Gia Đình Robinson Trên Đảo Hoang

Lượt đọc: 19 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5

❊ ❊ ❊

“Em yêu ạ,” tôi bắt đầu nói, “anh cảm thấy khá lo lắng trước bao nhiêu công việc đang chờ đợi chúng ta phía trước. Một chuyến quay lại con tàu là điều không thể thiếu, nếu chúng ta muốn cứu lấy bầy gia súc cùng nhiều thứ khác có ích cho mình; mặt khác, anh cũng muốn tìm một nơi trú ẩn an toàn hơn cho cả nhà và tài sản của chúng ta thay vì cái lều này.”

“Với sự kiên nhẫn, ngăn nắp và bền bỉ, mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi,” người cố vấn hiền hậu của tôi nói; “và dù chuyến đi của anh có khiến tôi lo lắng thế nào đi nữa, em vẫn nhượng bộ trước tầm quan trọng và sự hữu ích của nó. Hãy làm điều đó ngay hôm nay; và đừng bận tâm đến ngày mai: ngày nào có cái khổ của ngày ấy, như Chúa nhân lành của chúng ta đã dạy.”

Sau đó, chúng tôi thống nhất rằng ba đứa con nhỏ nhất sẽ ở lại với vợ tôi; còn Fritz, đứa khỏe mạnh và năng nổ nhất, sẽ đi cùng tôi.

Tôi bèn đứng dậy, đánh thức các con để bắt đầu những nhiệm vụ quan trọng trong ngày. Fritz bật dậy đầu tiên, chạy đi tìm con chó rừng của nó đã cứng đờ vì cái lạnh ban đêm. Nó đặt con vật đứng bằng bốn chân ngay cửa lều để hù dọa các em; nhưng bầy chó vừa thấy con vật đứng sững ở đó liền lao vào cắn xé, suốt xé nát nó ra nếu Fritz không kịp dỗ dành và xua chúng đi. Tuy nhiên, tiếng sủa của chúng đã đánh thức bọn trẻ một cách hiệu quả, khiến chúng ù té chạy ra xem chuyện gì xảy ra. Jack bước ra đầu tiên với con khỉ trên vai; nhưng sinh vật nhỏ bé vừa nhìn thấy con chó rừng liền nhảy tót vào lều, giấu mình giữa đám rêu cho đến khi chỉ còn chóp mũi ló ra ngoài. Ai nấy đều kinh ngạc khi thấy con vật màu vàng lớn này đứng đó; Francis tưởng đó là chó sói; Jack bảo đó chỉ là một con chó chết, còn Ernest thì ra vẻ quan trọng, phán rằng đây là một con cáo vàng.

Fritz cười lớn vị giáo sư uyên bác vốn nhận ra con chuột agouti ngay lập tức, mà giờ lại gọi chó rừng là cáo vàng!

“Tớ phán đoán dựa trên các đặc điểm riêng biệt,” Ernest vừa cẩn thận quan sát vừa nói.

“Ồ! Các đặc điểm cơ đấy!” Fritz mỉa mai nói, “cậu có nghĩ đây là một con sói vàng không?”

“Xin cậu đừng khó tính thế, anh hai,” Ernest nói, mắt rưng rưng lệ, “chắc gì anh đã biết tên nó nếu bố không bảo cho anh.”

Tôi mắng Fritz vì tội chế giễu em trai, đồng thời quở Ernest vì quá dễ ái ngại; và để làm hòa cho cả hai, tôi bảo chúng rằng con chó rừng mang đặc tính của cả chó sói, cáo và chó nhà. Cuộc tranh luận chấm dứt, tôi gọi các con đọc kinh cầu nguyện, rồi sau đó chúng tôi nghĩ đến bữa sáng. Chúng tôi chẳng có gì ngoài bánh quy, vốn dĩ vừa khô vừa cứng. Fritz nài nỉ xin chút phô mai ăn kèm; còn Ernest, kẻ chẳng bao giờ thấy đủ như người khác, liền đảo mắt ngó nghiêng thùng gỗ chưa mở. Cậu ta quay lại ngay, la lớn: “Ước gì chúng ta có chút bơ ăn cùng bánh quy thì ngon biết mấy, bố ạ!”

