Khi ánh bình minh vừa ló rạng, chúng tôi đã thức dậy và sẵn sàng. Sau lời cầu nguyện ban đầu, tôi quay sang bảo các con: “Các con yêu quý của ta, giờ đây, với sự giúp đỡ của Chúa, chúng ta sắp thực hiện cuộc vượt thoát. Trước khi đi, hãy chuẩn bị thức ăn cho những con vật tội nghiệp của chúng ta trong vài ngày tới; chúng ta không thể mang chúng theo, nhưng nếu chuyến hải trình thành công, chúng ta có thể quay lại đón chúng. Các con đã sẵn sàng chưa? Hãy thu gom những gì các con muốn mang theo, nhưng chỉ lấy những thứ thực sự cần thiết cho nhu cầu trước mắt.” Tôi đã lên kế hoạch cho chuyến vận chuyển đầu tiên gồm một thùng thuốc súng, ba khẩu súng săn, ba khẩu súng trường, hai cặp súng ngắn bỏ túi và một cặp lớn hơn, đạn ghém, đạn chì nhiều nhất có thể mang theo cùng với một chiếc khuôn đúc đạn; tôi cũng muốn mỗi người con trai của tôi, cũng như vợ tôi, đều có một chiếc túi đựng thú săn hoàn chỉnh, trên tàu có sẵn vài chiếc trong các cabin của sĩ quan. Sau đó, chúng tôi chọn ra một hộp súp cô đặc, một hộp bánh quy, một cái nồi sắt, một chiếc cần câu, một thùng đinh, một thùng dụng cụ thợ mộc, và một ít vải bạt để dựng lều.
Thực ra các con tôi đã thu gom quá nhiều thứ đến mức chúng tôi buộc phải bỏ lại bớt, dù tôi đã đổi toàn bộ phần dằn tàu vô ích lấy những vật dụng cần thiết.
Khi mọi thứ đã sẵn sàng, chúng tôi cầu xin ơn lành của Chúa cho công việc sắp tới và chuẩn bị xuống những chiếc thùng. Đúng lúc ấy, lũ gà trống gáy vang như một lời từ biệt đầy trách móc dành cho chúng tôi; chúng tôi đã quên bẵng chúng! Tôi lập tức đề nghị mang theo đàn gia cầm gồm ngỗng, vịt, gà và bồ câu; bởi như tôi đã nói với vợ tôi, nếu chúng ta không thể nuôi chúng, thì ít nhất chúng sẽ nuôi chúng ta. Chúng tôi đặt mười con gà mái và hai con gà trống vào một chiếc thùng có nắp; số còn lại chúng tôi thả tự do, với hy vọng lũ ngỗng và vịt có thể bơi vào bờ, còn lũ bồ câu có thể bay tới đó.
Chúng tôi đứng đợi vợ tôi một lát. Bà bước đến, mang theo một chiếc túi lớn rồi ném thẳng vào chiếc thùng chở cậu con trai út của mình. Tôi đoán chắc nó dùng để chót chân cho thằng bé hoặc làm chỗ ngồi, nên không ý kiến gì. Dưới đây là thứ tự lên thuyền của gia đình chúng tôi. Ở khoang thứ nhất là người mẹ hiền thảo, người vợ hết mực chung thủy và sùng đạo.
Ở khoang thứ hai là cậu bé Francis đáng yêu của chúng tôi, mới sáu tuổi và có bản tính vô cùng dịu dàng.
Ở khoang thứ ba là Fritz, đứa con trai lớn của chúng tôi, mười bốn hoặc mười lăm tuổi, một thiếu niên tóc xoăn, lanh lợi, thông minh và hoạt bát.
Ở khoang thứ tư là thùng thuốc súng, cùng với lũ gà và tấm vải bạt.
Lương hỏa của chúng tôi lấp đầy khoang thứ năm.
Ở khoang thứ sáu là thằng Jack vô tư, mười tuổi, đầy tinh thần phiêu lưu, táo bạo và tháo vát.
Ở khoang thứ bảy là Ernest, mười hai tuổi, hiểu biết và lý trí, nhưng có phần ích kỷ và lười biếng. Ở khoang thứ tám là chính tôi, một người cha đầy âu lo, gánh vác trọng trách dẫn dắt chiếc thuyền để cứu gia đình thân yêu của mình. Mỗi người chúng tôi đều để bên cạnh một số dụng cụ hữu ích; mỗi người cầm một mái chèo, và luôn thủ sẵn phao bơi bên mình đề phòng trường hợp không may bị lật thuyền. Thủy triều đang lên khi chúng tôi rời đi, và tôi nhận định điều này có thể hỗ trợ cho những nỗ lực yếu ớt của mình. Chúng tôi xoay ngang các thanh giữ thăng bằng, và nhờ thế đã vượt qua được khe nứt của thân tàu để tiến ra biển lớn. Chúng tôi chèo hết sức có thể để đến vùng đất xanh thẫm đang ẩn hiện đằng xa, nhưng vô ích trong một lúc đầu, vì chiếc thuyền cứ quay vòng tròn và chẳng tiến lên được chút nào. Cuối cùng, tôi cũng tìm cách điều khiển được tay chèo để thuyền đi thẳng về phía trước.
