Weird Tales, Tập 1, Số 4, Tháng 6, 1923: Tạp Chí Độc Nhất Vô Nhị

Lượt đọc: 93 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lưỡi Dao Báo Thù

❊ ❊ ❊

Bi kịch ấy càng đáng tiếc hơn biết bao khi mà Henry Fayne đã đặt cược quá nhiều vào sự thành công của dự án lớn đời mình. Anh từng từ bỏ vô số mối quan hệ độc thân vì Leanor, để rồi chỉ chưa đầy một năm sau sự kiện xã hội đình đám chính là lễ cưới của họ, anh bàng hoàng nhận ra cuộc đời mình đã gắn liền với một ả đàn bà đào mỏ đầy sức quyến rũ.

Đó là một cú giáng nặng nề. Phải nhờ đến những nỗ lực tuyệt vọng được duy trì trong suốt thời gian dài, anh mới có thể kiềm chế bản thân và xua khỏi tâm trí những hình ảnh xấu xí đang ám ảnh mình.

Sự phản bội của Leanor là điều mà ngay cả những người bạn thân nhất cũng không thể khiến anh tin nổi; thế mà giờ đây anh lại biết đó là sự thật — à mà biết, bởi chính ả đã tự hào khoe khoang về điều đó!

Fayne đã phải đấu tranh rất cực khổ để gạt bỏ một bóng ma gớm ghiếc ấy ra khỏi tầm mắt, một phần vì nỗi sợ hãi ám ảnh rằng thứ đang sục sôi trong đại não do sự thật phũ phàng kia mang lại sẽ chiến thắng lý trí, khiến anh làm tổn thương ai đó, hoặc chính bản thân mình.

Vốn dĩ anh là một người điềm đạm hiếm có, nhưng phải trải qua vô số cuộc chiến đấu gay gắt với thứ mạch đập đang nện thình thịch trong đầu, anh mới chịu buông xuôi cái xác của mối tình đầy cay đắng ấy cho tòa án ly hôn cùng đám chuyên gia tung tin đồn bát quái, rồi buồn bã quay về với chốn ăn chơi độc thân xưa kia với hy vọng có thể quên đi tất cả. Thế nhưng, anh kinh hoàng nhận ra mình đã không còn dung hợp được với nơi ấy nữa.

Những người bạn trong những ngày tháng độc thân tự do tự tại tỏ ra rất chân thành khi bày tỏ sự thương hại dành cho anh, dù chẳng mảy may có ý định nhúng tay giúp anh gượng dậy. Tóm lại, họ chẳng khác nào đồng thanh cất lời:

“Cậu không thể đòi hỏi chúng tớ phải báo trước cho cậu được; nếu biết, cậu đã quẳng bọn tớ sang một bên rồi tự xoay xở từ lâu. Cậu bắt buộc phải tự mình khám phá ra sự thật đó thội, và chính quá trình tìm ra chân tướng ấy đã khiến cậu trở nên lạc lõng, chẳng còn có thể hòa nhập vào nhóm cũ được nữa. Thành thật xin lỗi cậu nhé, bạn già, nhưng suy cho cùng, biết được sự thật vẫn hơn.”

Thế là Henry Fayne đâm ra trầm uất, suy sụp tinh thần, rồi đột ngột biến mất.

Cội nguồn thân thuộc ngày xưa từ nay vắng bóng gương mặt đầy vẻ từng trải và hoài nghi của anh. Bắt đầu râm ran những lời đồn đoán về việc anh bị suy sụp tinh thần rồi tự sát, thậm chí có một tin đồn (dù ít ai tin) kể rằng anh chàng bất hạnh ấy đã lang thang đến tận những vùng đất hoang vu ở Nam Mỹ để trở thành một kẻ kỳ dị sống cô độc.

Rồi theo thời gian, Leanor cũng cảm thấy mệt mỏi với tốc độ chóng mặt của cỗ xe hoa trường đua xã hội của mình, ả vứt bỏ cỗ xe rực rỡ ấy vào sọt rác rồi vượt đại dương sang nước ngoài, đi cùng là một đoàn tùy tùng chuộng lối sống xa hoa hưởng lạc kém giàu có hơn nhưng lại nhiều tham vọng hơn.

Năm năm trôi qua nhanh như những cánh bướm đủ màu sắc vút bay trên đầu, quãng thời gian chẳng hề thiếu vắng những sắc màu và sự đổi thay đối với Leanor. Dù gu thẩm mỹ của ả có khắt khe đến đâu chăng nữa, ả cũng khó lòng mong mỏi một cuộc sống nào biến hóa khôn lường hơn thế, một cuộc sống kích thích và phấn khích đến tuyệt vời.

Họa hoắm lắm, dăm thì mười hoạ, ả mới nhớ tới Henry. Những suy nghĩ về anh, cũng giống như mọi ký ức khác về quá khứ rực rỡ tựa sao băng của ả, đã sớm bị chìm khuất vào quên lãng trước sự ùa vào của những thực tại thân cận và sát sườn hơn.

Ả đành phải thừa nhận rằng Henry đối xử với ả rất tốt, nhưng anh cũng đồng thời là một con người vô phương cứu chữa. Kết cục bi thảm ấy vốn dĩ đã được định sẵn ngay từ phút ban đầu. Anh lớn hơn ả mười lăm tuổi. Ả thừa biết bản thân mình không bao giờ có thể kìm hãm cái bản tính bốc đồng để gắn chặt đời mình với một cuộc sống hy sinh và chịu đựng bên cạnh Henry. Ý nghĩ đó vô lý chẳng khác nào việc phối giống một chú chim ruồi kiều diễm với một cụ cú mèo già nua nghiêm nghị.

Khi đồng ý kết hôn với Henry, ả chưa từng nảy sinh cái ý nghĩ ngớ ngẩn rằng sẽ phải tuân thủ cái bộ quy tắc đạo đức ngặt nghèo đến buồn cười mà anh áp đặt lên ả sau đó. Thật vậy, nếu cứ sống theo ý anh, ả sẽ già đi và tàn úa mà chẳng làm được tích sự gì, chẳng ai thèm ngó ngàng hay tìm kiếm. Thêm vào đó, số lượng chiến tích khắc trên chiếc quạt ngà voi của ả chắc chắn sẽ thảm hại hơn rất nhiều so với những gì mà nửa thập kỷ vừa qua đã mang lại.

