“Ông có hài lòng với Paris không, thưa ngài Astang?” bà Marotte cất tiếng hỏi vào sáng hôm sau khi Hastings bước vào phòng ăn của khu nhà trọ, gương mặt hãy còn hồng hào sau cú ngâm mình trong chiếc bồn tắm chật hẹp phía trên.
“Tôi tin là mình sẽ thích nơi này,” anh trả lời, tự ngạc nhiên vì nỗi phiền muộn đang đè nặng trong lòng.
Cô hầu gái mang tới cho anh cà phê và bánh mì cuộn. Anh đáp lại cái nhìn trống rỗng của gã thanh niên đầu to, rồi khẽ gật đầu chào những ông già đang hỉ mũi sụt sịt. Anh chẳng buồn uống hết ly cà phê, cứ ngồi đó bẻ vụn chiếc bánh, hoàn toàn không để ý đến những cái nhìn đầy cảm thông của bà Marotte, người vốn đủ tinh tế để không làm phiền anh.
Một lát sau, người hầu gái bước vào với chiếc khay cân bằng hai bát sô-cô-la, và mấy ông già đang hỉ mũi kia liền liếc nhìn cổ chân cô ta với ánh mắt đầy ẩn ý. Cô hầu đặt những bát sô-cô-la xuống một chiếc bàn gần cửa sổ rồi mỉm cười với Hastings. Sau đó, một cô gái trẻ dáng người mảnh khảnh, đi theo sau là một người trông hệt như cô ngoại trừ khoảng cách về tuổi tác, bước vào phòng và chiếm lấy chiếc bàn gần cửa sổ. Rõ ràng họ là người Mỹ, nhưng nếu Hastings mong đợi một tín hiệu nhận diện đồng hương nào đó thì anh đã thất vọng. Việc bị đồng hương phớt lờ càng làm nỗi buồn trong anh thêm sâu sắc. Anh loay hoay với con dao, mắt nhìn đăm đắm vào đĩa ăn.
Cô gái mảnh khảnh nọ khá hoạt ngôn. Cô thừa biết sự hiện diện của Hastings và sẵn sàng tỏ vẻ hãnh diện nếu anh nhìn mình; nhưng mặt khác, cô lại cảm thấy mình vượt trội hơn hẳn, bởi cô đã ở Paris được ba tuần, còn anh—chỉ cần nhìn qua là biết—thậm chí còn chưa kịp mở chiếc rương đựng hành lý.
Cô nói chuyện với vẻ tự mãn. Cô tranh luận với mẹ mình về ưu điểm tương đối giữa bảo tàng Louvre và cửa hàng Bon Marché, trong khi phần đóng góp của người mẹ vào cuộc thảo luận hầu như chỉ gói gọn trong câu: “Ôi, Susie!”
Những ông già hỉ mũi đã rời khỏi phòng cùng nhau, vẻ ngoài thì lịch thiệp nhưng trong lòng đầy bực dọc. Họ không thể chịu nổi đám người Mỹ lấp đầy căn phòng bằng những lời tán gẫu của mình.
Gã thanh niên đầu to dõi theo họ với một tiếng ho đầy vẻ tinh quái, lẩm bẩm: “Mấy ông già vui vẻ thật!”
“Trông họ như những gã già tồi tệ vậy, anh Bladen,” cô gái nói.
Đáp lại, anh Bladen mỉm cười: “Họ đã có thời của mình rồi,” với tông giọng ngụ ý rằng hiện tại đang là thời của anh ta.
“Và đó là lý do tại sao họ đều có bọng mắt thâm quầng,” cô gái kêu lên. “Em nghĩ thật xấu hổ cho những quý ông trẻ tuổi—”
“Ôi, Susie!” người mẹ ngắt lời, và câu chuyện dần lắng xuống.
Một lúc sau, anh Bladen quăng tờ Petit Journal, thứ mà ngày nào anh ta cũng nghiền ngẫm miễn phí bằng tiền của chủ nhà, rồi quay sang Hastings, bắt đầu tỏ vẻ thân thiện. Anh ta mở lời: “Tôi thấy anh là người Mỹ.”
Trước lời mở đầu xuất sắc và đầy tính nguyên bản này, Hastings, vốn đang nôn nao vì nhớ nhà, đã trả lời một cách đầy biết ơn. Cuộc trò chuyện được nuôi dưỡng một cách khôn ngoan bởi những quan sát của cô Susie Byng hướng thẳng tới anh Bladen. Rồi đến khi cô Susie quên bẵng việc chỉ nói chuyện với mỗi mình anh Bladen, và Hastings đáp lại câu hỏi chung của cô, một mối quan hệ hữu hảo đã được thiết lập. Susie và mẹ cô bắt đầu mở rộng sự bảo hộ lên cái vùng vốn rõ ràng là trung lập này.
“Anh Hastings, anh không được bỏ rơi nhà trọ mỗi tối như anh Bladen đâu nhé. Paris là một nơi tồi tệ đối với những quý ông trẻ tuổi, còn anh Bladen thì là một gã hoài nghi kinh khủng.”
Anh Bladen trông rất hài lòng.
Hastings trả lời: “Tôi sẽ ở studio cả ngày, và tôi tưởng tượng mình sẽ rất vui khi được trở về vào ban đêm.”