Ngay khi thấy chúng tôi khởi hành, lũ chó liền nhảy xuống biển bơi theo; tôi không thể cho chúng lên thuyền vì sợ làm lật thuyền. Tôi vô cùng áy náy, bởi tôi hầu như chẳng trông mong gì chúng có thể bơi được vào đến bờ; thế nhưng, bằng cách thỉnh thoảng gác hai chân trước lên các thanh giữ thăng bằng của chúng tôi, chúng đã cố gắng bám theo kịp đoàn. Turk là một con chó giống Anh, còn Flora là giống chó Đan Mạch.
Chúng tôi tiến đi chậm chạp nhưng an toàn. Càng đến gần đất liền, khung cảnh càng trở nên ảm đạm và tiêu điều. Bờ biển đá dường như chẳng báo hiệu điều gì khác ngoài nạn đói và khốn khổ. Những con sóng vỗ nhẹ vào bờ đang cuộn theo vô số thùng gỗ, kiện hàng và rương hòm trôi dạt từ xác tàu đắm. Với hy vọng vớt vát được ít lương thực tốt, tôi gọi Fritz đến giúp; nó cầm một sợi dây, búa và đinh, và chúng tôi đã xoay sở chộp lấy hai thùng phuy lớn trên đường đi, rồi dùng dây thừng buộc chặt chúng vào thuyền để kéo theo vào bờ.
Khi chúng tôi đến gần hơn, bờ biển có vẻ khả quan hơn một chút. Dãy đá ngầm không liền mạch, và đôi mắt tinh anh của Fritz đã nhận ra một số cái cây mà nó quả quyết là cây dừa; Ernest vô cùng vui sướng trước viễn cảnh được ăn những quả dừa to và ngon hơn hẳn bất cứ loại nào mọc ở châu Âu. Tôi đang tiếc nuối vì đã không mang theo chiếc kính viễn vọng lớn từ cabin của thuyền trưởng, thì Jack lôi từ trong túi ra một chiếc nhỏ hơn, ngẩng cao đầu trao lại cho tôi với vẻ đầy tự hào.
Đây là một món quà vô giá, vì nhờ nó mà tôi đã có thể thực hiện các quan sát cần thiết và định hướng hành trình của mình. Bờ biển trước mặt chúng tôi mang một vẻ hoang sơ và quạnh quẽ — cảnh sắc trông có vẻ khá hơn về phía bên trái; nhưng tôi không thể tiến vào khu vực đó do một dòng hải lưu đẩy chúng tôi dạt về phía bờ biển đá cằn cỗi. Cuối cùng, chúng tôi nhìn thấy gần cửa một con lạch nhỏ, một vũngmịn nằm giữa các mỏm đá mà đàn ngỗng và vịt đang hướng tới, đóng vai trò như những hoa tiêu dẫn đường cho chúng tôi. Khe hở này tạo thành một vịnh nhỏ với mặt nước phẳng lặng, độ sâu vừa đủ cho chiếc thuyền của chúng tôi. Tôi thận trọng chèo vào và cập bờ tại một nơi có vách đất cao ngang những chiếc thùng của chúng tôi, và mực nước đủ sâu để chúng tôi tiếp cận. Bờ biển mở rộng dần vào trong nội địa, tạo thành một đoạn dốc thoai thoải hình tam giác, với phần đỉnh chìm khuất giữa những rặng đá và phần đáy hướng ra biển.
Những ai có thể di chuyển được liền nhảy lên bờ trong chớp mắt. Ngay cả cậu bé Francis nhỏ nhắn, người vừa được đặt nằm trong thùng như một con cá trích muối, cũng cố bò ra nhưng đành phải chờ sự trợ giúp của mẹ. Lũ chó đã lên bờ trước đó ra chào đón chúng tôi bằng sự thân thiện thực sự, quấn quýt nhảy nhót xung quanh; bầy ngỗng kêu cạc cạc inh ỏi, hòa cùng tiếng quác quác trầm đục đầy uy lực của đàn vịt mỏ vàng. Âm thanh này, cùng với tiếng kêu lạch cạch của bầy gà vừa được thả tự do và tiếng líu lo của lũ trẻ, tạo nên một cái chợ Babel đích thực; hòa quyện vào đó là những tiếng kêu chói tai của loài chim cánh cụt và hồng hạc đang bay lượn trên đầu hoặc đậu trên các mỏm đá. Chúng xuất hiện với số lượng khổng lồ và tiếng kêu của chúng gần như làm chúng tôi điếc tai, nhất là khi chúng chẳng hề ăn khớp gì với thứ âm thanh hài hòa của bầy gia cầm nhà.
