lại tiếp tục hành trình đói khát trong sự phục vụ hắn. Cách đối xử ấy không phải lúc nào cũng hiệu quả với nam giới. Nhưng với phụ nữ thì rất hợp; bởi vì họ không thích cất cao giọng trừ khi nổi cơn tam bành, và nếu bạn tước đi cái cớ nóng giận của họ, bạn đã tước đi lời nói của họ — bạn biến họ thành những con gà con. Và như Tinman từng nói: “Sự biết ơn ư, tôi chẳng bao giờ mong chờ đâu!” Tại sao lại thế? Lý do là vì hắn hiểu quá rõ bản chất con người. Hắn có thể liệt kê những dẫn chứng chấn động về sự vô ơn của nhân số, như đã từng phơi bày trong suốt quãng thời gian hắn cai quản cửa tiệm ở Helmstone. Được ban phước từ trên cao, nhưng sự độc ác của bản chất con người từ dưới thấp đã không ít lần xông khói lưu huỳnh vào hắn khiến ký ức của hắn chẳng thể phai mờ; và dẫu hắn luôn sẵn sàng nhận mình là một minh chứng cho thấy thiên đàng ngự trị, hắn vẫn có thể viện dẫn những vụ việc về mụ nhân viên buôn chuyện đã bị sa thải và đang quay sang phá hoại hắn trong thị trấn, điều đó chỉ thẳng vào cá nhân hắn như một bằng chứng cho thấy Thế lực Thiện và Ác vẫn đang vướng vào cuộc tranh chấp đầy khốn khổ. Hãy nhìn vào những cuộc Bãi công! Hãy nhìn vào những Cuộc cách mạng đi!

“Hãy bảo con bé, lúc nó dọn bàn ăn ấy, rằng ta tăng cho nó năm shilling mỗi năm vì hạnh kiểm tốt chung. Nói thêm rằng,” Tinman dặn dò, “ta không cần lời cảm ơn nào cả. Đó là vì năng lực của nó — để thưởng cho nó; anh hiểu ý tôi chứ, Martha?”

“Hiểu chứ; nếu anh thấy việc đó là khôn ngoan, Martin.”

“Tôi thấy thế. Nó không được hé lộ nửa lời với đầu bếp.”

“Nó sẽ nói đấy.”

“Thế thì canh chừng con đầu bếp vào.”

Bà Cavely hứa sẽ làm theo. Bản thân bà cảm thấy chắc chắn mình đang bỏ ra năm shilling để mua lấy sự vô ơn; và do đó, với sự nhún nhường, bà thừa nhận mình đã sai lầm khi trong lúc người anh trai đang nhấm nháp ly rượu chát pha đường sau bữa tối (tuân thủ nghiêm ngặt sắc lệnh của bác sĩ rằng hắn phải uống vài ly, khắc khổ như một tu sĩ tự hình phạt thân xác), bà báo cáo lại hiệu ứng kỳ lạ của việc tăng lương đối với con bé Jane — “Ôi, thưa phu nhân! cháu có bao giờ đòi xin đâu ạ!” Bà thuật lại cho anh trai nghe việc con bé Jane đã thổ lộ với bà rằng người ta gọi họ là những kẻ “keo kiệt”, và con bé đã thề thốt rằng nó sẽ — con bé chăm chỉ ngoan ngoãn làm sao! — đi loan báo cho tất cả mọi người biết về sự tử tế của họ.

“Ừ! Hả!” Tinman hít hà tận hưởng lời ca tụng. “Không, không; tôi không thích thói khoe mẽ,” hắn nói. “Hãy nhớ để mắt tới đầu bếp nhé. Tôi,” hắn tiếp tục, trầm ngâm suy tư, “hiếm khi thấy kế hoạch của mình bị phá sản lắm. Nhưng nhớ này, ngày mai hãy gửi thông báo trục xuất cho vợ chồng nhà Crickledon. Bọn chúng đúng là một lũ dịch hạch. Hơn nữa, có lẽ tôi sẽ tính đến chuyện xây dựng mấy căn biệt thự.”

“Gió mới đáng sợ làm sao!” bà Cavely thốt lên. “Tôi nghĩ anh nên cho con bé Annette thêm một cơ hội cuối cùng đi. Hãy thử dùng thư từ xem sao.”

Tinman gửi một bức thư công chuyện cho Annette, và nhận lại một câu trả lời mơ hồ, chẳng có chút tác phong công việc nào. Hai ngày sau, bà Cavely báo cáo với anh trai về sự hiện diện của ông Fellingham và cô Mary Fellingham tại Crikswich. Theo lời đọc của bà, hắn viết bức thư thứ hai. Lần này, người đáp lời lại là Van Diemen:

Tinman thẳng tiến đến Elba; chính xác là đi thẳng nhất có thể theo hướng gió thổi cho đôi chân bước đi. Người ta thông báo rằng Van Diemen đi vắng; cô Annette cáo lỗi với lý do không được khỏe; và Tinman nghe tin có một buổi tiệc tối tại Elba vào tối hôm đó.

Hắn chạm mặt ông Fellingham ngay trên lối đi xe chạy. Cậu thanh niên người London cả gan nhúng tay vào chuyện riêng tư của Tinman khi lên tiếng bào chữa cho vợ chồng nhà Crickledon — những người mà theo cậu ta, đang vô cùng chán nản trước thông báo buộc phải rời khỏi nhà và cửa tiệm.

“Để dịp khác đi,” Tinman quát lên. “Gió to thế này tôi chẳng nghe thấy gì đâu.”

“Vào trong nhà đi,” Fellingham nói.