Tôi công nhận thế thì ngon thật, nhưng nghĩ đến chuyện đó cũng vô ích.

“Hãy mở thùng kia ra xem,” cậu ta nói, vừa chìa ra một mẩu bơ lấy được từ khe hở nhỏ bên sườn thùng.

“Bản năng tìm đồ ngon của con đã mang lại may mắn cho chúng ta,” tôi nói. “Nào các con, ai muốn ăn bánh quy phết bơ không?”

Chúng tôi bắt đầu bàn xem làm cách nào để lấy được đồ bên trong thùng gỗ mà không để thứ dễ hỏng ấy tiếp xúc với sức nóng của mặt trời. Cuối cùng, tôi khoét một lỗ ở phần dưới của thùng, đủ rộng để chúng tôi khều bơ ra theo ý muốn bằng một chiếc xẻng gỗ nhỏ mà tôi tiện tay làm ngay. Sau đó, chúng tôi ngồi xuống ăn sáng với một chiếc gáo dừa đựng đầy bơ muối Hà Lan ngon lành. Chúng tôi nướng bánh quy, phết bơ khi còn nóng, và đều công nhận rằng món này tuyệt hảo. Bầy chó nằm ngủ bên cạnh khi chúng tôi ăn sáng; và tôi để ý thấy chúng mang những vết tích đẫm máu từ cuộc hỗn chiến đêm qua với các vết thương sâu và nguy hiểm, nhất là ở vùng cổ; vợ tôi liền bôi bơ đã rửa sạch bằng nước lạnh lên vết thương cho chúng; và những con vật tội nghiệp tỏ ra biết ơn vì sự dễ chịu mà nó mang lại. Ernest một cách khôn ngoan nhận xét rằng chúng nên đeo vòng cổ có gai để tự vệ trước bất kỳ loài thú hoang nào có thể chạm trán.

“Con sẽ làm vòng cổ cho chúng,” Jack nói, chẳng bao giờ do dự trước điều gì. Tôi rất mừng khi thấy năng lực sáng tạo của thằng bé được phát huy; và sau khi dặn các con không được rời xa mẹ trong lúc chúng tôi vắng nhà, đồng thời cầu xin Chúa ban phước cho công việc của mình, chúng tôi bắt đầu chuẩn bị cho chuyến đi.

Trong lúc Fritz chuẩn bị chiếc thuyền, tôi dựng một cột tín hiệu gắn một mảnh buồm làm cờ, để treo lên chừng nào mọi việc còn thuận lợi; nhưng nếu chúng tôi cần gọi về, họ sẽ hạ cờ xuống và bắn súng ba lần, khi ấy chúng tôi sẽ lập tức quay về; vì tôi đã thông báo với người vợ yêu quý rằng có lẽ chúng tôi phải ở lại trên tàu qua đêm; và nàng đã đồng ý với kế hoạch đó sau khi tôi hứa sẽ ngủ qua đêm trong những chiếc thùng phuy thay vì trên tàu. Chúng tôi chẳng mang gì ngoài súng ống và đạn dược; hoàn toàn dựa vào lương thực trên tàu. Tuy nhiên, Fritz vẫn né mang theo con khỉ để có thể cho nó uống sữa bò.

Chúng tôi bịn rịn chia tay nhau rồi lên thuyền. Khi đã chèo ra giữa vịnh, tôi nhận thấy một dòng chảy mạnh được tạo ra bởi dòng nước sông đổ ra cách đó không xa, và tôi rất vui vì tận dụng được nó để đỡ tốn sức. Dòng nước đưa chúng tôi đi hết ba phần chặng đường, phần còn lại chúng tôi tự chèo; và khi tiến vào lỗ hổng trên thân tàu, chúng tôi buộc chặt thuyền lại rồi bước lên tàu.