Tuy nhiên, dẫu cuộc mạo hiểm khốn khổ ấy đã kết thúc như vậy, ả vẫn chưa bước sang tuổi ba mươi và, nếu dùng phép so sánh mộc mạc của người tình gần đây nhất của ả, vẫn “xinh đẹp tựa quả đào”.

Ngay tại cửa khẩu phía Thái Bình Dương của Đại lộ Grand, nơi thị trấn Bandora ngái ngủ như một con thằn lằn đang trải dài mình trên lớp đất sét nung dưới ánh mặt trời, râm ran tin đồn rằng nữ triệu phú đào mỏ đang đi du thuyền xuôi theo bờ biển phía tây trên đường trở về nhà.

Bất cứ ai hay đọc báo chí đều biết về Leanor, thế nên ít nhất cũng có một bộ phận cư dân ở Bandora ngóng chờ sự xuất hiện của ả với sự tò mò đầy hứng thú. Và sự tò mò ấy rồi sẽ được thỏa mãn, bởi vì vốn dĩ cô nàng xinh đẹp Leanor thường hay hành động theo những cách bất ngờ nhất, nên ả chỉ tiếp tục chứng minh sự nhất quán của mình khi vừa đặt chân đến đây liền nổi hứng ương ngạnh quyết định dừng chân lại đúng hai tuần, với mục đích kép là vừa ngắm nhìn con đường thủy vĩ đại vừa khám phá hòn đảo lịch sử Batoga nằm cách đó chỉ độ vài tiếng đồng hồ.

Giả sử công trình vĩ đại minh chứng cho kỹ năng kỹ thuật kia tỏ ra tẻ nhạt, thì vẫn còn đó những hang động bí mật của Batoga, trong số đó có La Guaca de San Pedro, theo lời đồn đại chính là cái hang bị ma ám đầy dơi từng là nơi tay cướp biển khét tiếng Henry Morgan cất giấu tất cả những chiến lợi phẩm bất chính của hắn và có lẽ từng giam giữ cả những vị nữ tu bất hạnh bắt được ở Porto Bello! Và rồi, ngoài ra còn có Kênh Quỷ dữ nổi tiếng, nơi mà theo những câu chuyện được lan truyền rộng rãi và rất nhiều người tin sái cổ, có thể nuốt chửng những chiếc thuyền nhỏ xuống cái hàm phàm ăn của nó tựa như một con quỷ đói khát nào đang rình rập.

Leanor chẳng dành mấy thời gian cho kỳ quan kỹ thuật vĩ đại kia. Xét cho cùng, nó cũng chỉ do con người tạo ra, mà con người là gì nếu không phải là kẻ phục tùng cho những caprice của phụ nữ? Đàn ông suy cho cùng cũng chỉ là thứ rẻ mạt. Nả đào mỏ thừa biết điều đó, vì ả đã từng mua bán qua tay biết bao nhiêu kẻ. Thậm chí ả từng đem bán cả linh hồn của một số gã.

Ả đã mua chuộc tất cả bọn họ bằng thứ tình cảm giả tạo rồi tống khứ họ với mức chiết khấu một trăm phần trăm. Ả đối xử với họ chẳng khác nào cách người ta đối với những bộ quần áo cũ rách, chỉ gặp chút phiền toái nhỏ nhặt khi dứt bỏ một vài gã bám dai như đỉa mà thôi.

Là một kẻ hưởng lạc chính hiệu, sự thèm khát của Leanor đối với giống đực cuối cùng cũng đã trở nên nhàm chán, và giờ đây ả sốt ruột quay sang với Thiên Nhiên vĩ đại thâm trầm để bù đắp cho sự thiếu hụt đó.

Ả đến Batoga, một ngọn núi hùng vĩ xanh tươi, rậm rạp một màu xanh ngút ngàn, vẫn chưa từng bị bàn tay của nền văn minh đang tiến tới xén tỉa. Nơi đây tựa như một thế giới nhỏ bé tách biệt, được tạo hóa đặt nằm gọn trong lòng một vùng biển saphia ngái ngủ. Quả thật, đây mới chính là một điều gì đó hoàn toàn khác biệt.

Ả vô cùng thích thú ngay khi đôi chân kiều diễm vừa chạm tới bãi biển rải đầy vỏ sò. Thật lòng mà nói, chốn thần tiên này hoàn toàn hoàn hảo đến mức không thể chia sẻ cùng đám hề ăn lương vô thi vị của ả! Ả tống cổ cả đám bọn chúng quay về Bandora, và quyết định sẽ thuê một hướng dẫn viên, một người chèo thuyền, hoặc một cô hầu gái người bản địa ngay tại chỗ tùy theo nhu cầu cụ thể của mình.

Chính nhờ cái sở thích bất chợt này của Leanor mà bản thân tôi mới lạc bước vào câu chuyện, có cơ hội làm quen với Leanor và đồng thời biết được câu chuyện mà tôi đang kể cho các bạn nghe đây. Lúc ấy tôi vừa trải qua một trận sốt xuất huyết vô cùng dai dẳng trong bệnh xá. Thực ra, đôi đầu gối gầy guộc của tôi vẫn còn hơi lảo đảo, và tôi đang cố gắng tập cho chúng đi đứng bình thường trở lại bằng một buổi đi dạo thong thả băng qua những đồng cỏ nhấp nhô. Trên một sườn đồi lộng gió đầy cỏ dại, tôi bất ngờ chạm mặt Leanor.

Hiển nhiên là ả nghĩ đến việc Fê-rê (refresh) lại tâm trí mệt mỏi của mình bằng cách đắm chìm giữa những loài hoa dại. Ả đang ngồi trên một gờ đá bao quanh đỉnh đồi, nhặt nhạnh những bông hoa dại tầm thường. Chỉ ngước lên nhìn một cái, rồi đôi mắt ả lại hạ xuống đám hoa cỏ với một vẻ chán chường thế gian mà không hiểu sao lúc ấy tôi lại cảm thấy một xung động bất chợt muốn hậm hực. Ít nhất thì tôi cũng có thể chọc cho ả nổi khùng lên. Đó là đặc quyền của bất kỳ kẻ ngốc nào.