“Chủ nhà không có nhà,” đó là câu trả lời sắc sảo gầm lên vào mặt cậu ta, và Tinman lảo đảo bước đi, tận hưởng sự châm chọc đó hệt như cách hắn nhấm nháp rượu vang vậy.

Ngôi nhà của hắn rung chuyển bần bật. Hắn được chị gái hậu thuận trong niềm tin chắc nịch rằng mình đã bị lừa gạt.

Quá trình mà hắn tưởng là đang suy nghĩ — thực chất là sự trừng phạt bộ não bằng từng vết chích của sự nhạy cảm tự ái có thể gợi lại ngay lập tức — đã dẫn hắn đến kết luận rằng hắn phải đưa Van Diemen vào tròng, và khiến Annette phải quỳ lọt van xin sự rỗi rúng từ hắn.

Hắn ngồi xuống bàn đêm đó giữa tiếng gào thét của cuồng phong, gió rít từng hồi, sóng đập ầm ầm, khung cửa lách cách, bãi biển bị giật xé phăng đi một cách tuyệt vọng, tựa như những ngón tay sao biển dang rộng của một sinh vật đang dần bị nuốt chửng.

Hắn chẳng biết mình đang viết gì nữa. Gã đàn ông đang chìm trong sự hoảng sợ cá nhân, sùng sục căm phẫn Van Diemen vì coi ông là nguyên nhân chính đẩy hắn vào hiểm cảnh. Bởi vì, để theo đuổi cuộc tình với Annette, hắn đã bỏ dở việc đến Helmstone để gửi tiền vào ngân hàng ở đó, và thứ quý giá ngang mạng sống lẫn chính mạng sống của hắn đang bị đe dọa bởi hai kẻ đó — Annette và cha cô — những kẻ, nếu thực sự chân thành, thật thà, chưa nói đến danh dự, thì đến giờ phút này đã mở cửa đón hắn vào Elba như một chốn pháo ân an toàn.

Bức thư của hắn được đề địa chỉ trên một chiếc phong bì lớn:

Nhưng nếu có bao giờ được gửi bưu điện, thì bưu cục đó chắc chắn phải ở London; và Tinman để bức thư lại trên bàn làm việc cho đến khi ánh bình minh mang lại cho hắn những lời khuyên nên gửi nó cho người bạn nào ở London để nhờ chuyển phát giùm qua một phong bì lót bên ngoài, nếu hắn quyết định làm tới bến.

Giấc ngủ là điều bất khả thi. Đêm đen yểm trợ cho những con quỷ đắm tàu đang cuồng nộ, và khi nhìn qua khung cửa sổ phía sau hướng ra biển, Tinman kinh hoàng thấy những ngọn sóng trắng xóa khổng lồ cao ngất ngưởng, lao vút lên ngang tầm mắt hắn, thắp sáng màn đêm khi chúng lao mình trong đỗ nát, với một tiếng thở dài thườn thượt, băng qua đống đá cuội lổn nhổn ngay dưới chân hắn.

Hắn cởi quần áo: Chị gái gọi với sang hỏi xem họ có đang gặp nguy hiểm không. Khoác chiếc áo choàng tắm trên người, hắn lách sang phòng bà để gào lên bằng giọng khàn đặc rằng bà không được làm cho bọn người hầu sợ hãi; và một phẩm chất tốt đẹp trong cách giáo dục của hai chị em đã giúp họ phất lên, một dạng thức tự chủ, đã kìm giữ bà lại trong nỗi sợ run lẩy bẩy.

Để đánh lạc hướng, Tinman kéo mở các ngăn tủ quần áo của mình. Bộ cánh lấp lánh của hắn nằm trong một ngăn. Và hắn nghĩ: “Thế gian này thật lắm đổi thay kỳ diệu làm sao!”, ý muốn nói đến khoảng cách giữa một con người đang phơi mình trước cơn thịnh nộ của tự nhiên, với chính cá nhân đó khi đang đứng đọc từ những trang da cừu trong bộ trang phục ấy, tại một cung điện, trước Người đứng đầu của tất cả chúng ta!

Có thể đoán chắc rằng: chắc hẳn hắn đã làm điều đó rất nhiều lần trước đây. Sự thật đã được thiết lập rằng hắn đã mặc nó vào đêm hôm đó. Kết luận rút ra từ đó là, nó chắc chắn đã mang lại cho hắn cảm giác kiên cố và an toàn.

Dù thế nào đi nữa, việc hắn mặc bộ đồ đó vào là điều hoàn toàn chắc chắn.

Có lẽ đó là một công việc đầy vẻ nịnh bợ và từ tốn; một cái cảm giác sờ vào chất lụa, thử mặc vào một bên chân, rồi so khớp bên còn lại. Ôi những kẻ Cách mạng! Những kẻ không muốn có nhà nước, không có nghi thức, và chỉ chuộng một loại quần rộng thùng thình duy nhất! Gã đàn ông này hẳn đã bị cuốn hút đi trong tâm tưởng để rồi quên bẵng đi cơn bão đang quật ngã gã láng giềng hùng mạnh của hắn bằng một cú nhảy xa hơn và lớn hơn; hắn hẳn đã thu nhận được từ việc ngắm nhìn chính mình trong bộ trang phục ấy thứ sẽ là sự cứu rỗi cho tất cả mọi người, đặc biệt là đồng bào của hắn — đó chính là trí tưởng tượng.

Điều chắc chắn, như tôi đã nói, là hắn đã tự xúng xính trong bộ đồ đó. Hắn khoác chiếc áo choàng tắm bên ngoài, và nằm dài lên chiếc giường trong bộ dạng y phục ấy, để chờ đợi ánh sáng của ngày mai, và có lẽ đã bị giấc ngủ bất ngờ đánh gục do mệt mỏi cùng thần kinh đã được xoa dịu và vỗ về.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.