Việc đầu tiên của Fritz là cho lũ thú ăn. Chúng đang ở trên boong và chào đón chúng tôi theo cách riêng của mình, mừng rỡ khi gặp lại những người bạn cũng như được thỏa mãn nhu cầu. Chúng tôi cho con khỉ con bú nhờ một con dê, và nó bú với những cử chỉ kỳ quặc khiến chúng tôi cười ngất ngây. Sau đó, chúng tôi tự tẩm bổ chút ít, và ngạc nhiên thay, Fritz đề xuất rằng chúng ta nên bắt đầu bằng việc lắp thêm một cánh buồm cho thuyền. Cậu nói dòng nước đưa chúng ta ra tàu không thể chở chúng ta ngược về được, nhưng ngọn gió thổi quá mạnh ngược chiều khiến việc chèo thuyền trở nên mệt nhọc sẽ rất hữu ích nếu chúng ta có buồm.

Tôi cảm ơn lời khuyên hay của quân sư nhà mình và lập tức bắt tay vào việc. Tôi chọn một cây sào chắc chắn làm cột buồm, và một tấm buồm tam giác được cố định vào một thanh ngang. Chúng tôi khoét một lỗ trên tấm ván để dựng cột buồm, cố định tấm ván lên chiếc thùng phuy thứ tư của mình để làm boong tàu, rồi nhờ sự trợ giúp của một chiếc ròng rọc thường dùng để kéo buồm lên hạ xuống, chúng tôi dựng cột buồm lên. Cuối cùng, hai sợi dây thừng một đầu buộc vào thanh ngang, đầu kia buộc vào hai mẩu thuyền, giúp chúng tôi điều hướng cánh buồm theo ý muốn. Tiếp theo, Fritz trang trí đỉnh cột buồm bằng một dải cờ đỏ nhỏ. Cậu đặt tên cho chiếc thuyền là Deliverance và yêu cầu từ nay gọi nó là chiếc tiểu đỉnh. Để hoàn thiện trang thiết bị cho thuyền, tôi chế tạo một chiếc bánh lái để có thể điều khiển thuyền từ bất kỳ đầu nào.

Sau khi ra tín hiệu cho những người ở nhà biết rằng chúng tôi sẽ không quay về trong đêm nay, chúng tôi dành phần thời gian còn lại trong ngày để trút hết những hòn đá dùng làm dằn tàu ra khỏi các thùng phuy và thay thế chúng bằng những thứ hữu ích. Thuốc súng, đạn ghém, đinh và đủ loại dụng cụ, những mảnh vải; trên hết, chúng tôi không quên dao, nĩa, thìa và dụng cụ nhà bếp, bao gồm cả trục quay nướng thịt. Trong cabin của thuyền trưởng, chúng tôi tìm thấy vài bộ đồ bạc, đĩa thiếc cùng một chiếc rương nhỏ chứa đầy các chai rượu thượng hạng. Chúng tôi lấy tất cả những thứ đó, cùng một rương thực phẩm dành cho bàn ăn của các sĩ quan, súp cô đặc, giăm bông Westphalia, xúc xích Bologna, v.v.; cùng vài bao ngô, lúa mì và các loại hạt giống khác, cùng một ít khoai tây. Chúng tôi thu gom tất cả nông cụ mà mình có thể nhét vừa chỗ trống, và theo yêu cầu của Fritz, mang theo vài chiếc võng cùng chăn mền; hai hoặc ba khẩu súng đẹp cùng một ôm mã tấu, gươm và dao săn. Cuối cùng, tôi đưa lên thuyền một thùng lưu huỳnh, toàn bộ dây thừng và sợi dây có thể vớ lấy, cùng một cuộn vải bạt lớn. Lưu huỳnh dùng để làm diêm. Các thùng phuy của chúng tôi đã chất đầy đến miệng; chỉ còn chừa lại chút không gian vừa đủ để ngồi, và sẽ rất nguy hiểm nếu cố gắng quay về nếu biển không phẳng lặng như thế.

Đêm buông xuống, chúng tôi trao đổi tín hiệu để báo hiệu sự bình yên trên biển lẫn trên bờ, và sau khi cầu nguyện cho những thân nhân yêu quý trên đảo, chúng tôi tìm đến những chiếc thùng phuy của mình — tuy không phải là chỗ ngủ xa hoa nhất nhưng lại an toàn hơn trên tàu. Fritz ngủ say sưa; nhưng tôi thì không tài nào chợp mắt được vì cứ nghĩ đến bấy loài chó rừng. Dẫu vậy, tôi vẫn thầm tạ ơn Chúa vì sự bảo vệ mà chúng có được từ bấy chú chó.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.