“Đang hái hoa đấy phỏng?” tôi gặng hỏi, cứ như thể sự thật đó không phải là điều rành rành ra đấy rõ như ban ngày.

Đáp lại, những công sự phòng thủ tuyến đầu của tôi lập tức bị quét sạch bởi một cú phản công bằng ánh mắt được tính toán kỹ lưỡng nhằm tiêu diệt gọn gàng. Tôi mỉm cười đầy thiện cảm đáp lại nguồn gốc của cơn giông bão ấy.

“Ngọn đồi này cao thật đấy nhỉ,” tôi lên tiếng gợi chuyện, phát ra một tiếng thở dài đầy mệt nhọc sau khi gắng sức leo lên đây.

Và rồi tôi nhận ra đòn tấn công thứ hai của mình đã chọc thủng chiến hào tuyến đầu của ả trên một độ rộng khoảng một phần tư inch. Vẻ khinh miệt chậm rãi phai dần khỏi khuôn mặt ả — một khuôn mặt vẫn còn trẻ trung và tươi tắn đến khó hiểu — và thay vào đó là một vẻ thương hại trước sự ngây ngô thấy rõ của tôi.

“Anh thực sự nghĩ đây là một ngọn đồi cao ư?” ả hỏi, mỉm cười nhạt và nhìn chằm chằm vào tôi như thể đang hoài nghi về sự tỉnh táo của tôi.

Tôi nhận ra đôi mắt màu hạt dẻ của ả trông như đang bơi trong những dòng chất lỏng lấp lánh đến kỳ lạ.

“Thì,” tôi nhún nhường đáp lời, làm ra vẻ nghiêm trọng như đưa đám, “nó cao hơn kha khá ngọn đồi khác đấy chứ.”

Nụ cười mang vẻ buồn cười của ả nở rộng thêm thấy rõ.

“Này, thực tình thì anh đã từng nhìn thấy nhiều ngọn đồi lắm chưa thế?”

[88]

“Chưa-chưa hẳn,” tôi miễn cưỡng thú nhận, “cũng không hẳn là nhiều lắm đâu.”

“Điều gì xui khiến anh đem đo lường ngọn đồi này thế?”

“À, tôi đang bám đuôi theo một người,” tôi điềm tĩnh đáp. Cuối cùng thì ả cũng mở đường cho tôi.

“Xin hỏi là ai thế?” ả gặng hỏi, nụ cười bừng sáng lên vẻ đầy chờ đợi.

“Là cô đấy — nếu cô không phiền,” tôi tuyên bố.

“Tôi á!” ả cười ngất ngây trong giây lát.

“Đó chẳng phải là chuyện để cười đâu,” tôi nói với vẻ nghiêm túc giả tạo khi ả đã nín cười. “Tôi đã đeo bám vụ này nhiều năm nay rồi.”

Ả bỗng trở nên nghiêm túc đột ngột đến mức khiến người ta liên tưởng đến những ý nghĩ đen tối, có lẽ là do sực nhớ lại một phần quá khứ đầy biến động của mình. Đôi mắt màu hạt dẻ thoáng buồn. Rõ ràng là ả đang bới móc lại những sự việc mà khi nhắc đến chẳng mang lại cho ả chút niềm vui thích nào. Tôi chờ đợi. Có lẽ tôi không hẳn là một gã nhà quê ng ngốc như ả từng nghĩ.

“Ý anh là anh làm thám tử ư?” chốc sau ả hỏi.

“Ý tôi chính xác là thế đấy, thưa cô,” tôi điềm đạm đáp.

“Anh được thuê bởi ai thế?” ả dò hỏi.

“Bởi Henry Fayne,” tôi bâng quơ đáp lại.

“Đó là lời nói dối của một kẻ mạo danh,” người phụ nữ nhanh chóng khẳng định; “Henry Fayne đã chết rồi.”

Ả đứng dậy khỏi phiến đá và chuẩn bị bỏ đi. Dù sao thì tôi cũng đã đạt được mục đích. Tôi đã thành công trong việc làm ả chướng mắt.

Nhưng tôi chợt nghĩ mình khó lòng mà để sự việc kết thúc theo chiều hướng đó, ngay cả khi nó liên quan đến một người phụ nữ như Leanor. Chẳng ai lại đành lòng cư xử thô lỗ một cách trơ trẽn cả.

“Khoan đã,” tôi nói; “chúng ta hãy là những người chơi đẹp đi chứ. Cô đã buông lời châm chọc tôi và tôi đã đáp trả. Huề cả làng. Sao chúng ta không quên nó đi nhỉ?”

Ả vô cùng nhẹ nhõm; hơn nữa, sự quên lãng chính là điều mà trên đời này ả khao khát nhất. Thoáng chốc sau, những mạch nước sâu thẳm của tiếng cười lại lấp lánh trong đôi mắt tuyệt đẹp của ả. Những điều này cùng với đôi môi trẻ trung đang mỉm cười dường như đang phủ nhận cái kết cục thảm hại mà ả đã gây ra cho cuộc đời mình. Thật là đáng tiếc làm sao, tôi thầm nghĩ, khi ả lại chọn cách phung phí cuộc đời mình theo cái lối sống phù phiếm và vô nghĩa này.

Tôi từng nghĩ rằng mình sẽ chỉ cảm thấy sự khinh bỉ dành cho một người phụ nữ như Leanor, thế nhưng khi chúng tôi cùng bước xuống sườn đồi, ả đã hé lộ cho tôi biết một điều chạm đến điểm yếu bấy lâu nay chưa từng được biết đến trong lớp áo giáp của tôi. Thế nên tôi suýt thì thương hại người phụ nữ mà tôi từng chuẩn bị tinh thần để khinh miệt.