Anh Bladen, người với mức lương mười lăm đô la một tuần đang làm đại lý cho Công ty Sản xuất Pewly ở Troy, New York, nở một nụ cười hoài nghi rồi đứng dậy rời đi để giữ cuộc hẹn với một khách hàng trên Đại lộ Magenta.
Hastings đi dạo ra khu vườn cùng bà Byng và Susie, và theo lời mời của họ, anh ngồi xuống trong bóng râm trước cổng sắt.
Những cây dẻ vẫn còn mang trên mình những chùm hoa thơm ngát sắc hồng và trắng, lũ ong vo ve giữa những giàn hoa hồng bám trên ngôi nhà tường trắng.
Một làn gió tươi mát thoảng qua. Những chiếc xe tưới nước di chuyển dọc con phố, và một dòng nước trong veo sủi bọt chảy qua những rãnh thoát nước sạch sẽ của đường rue de la Grande Chaumière. Những chú chim sẻ nhảy nhót vui vẻ dọc theo mép vỉa hè, tắm táp thỏa thích dưới nước và rũ lông đầy phấn khích. Trong một khu vườn có tường bao quanh phía bên kia đường, một đôi chim hoét hót vang giữa những tán cây hạnh đào.
Hastings nuốt nghẹn khối u nơi cổ họng, bởi tiếng chim hót và tiếng nước rì rào nơi cống rãnh Paris đã kéo anh trở về với những đồng cỏ đầy nắng của Millbrook.
“Đó là con chim hoét,” cô Byng quan sát; “nhìn nó kìa, trên bụi cây có hoa hồng nhạt đó. Nó đen tuyền từ đầu đến cuối, chỉ trừ cái mỏ trông như vừa nhúng vào trứng ốp la, như lời một người Pháp nào đó nói—”
“Ôi, Susie!” bà Byng nhắc nhở.
“Khu vườn đó thuộc về một studio của hai người Mỹ,” cô gái tiếp tục thản nhiên, “và tôi thường thấy họ đi ngang qua. Họ dường như cần rất nhiều người mẫu, phần lớn là nữ giới trẻ tuổi—”
“Ôi, Susie!”
“Có lẽ họ thích vẽ kiểu người đó hơn, nhưng tôi không hiểu tại sao họ lại mời năm người, thêm ba quý ông trẻ nữa, rồi tất cả cùng chui vào hai chiếc xe taxi và hát vang khi rời đi. Con phố này,” cô tiếp tục, “thật tẻ nhạt. Chẳng có gì để xem ngoại trừ khu vườn và thoáng thấy Đại lộ Montparnasse qua đường rue de la Grande Chaumière. Không một bóng người qua lại ngoại trừ cảnh sát. Ở góc đường có một tu viện.”
“Tôi tưởng đó là một trường Cao đẳng Dòng Tên,” Hastings bắt đầu, nhưng ngay lập tức bị choáng ngợp bởi một tràng mô tả theo kiểu Baedeker về nơi này, kết thúc bằng câu: “Một bên là những khách sạn lộng lẫy của Jean Paul Laurens và Guillaume Bouguereau, và đối diện, trong lối đi nhỏ Passage Stanislas, Carolus Duran đang vẽ những kiệt tác làm mê đắm cả thế giới.”
Con chim hoét bỗng cất tiếng hót ngân dài những nốt vàng óng từ cổ họng, và từ một khoảng xanh xa xăm nào đó trong thành phố, một loài chim hoang dã lạ lẫm cất tiếng đáp lại bằng những âm thanh lảnh lót cuồng nhiệt, khiến lũ chim sẻ cũng phải ngừng tắm để ngước nhìn với những tiếng hót líu lo bồn chồn.
Đúng lúc đó, một con bướm bay tới đậu trên chùm hoa vòi voi và khẽ đập đôi cánh viền đỏ trong nắng hè gay gắt. Hastings nhận ra nó như một người bạn cũ, và trước mắt anh hiện lên viễn cảnh của những cây nhung tuyết cao vút cùng loài cỏ bông sữa thơm ngát đầy ắp những cánh bướm rực rỡ, viễn cảnh về một ngôi nhà trắng với mái hiên phủ đầy dây leo—thoáng thấy dáng người đàn ông đang đọc sách và người phụ nữ đang cúi mình bên luống hoa păng-xê—và lòng anh tràn đầy cảm xúc. Anh giật mình khi nghe tiếng cô Byng ngay sau đó.
“Tôi tin là anh đang nhớ nhà!” Hastings đỏ mặt. Cô Byng nhìn anh với ánh mắt đầy cảm thông rồi tiếp tục: “Hồi mới đến, mỗi khi cảm thấy nhớ nhà, tôi thường cùng mẹ đi dạo trong Vườn Luxembourg. Tôi không biết tại sao, nhưng những khu vườn kiểu cũ đó dường như mang tôi đến gần nhà hơn bất cứ thứ gì trong thành phố nhân tạo này.”
“Nhưng ở đó toàn những bức tượng bằng đá cẩm thạch,” bà Byng nhẹ nhàng nói; “mẹ không thấy giống chút nào.”
“Vườn Luxembourg nằm ở đâu vậy ạ?” Hastings hỏi sau một khoảng lặng.
“Hãy cùng tôi ra cổng,” cô Byng nói. Anh đứng dậy đi theo cô, và cô chỉ tay về phía đường Vavin ở cuối phố.
“Anh cứ đi qua tu viện ở phía bên tay phải là tới,” cô mỉm cười; và Hastings bước đi.