Như để tìm kiếm sức mạnh từ chúng, ả dán mắt vào những bông hoa dại vừa hái được, trong lúc cất lên những lời gần như khó tin mà giờ đây tôi xin ghi lại nơi này.

Cơn cuồng phong săn lùng những ánh đèn trắng lóa lóa, cùng ảo tưởng về những chai vang trắng cũng tinh khiết không kém, giờ đây đã trở nên ngấy đến tận cổ. Lớp sơn mạ vàng và đồ kim tuyến của sự phù phiếm thực sự đã gây ra cảm giác nhàm chán. Chiếc mặt nạ quyến rũ đã rơi xuống khỏi bộ mặt gớm ghiếc của sự giả tạo và trống rỗng. Bản thân cuộc đời đối với Leanor đã trở thành một thứ trống trải và vô nghĩa. Ả đã chứng kiến quá nhiều điều của nó chỉ trong một khoảng thời gian quá ngắn ngủi.

Ả kết thúc câu chuyện bằng một lời dường như mâu thuẫn, một sự hối tiếc ngầm rằng những cuộc thám hiểm điên cuồng của ả đã vắt kiệt quá nhanh cái kho tàng nghèo nàn của thế giới về những điều đáng giá, và ẩn giấu trong giọng nói của ả là một sự cay đắng tương phản khó chịu với tuổi trẻ và nhan sắc của ả khi ả nói một cách rành mạch, dù chẳng lộ chút cảm xúc nào trên nét mặt, rằng ả đã chạm đến cái giới hạn mà ở đó cuộc đời đôi khi khiến ả cảm thấy ghê tởm và buồn nôn.

Lúc này chúng tôi đã quay trở lại bệnh xá, một sự ngắt quãng không có gì là không được chào đón trong hoàn cảnh đó, và tôi để mặc người phụ nữ kỳ lạ ở lại một mình với những nỗi niềm hối hận muộn màng trong khi bản thân tìm về phòng riêng, mang theo tâm trạng đồng cảm và trĩu nặng, đồng thời thầm tạ ơn các vì sao may mắn đã ban cho tôi đặc ân được làm một gã phiêu lưu thay vì một ả “đào mỏ”.

Tối hôm đó, Leanor và tôi lên kế hoạch cho một chuyến đi đến Kênh Quỷ dữ, và tôi thong thả đi ra bãi biển để tìm kiếm một chiếc xuồng cayuco mạn nông có thể lướt qua những rạn san hô ngăn cản các tàu thuyền lớn. Những người chèo thuyền boteros thuộc đủ mọi quốc tịch tụ tập rất đông đúc, và giữa muôn vàn gương mặt ấy, ánh mắt dò hỏi của tôi cuối cùng cũng chạm phải một người đồng hương mang dáng vẻ lang thang trong bộ trang phục thủy thủ sờn rách. Trái ngược hoàn toàn với bộ dạng rách rưới ấy, đung đưa bên thắt lưng trong một cái vỏ bao mà chiếc áo ngắn thoáng chốc không che khuất hết, tôi thoáng nhìn thấy một con dao săn lớn với phần cán bằng sừng hươu được chạm trổ tinh xảo.

Anh ta bảo tên mình là Sisson, nhưng lại nói tiếng Tây Ban Nha sõi như người bản xứ. Bộ râu bờm xờm chưa từng qua tay dao cạo của anh ta là thứ đã từ lâu bị lưỡi dao lãng quên. Anh ta đích thực là một trong số những kẻ lang thang vùng nhiệt đới rất dễ nhận diện, những kẻ trong một phút lơ đễnh đã không tài nào kìm chế nổi bản thân để rồi từ đó cứ trượt dài không thể cưỡng lại xuống một chốn quên lãng chẳng có gì là không được chào đón.

Sisson không hề nài nỉ tôi như tất cả những người chèo thuyền khác; anh ta thậm chí còn chẳng thèm mời mọc dịch vụ của mình; và chính nhờ dấu hiệu sót lại của chút lòng tự trọng ấy, kết hợp với việc anh ta sở hữu một chiếc cayuco vô cùng thích hợp, mà tôi đã quyết định thuê anh ta.

Tại lối vào hẹp của Kênh Quỷ dữ, dòng nước nông đến mức, và những dải cát ngầm nhỏ xuất hiện thường xuyên đến nỗi, chỉ có những chiếc thuyền biển nhỏ nhất mới có thể lướt qua những khe nứt lấp lánh để chen chân vào được. Điều này lại một lần nữa được minh chứng lần thứ n khi tôi cảm nhận được phần sống thuyền được chế tạo đặc biệt của chiếc cayuco nhỏ bé khẽ cạo vào lớp cát sáng lấp lánh như một lời cảnh báo rằng chúng ta cuối cùng cũng đã tiến vào khúc sông hẹp tựa hẻm núi.

Cả Leanor và tôi đều liên tục tra tấn anh chàng chèo thuyền xuất sắc của chúng tôi bằng hầu hết mọi câu hỏi có thể tưởng tượng được về khúc kênh u ám và mang vẻ kỳ quái bày ra trước mắt.

“Chúng ta sắp đến nơi chưa anh?” chốc sau Leanor lên tiếng hỏi.

“Xa hơn trong kia nữa cơ,” Sisson, gã thợ chèo thuyền khổng lồ râu ria xồm xoàm, cất giọng kéo dài lười biếng trong lúc dửng dưng liếc nhìn những vách đá dựng đứng ở hai bên.

Vặn người quay hẳn lại trong chiếc xuồng cayuco bé xíu của người bản xứ, tôi nhận thấy những bức tường thẳng đứng của eo biển mờ ảo trước mắt dường như đang xích lại gần nhau theo từng nhịp chèo của đôi tay vạm vỡ của Sisson. Khuôn mặt xinh đẹp của Leanor rạng ngời vẻ mong đợi. Dù đã chán ngấy thế giới này, trước mắt ả ít ra vẫn còn một cảm giác hồi hộp nữa đang chờ đón.

Năm phút trôi qua. Sisson vẫn điềm tĩnh chèo thuyền.

“Kia rồi kìa!” gã chèo thuyền đột ngột lên tiếng, lần đầu tiên bộc lộ thứ gì đó giống như sự quan tâm bình thường của con người đối với cuộc sống. Một trong những bàn tay to lớn, đầy lông lá của hắn đang chỉ về phía một vết kiềm trên bề mặt vách đá bên tay phải cách đó chừng một tầm ném đá. “Ngay đối diện cái vết trắng trắng đó chính là nơi hay xảy ra chuyện.”

Hắn buông mái chèo và để chúng kéo lê trên mặt nước tĩnh lặng. Trông nó tĩnh mịch một cách kỳ lạ. Chiếc vỏ thuyền nhỏ bé của chúng tôi từ từ giảm tốc độ.

“Nhưng hôm nay có vẻ mọi chuyện đều xuôi chèo mát mái cả mà nhỉ,” tôi bâng quơ lên tiếng.

“Bị thổi phồng lên thôi, cốt để thu hút khách du lịch ấy mà,” Sisson nhận xét. “Dòng nước đã khoét một cái hang nhỏ bên dưới vách đá phía tây, nhưng chẳng có nguy hiểm thực sự nào cả nếu anh nắm rõ hải đồ.”

“Anh bảo có bao nhiêu người chết đuối khi chiếc xuồng máy đó lật thế nhỉ?” Leanor lại tiếp tục cất tiếng hỏi. Đôi mắt đen láy to tròn của ả giờ đây lại lấp lánh một niềm hứng thú mới mẻ và mãnh liệt đối với cuộc sống — hay đó chính là sự cận kề của cái chết tiềm tàng?

“Mười một người,” Sisson lừ đừ đáp. “Gã kỹ sư đã nhảy tót ra ngoài và bám được vào cái bậc đá phiến đằng kia, và ngay tại chỗ đó” — hắn mỉm cười hoài niệm — “hắn ta đã ngồi suốt bảy mươi hai tiếng đồng hồ, với cảnh ‘nước bao la xung quanh, mà chẳng có lấy một giọt để uống’—”

[89]

“Và có thật là không một chiếc áo phao nào mà họ mặc khi chiếc xuồng chìm được tìm thấy không?” Leanor lại muốn gặng hỏi thêm.

“Thật chứ sao không,” Sisson nói, “nhưng điều đó cũng chẳng có gì là bất thường cả. Người sắp chết đuối thường vớ lấy bất cứ thứ gì họ túm được và đời nào, đời nào chịu buông tay ra. Này nhé, tôi đã từng nhìn thấy những ngón tay khum khum như móng vuốt của những bộ xương siết chặt lấy những khúc củi mà đến một con gián cũng chẳng nổi lên được ấy chứ!”

“Anh vừa bảo hôm nay là một ngày tương đối tĩnh lặng phải không?” tôi hững hờ hỏi gã chèo thuyền.

“Chắc chắn rồi. Tĩnh lặng y như lúc này đây thôi,” hắn đáp.

Tôi để ý thấy gã chèo thuyền đang đăm đăm nhìn Leanor. Ngay cả đối với hắn, có lẽ vẻ đẹp cũng không phải là hoàn toàn mất đi sức hút. Chắc chắn là hắn cũng đã nghe đến những lời bàn tán mà sự xuất hiện của ả khơi mào dọc theo các bến tàu ở Batoga. Trong khi đó, Leanor đã phát hiện ra một điều.

“Ơ kìa, chúng ta vẫn đang tiến về phía trước kìa!” ả đột ngột kêu lên. “Tôi—tôi cứ ngỡ là chúng ta đã dừng lại cơ chứ.”

Sisson cúi xuống nhìn mặt nước, và vầng trán rám nắng của hắn nhăn lại thành những nếp gấp dọc đầy vẻ kinh hoàng. Tuy nhiên, điều kỳ lạ là ánh mắt trong sâu thẳm đôi mắt trũng sâu của hắn lại chẳng hề khớp chút nào với vẻ bối rối hằn trên vầng trán nhăn nheo ấy.

Chiếc thuyền của chúng tôi đang trượt nhanh về phía trước cứ như có ai chèo đẩy. Hiện tượng này là do một dòng hải lưu gây ra; điều đó thì chắc chắn rồi, bởi vì chúng ta đang trôi đi cùng với một đám lá mục và rong biển.

Một lần nữa tôi lại xoay nửa người trong phần mũi thuyền chật chội và phóng tầm mắt nhìn về phía trước. Chúa ơi! Chúng tôi đang lao vun vút về phía cái điểm đáng sợ trên vách đá kiềm hệt như bị hút bởi một thanh nam châm vô hình. Tôi cũng có thể nhận thấy tốc độ của chúng tôi đang tăng lên chóng mặt.

Sisson chộp lấy những mái chèo đang buông thõng và dùng sức mạnh của một tên khổng lồ chống lại cái thứ vô hình dường như đang kéo lê phần sống thuyền của chúng tôi, nhưng tất cả những gì hắn làm chỉ là vạch ra hai đường rãnh vô ích trong dòng nước xoáy kỳ lạ ấy. Chiếc xuồng cayuco của chúng tôi cứ thế lướt đi.

Nữ hoàng đào mỏ bàng quan chưa bao giờ xinh đẹp đến thế. Ít ra là vào khoảnh khắc này, sự sống, ấm áp và dạt dào, đã quay trở lại và ôm trọn lấy ả trong một cái ôm đầy hoan hỉ. Đôi môi ả hé mở thành một nụ cười thể hiện niềm vui sướng không thể diễn tả bằng lời. Hoàn toàn không có lấy một chút ngạc nhiên hay sợ hãi nào trên gương mặt trẻ trung ấy.

Ả chỉ chịu bẻ lái khi tôi hét lên với ả trong vẻ hoảng hốt trợn tròn mắt, nhưng phần sống thuyền thon gọn như vây cá của chiếc cayuco chế tạo riêng rõ ràng là đã chẳng phản hồi lại. Nằm chéo trong dòng kênh, chúng tôi trượt đi, càng lúc càng tiến sát hơn vào bức tường phía tây, thế lực hủy diệt vô hình kéo lê chúng tôi với sự chắc chắn đáng sợ hướng về phía tâm xoáy. Thế mà mặt nước xung quanh, vẫn di chuyển cùng chúng tôi, trông vẫn phẳng lặng y như mặt ao làng! Thật là kỳ quái, không thể tin nổi.

Tôi nhìn trân trân vào làn nước trong vắt ánh xanh lam, bị mê hoặc bởi sự kinh ngạc, và rồi, đột nhiên, tôi nhìn thấy thứ duy nhất có thể cứu mạng chúng tôi. Rõ ràng là chúng ta đang nằm trong một dòng xoáy cuộn trào, vô cùng mạnh mẽ, đang chạy đua trên đỉnh của vùng nước ngầm hoặc cận bề mặt có vẻ như đang phẳng lặng của dòng kênh. Tôi có thể nhận ra rất nhiều vật thể nhỏ đang xoay tít vui sướng khi chúng lao đi, chìm dần xuống, hướng về phía vũng nước xoáy.

Chúng ta mang theo sáu chiếc phao cứu sinh. Tôi chộp lấy hai chiếc trong số đó,òng một chiếc vào người Leanor, và với chiếc còn lại hãy còn chưa kịp buộc chặt — bởi vì chẳng còn thời gian nữa — chính mình lao đầu khỏi chiếc thuyền có thể gọi là bị yểm bùa của chúng tôi hướng về phía vách đá phía tây.

Đến sự ngạc nhiên của tôi là tôi bơi rất dễ dàng. Tuy nhiên, khi tôi sải tay sâu xuống, tôi có thể cảm thấy những lực hút kỳ lạ đang níu kéo lấy những đầu ngón tay mình. Nhưng tạm thời thì tôi đã an toàn.

Tôi liếc nhìn xung quanh để xem Leanor có làm theo ý mình không. Ả không có ở dưới nước. Tôi lật ngửa người lại và kinh ngạc đến tột độ khi thấy cả ả lẫn Sisson đều chưa rời khỏi chiếc thuyền cayuco.

Điều này quả thực không thể tài nào lý giải nổi. Và giờ đây rõ ràng là đã quá muộn để họ nhảy ra, bởi vì chiếc thuyền nhẹ đã bắt đầu quay vòng tròn tại một điểm nằm ngay đối diện với vết kiềm trắng rồi! Nó quay càng lúc càng nhanh, đường kính của vòng tròn mà nó đua nhau lao qua thu hẹp lại một cách chóng mặt.

Trong lúc bơi, vai tôi va phải một vật cản nào đó. Đó chính là bức tường phía tây. Tôi leo lên khoảng vài thước và ngồi nhỏ nước tong tỏng trên một gờ đá phiến phủ đầy rêu nhầy nhụa, chính là cái phiến đá y hệt nơi mà gã kỹ sư của chiếc xuồng chìm từng chịu đựng cơn khát.

Tôi hoàn toàn bất lực trong việc giúp đỡ những người bạn đồng hành của mình. Tôi chỉ có thể ngồi đó và trân trân nhìn với nỗi bàng hoàng gần như không tin vào mắt mình. Tại sao — Tại sao họ lại không chịu rời bỏ chiếc thuyền nhỏ bé cùng với tôi cơ chứ? Giờ thì tôi thấy rằng thậm chí chẳng một ai trong số họ với tay lấy lấy một chiếc phao cứu sinh cả. Tại sao —?

Lạy Chúa tôi! Thứ gì đang đập vào mắt tôi thế này? Sisson đã tiến đến phần đuôi của chiếc vỏ hạt dẻ đang bay vút đi nơi Leanor vẫn đang ngồi bất động, điềm nhiên, mỉm cười. Nét mặt hoàn hảo của ả vẫn vương vấn vẻ mong đợi đầy mê hoặc.

Giọng nói của Sisson bỗng vang vút lên cao, khiến tôi lạnh sống lưng. Nó tựa như tiếng kêu của một vị tử đạo trên đoạn đầu đài. Hắn không hề hé lộ thân ới Leanor. Chẳng cần thiết phải làm thế. Một thứ gì đó — tôi không dám chắc là gì — đã giúp ả trong khoảnh khắc bi kịch khủng khiếp ấy nhận ra người chồng cũ đã ly hôn của mình.

Sự tra tấn tinh tế đến tột cùng của ký ức đã vắt kiệt tâm trí của Henry Fayne và biến hắn thành một kẻ nửa điên nửa tỉnh, thế nhưng ở đây, sau tất cả những năm tháng đầy hoài nghi và cay đắng ấy lại chính là Henry Fayne bằng xương bằng thịt, món đồ chơi từng bị vứt xẻo từ lâu của thói trăng hoa đàn bà. Nỗi thống khổ của hắn được khắc họa một cách đáng sợ trên lớp mặt nạ xù xì và râu ria của những nét mặt đã biến dạng.

Nụ cười vẫn chưa rời khỏi khuôn mặt Leanor. Giọng nói của gã điên cất lên thành một tiếng thét sắc lẹm, kinh hoàng. Hắn lắp bắp và phun ra những lời trong cơn giận dữ tột cùng, thế nhưng tôi vẫn bắt được dòng suy nghĩ trong bài diễn văn cuồng loạn của hắn. Hắn đã chờ đợi suốt bao nhiêu năm trời cho cơ hội này; hắn đã bám theo ả từ Bandora, đã lên sẵn mọi kế hoạch với sự tỉ mỉ đến từng chi tiết để trả thù cho sự đổ vỡ mà Leanor đã giáng xuống cuộc đời hắn.

Nhưng người phụ nữ ấy lại bật cười thách thức, căng thẳng; cười một cách nhạo báng, thẳng vào khuôn mặt đầy râu ria.

“Anh đã đợi quá lâu rồi đấy, Henry,” ả nói, điềm đạm nhưng ẩn chứa một nốt vang đắc thắng trong giọng điệu; “Tôi đã nhàm chán đến mòn mỏi mọi sự quyến rũ của cuộc đời này rồi. Hôm nay tôi đến đây để tìm kiếm cuộc phiêu lưu cuối cùng của mình — một cảm giác vừa mới mẻ vừa tột cùng — đó là cái chết!”

Chính tại khoảnh khắc này, điều kỳ diệu đã xảy ra.

Sự cay đắng, dữ dội và khủng khiếp, làm biến dạng khuôn mặt của gã lang thang lông lá, và trong tư thế chông chênh trên chiếc xuồng độc mộc đang quay cuồng đến phát điên, hắn giơ cao một nắm đấm to lớn siết chặt. Tôi đã từng chứng kiến một người đàn ông đang cười bị sét đánh trúng. Khi dòng điện xé toạc cơ thể chạy qua người hắn, các cơ trên mặt hắn từ từ thả lỏng, một cách kỳ lạ, như thể vì sự hoài nghi, y hệt như khuôn mặt đang giận dữ, căng cứng của Henry Fayne lúc này đang giãn ra. Nắm đấm đe dọa bỗng buông thõng và rơi vật vờ bên sườn.

Trong số tất cả các ví dụ về sự trả thù bị bóp nghẹt mà tôi từng thấy trên sân khấu hay ngoài đời thực, tình tiết đời thực này mang tính kịch tính nhất.

Chiếc thuyền đã xoay tít một cách nhanh chóng vào giữa tâm điểm của dòng nước xoáy và giờ đây đang quay cuồng điên cuồng trong giây lát tựa như đang đứng trên một trục xoay cố định, giống như một con gà chỉ hướng gió. Sau đó, nó lại bất chợt tiếp tục chiến thuật ban đầu, chỉ có điều lần này nó lao ngược chiều trong một vòng tròn ngày càng mở rộng, chạy chúc mũi sâu xuống mặt nước, tựa như bị thu hút bởi một lực hút ngầm mạnh mẽ nào đó.

Rằng gã thợ chèo thuyền giả mạo là nạn nhân của một dạng điên loạn vô phương cứu chữa là điều tôi chắc chắn khi nhìn thấy hắn quỵ xuống và giơ cả hai bàn tay to lớn ra như đang khẩn khoản van xin người phụ nữ đã tước đoạt danh dự của mình và đẩy hắn vào cảnh lưu vong, trở thành một kẻ điên dại lảm nhảm. Leanor vẫn ngồi bất động, nhưng gã điên vẫn tiếp tục van nài.

[90]

Chưa bao giờ niềm tin của tôi lại phải chịu một thử thách lớn lao đến thế khi mà chỉ một thoáng sau, người phụ nữ ấy vươn tay ra và đan chặt những ngón tay mảnh dẻ của mình vào tay hắn. Thật là một bức ảnh kỳ lạ, hãy tin tôi đi! Từ vị trí chênh vênh của mình trên gờ đá phiến nhầy nhụa, tôi trân trân nhìn, cảm thấy râm ran tận đáy lòng trước cuộc ngưng chiến vô ích này ngay bên bờ vực của cõi vĩnh hằng.

Những vòng quay của nó bỗng mở rộng đáng kể và tốc độ giảm dần, chiếc thuyền nhỏ bé bất ngờ bẻ lái khỏi quỹ đạo hình tròn, nhô vút lên như thể một vật nặng vừa được tháo khỏi phần sống thuyền và rồi trôi dạt đi như một sinh thể đã cạn kiệt sức sống hướng về phía bức tường phía tây, nơi tôi đang co ro chết lặng, hơi thở rít lên qua khe mũi, lồng ngực phập phồng.

Mãi đến tận bây giờ tôi mới chạm đến nút thắt của câu chuyện này, mà phần nội dung phía trên đóng vai trò như một khúc dạo đầu không thể thiếu.

Trở về Batoga vào chính tối hôm đó, trong một góc khuất trên mái hiên rộng và thoáng mát của bệnh xá được bao bọc bởi những hàng cọ, sau một cuộc trò chuyện dài tâm sự riêng tư, Henry Fayne và Leanor đã đồng ý tha thứ và quên đi tất cả. Tối muộn hôm đó, Fayne đi xuống ngôi làng lân cận để thu dọn ít đồ đạc ít ỏi của mình. Đó sẽ là những món kỷ vật thú vị để trang trí cho những bức tường của ngôi nhà đã được phục hồi. Tôi tìm thấy Leanor đang ngồi ở chỗ anh ấy vừa rời đi trên hiên nhà, miệng mỉm cười đầy ẩn ý.

“Tôi diễn có đạt không hả anh?” ả đột ngột hỏi tôi khi tôi bước đến.

“Diễn?” tôi ngớ người; “ý cô là sao?”

Ả ngồi đó, mỉm cười một cách đầy bí ẩn dưới ánh trăng trắng muốt, cho đến khi cuối cùng tôi cũng thuyết phục được ả trút vào đôi tai đầy hoài nghi của mình câu chuyện về việc làm thế nào mà ả chợt lóe lên ý nghĩ trong khoảnh khắc quyết định tại vòng xoáy nước rằng ả phải thuyết phục Fayne rằng việc tiêu diệt một kẻ đang tìm kiếm cái chết sẽ chẳng mang lại sự thỏa mãn nào cho một kẻ đang khao khát trả thù. ả đã khiến anh thấy rằng cách hiệu quả nhất để trút cơn giận dữ trả thù chính là ngăn cản cô tự kết liễu đời mình và ép ả phải sống chung với anh lần nữa như những ngày tháng cũ. Quả thực, còn hình phạt nào lớn lao hơn thế nữa cơ chứ?

Thế là một lần nữa ả đàn bà đào mo ranh ma lại lừa gạt tội nghiệp Henry Fayne. Suýt chút nữa thì mọi chuyện đã hỏng bớp, nhưng sự nhanh trí chớp nhoáng của ả đã cứu mạng ả để rồi giờ đây lại hân hoan hướng về triển vọng của những cuộc phiêu lưu khác. Dù thực tế là ả đã chán ngấy cuộc đời này, nhưng ả lại chùn bước trước cái chết; tuy nhiên, sự kiên cường của thủ đoạn xảo quyệt ẩn giấu đằng sau nỗi sợ hãi thể xác ấy lại bộc lộ một sự tháo vát mà trước nay tôi chưa từng thấy ở bất kỳ người phụ nữ nào.

Ả đã nói đúng hơn những gì mình biết khi cho rằng Henry Fayne đã chết, bởi vì về mặt tâm thần, anh ấy hoàn toàn không còn tồn tại nữa.

Nhưng Leanor vẫn còn một quân bài chưa lật. Khi ả vạch ra chiến dịch của mình, tôi đã ngồi chết sững trước sự tàn nhẫn trơ trẽn trong các kế hoạch của ả cho ngày hôm sau. Ả đã sắp xếp xong xuôi với các quan chức bản địa ở ngôi làng gần đó. Ả sẽ ra tòa và làm chứng, còn tôi sẽ được triệu tập để cung khai trước vị thẩm phán thụ lý vụ án. Henry Fayne sẽ bị tống thẳng một cách nhẫn tâm vào Trại tâm thần Acorn!

Sau khi Leanor lui về phòng riêng, tôi nán lại một lúc giữa đêm khu vực ngào ngạt hương thơm để hút một điếu xì gà và suy ngẫm, bởi vì tôi vô cùng bất ổn trước quyết tâm tàn nhẫn của ả. Trong lúc tôi ngồi ôn lại những sự kiện kỳ lạ trong ngày, bóng tối của một người đànang khom lưng và rút lui nhanh chóng giữa những chiếc bóng loang lổ của hàng cọ đã khiến tôi giật mình khó chịu.

Ngay cái nhìn đầu tiên về kẻ lén lút ấy, một giác quan thứ sáu mách bảo tôi rằng hắn đã rình mò nghe lén Leanor và tôi từ dưới phần hiên nhà được nâng cao nơi tôi ngồi. Ngay khi cái bóng lướt qua tan biến vào bóng tối, tôi liền lẻn khỏi hiên nhà và đi điều tra.

Nghi ngờ mơ hồ của tôi đã được xác nhận. Dấu chân của kẻ rình mò hoàn toàn rõ rệt. Hắn đã co ro ngay bên dưới những chiếc ghế mà nữ đào mọ và tôi từng ngồi.

Tôi thức đến tận một tiếng sau mới chịu về phòng. Một cảm giác lo sợ không thể tả nổi, dẫu chẳng vì lý do thỏa đáng nào, đã bắt đầu đè nặng lên tâm trí và cào xé các dây thần kinh của tôi.

Ánh rạng đông mờ ảo đầu tiên vừa ló dạng ở phương đông thì có thứ gì đó khẽ chạm vào vai tôi. Tôi sực nhớ ra mình đã để ngỏ cửa sổ hiên, liền vùng dậy trong cơn hoảng hốt bất chợt, nhưng các dây thần kinh của tôi nhanh chóng chùng xuống khi kẻ đột nhập, một người da đen gốc Jamaica, giơ chiếc huy hiệu canh gác của hắn ra.

Lão nô lệ da đen tỏ ra sợ hãi vì nghĩ rằng đã có chuyện chẳng lành xảy ra. Lão nghe thấy những bước chân lén lút trên lầu, và cửa phòng ngủ của ai đó đang mở toang. Khi nhìn vào trong phòng, lão đã thấy —!

Nhưng đến đoạn này trong câu chuyện thì lão nghẹn lời, bị kích động mạnh. Dù sao thì lão cũng là một gã da đen già cả dễ xúc động và mê tín, nhưng lúc này lão thực sự hoảng loạn đến mức tột cùng với một nỗi kinh hoàng mà lão chẳng thể tài nào lý giải nổi. Người đang ở trong căn phòng đó, tôi đoán chừng, chắc hẳn đã ra ngoài hiên, một cách hoàn toàn hợp lý, để hút một điếu xì gà buổi sáng sớm. Nhưng lão gác cổng già nhất quyết không chịu yên tâm cho đến khi tôi đồng ý đi cùng lão lên tầng hai.

Tôi nhận thấy, khi chúng tôi tiến bước dọc theo hành lanh, một cánh cửa đang khép hờ. Tôi khẽ gõ cửa thăm dò. Không có tiếng trả lời. Tôi lặp lại tiếng gọi, lớn hơn. Vẫn không có tiếng trả lời. Tôi bước vào.

Ánh trăng tràn ngập ngoài hiên chiếu rọi vào bên trong, mờ ảo qua những ô cửa sổ có rèm ren. Nó làm lộ ra một chiếc giường. Ở chính giữa chiếc giường là bóng dáng của một người phụ nữ — toàn thân mặc một màu trắng như tuyết ngoại trừ một vật phủ tối màu nào đó đang vắt ngang qua phần ngực đầy đặn.

Một thứ gì đó không tên đã khiến tôi luống cuống tìm kiếm công tắc điện cho thật nhanh. Ánh đèn sáng trưng đã phơi bày ra thứ mà tôi vẫn hằng kinh hãi, suýt chút nữa đã đoán trước được. Chiếc áo sẫm màu ấy hoàn toàn chẳng phải là một thứ quần áo nào cả. Đó chính là máu.

Nó nhuộm đỏ phần ngực áo một cách ghê rợn và, vẫn đang rỉ ra từ nguồn của nó, nhanh chóng tạo thành một vũng nhỏ nham nhở trên tấm ga trải giường. Ngay chính giữa trái tim của nạn nhân, phần cán bằng sừng hươu được chạm trổ của một con dao săn nặng trĩu, với lưỡi dao hoàn toàn khuất hẳn, nhô lên tựa như một đài tưởng niệm đầy nham hiểm, không hiểu sao lại ngày càng trở nên quen thuộc với tầm mắt của tôi; và chỉ sau một thoáng suy ngẫm, tôi có thể thề — rõ ràng làm sao khi đôi mắt tôi hình dung ra động cơ của sự kinh hoàng này — rằng tôi nhìn thấy một từ duy nhất được nguệch ngoạc bằng mực đỏ dọc theo chiếc cán sừng hươu lốm đốm:

“BÁO THÙ!”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.