Tuy nhiên, tôi vẫn vô cùng vui mừng khi nhìn thấy những sinh vật có cánh này, trong đầu đã thầm tưởng tượng chúng nằm trên bàn ăn của mình nếu chúng tôi buộc phải lưu lại vùng đất hoang vu này.
Việc đầu tiên của chúng tôi khi đặt chân lên bờ an toàn là quỳ xuống tạ ơn Chúa, đấng mà chúng tôi mang ơn sinh thành và cứu mạng, đồng thời phó thác hoàn toàn bản thân vào lòng nhân ái của Ngài như một người cha.
Sau đó, chúng tôi bắt đầu dỡ hàng khỏi thuyền. Chúng tôi thấy mình thật giàu có biết bao với số ít ỏi vừa cứu được! Chúng tôi tìm một vị trí thuận tiện để dựng lều dưới bóng râm của các mỏm đá. Chúng tôi cắm một cây sào vào khe nứt của vách đá; cây sào này tựa vững chắc vào một cây cọc khác được đóng xuống đất, tạo thành khung của chiếc lều. Tấm vải bạt sau đó được căng lên trên và cố định ở các khoảng cách thích hợp bằng những chiếc cọc cắm xuống đất, để tăng thêm phần kiên cố, chúng tôi chèn thêm một số thùng đựng lương thực; chúng tôi móc thêm một vài cái khâu vào tấm bạt ở lối ra vào phía trước để có thể khép kín cửa lều khi màn đêm buông xuống. Tôi sai các con đi tìm một ít rêu và cỏ khô, trải ra phơi nắng cho khô để làm giường ngủ; và trong lúc mọi người, kể cả bé Francis, đều bận rộn với việc đó, tôi dựng một khu bếp nhỏ cách xa lều một chút, nằm gần con sông sẽ cung cấp nước ngọt cho chúng tôi. Đó chỉ đơn thuần là một cái bếp lò làm bằng những viên đá dẹp lấy từ lòng suối, được quây xung quanh bằng một số cành cây dày. Tôi nhóm một ngọn lửa ấm áp bằng nhữngh cành củi khô, bắc nồi nước đã đổ đầy nước và thả vào vài viên súp cô đặc, rồi để vợ tôi cùng cậu trợ lý nhỏ Francis chuẩn bị bữa trưa. Thằng bé cứ tưởng những viên súp cô đặc ấy là keo dán, và chẳng thể tài nào hiểu nổi mẹ làm cách nào để nấu được súp khi chúng tôi chẳng có lấy một mẩu thịt nào và ở đây cũng chẳng có hàng thịt nào cả.
Trong khi đó, Fritz đã nạp đạn vào súng. Nó cầm một khẩu đi về phía bờ sông; Ernest từ chối đi cùng vì con đường gập ghềnh không hợp với gu của nó, nó thích đi dọc bờ biển hơn. Jack tiến về phía một mỏm đá bên trái kéo dài ra biển để bắt một ít sò. Tôi đi tìm cách kéo hai chiếc thùng phuy đang nổi vào bờ nhưng không thành công, vì chỗ cập bờ quá dốc nên không thể kéo chúng lên được. Trong lúc tôi đang hoài công tìm kiếm một vị trí thuận lợi hơn, tôi bỗng nghe thấy tiếng kêu cứu đầy hoảng loạn của đứa con trai cưng Jack. Tôi vội vã vớ lấy chiếc rìu và chạy đến chỗ thằng bé. Tôi thấy nó đang đứng ngập đến đầu gối trong một vũng nước nông, bị một con tôm hùm lớn kẹp chặt lấy chân bằng cặp càng sắc nhọn. Con vật liền buông ra khi thấy tôi đến; nhưng tôi quyết định bắt nó phải trả giá cho sự hoảng sợ mà nó đã gây ra. Thận trọng nhấc nó lên, tôi xách nó ra ngoài, theo sau là Jack với vẻ mặt vô cùng đắc thắng, muốn tự tay dâng nó cho mẹ sau khi đã quan sát cách tôi cầm. Nhưng thằng bé vừa cầm lấy nó thì đã bị cái đuôi quất cho một cú thật mạnh vào má đến nỗi phải đánh rơi con tôm xuống và bắt đầu khóc ré lên lần nữa. Tôi không nhịn được cười trước sự ngốc nghếch của nó, và trong cơn giận dữ, Jack chộp lấy một cục đá để kết liễu đời kẻ thù. Tôi lấy làm tiếc về hành động đó, liền khuyên nhủ nó không bao giờ nên hành xử trong lúc nóng giận, đồng thời chỉ cho nó thấy rằng nó thật bất công khi tỏ ra thù hằn như vậy; bởi lẽ, nếu nó bị tôm hùm cắn, thì rõ ràng nó cũng sẽ ăn thịt kẻ thù nếu nó chiến thắng. Jack hứa sẽ thận trọng và khoan dung hơn trong tương lai, và xin phép được mang chiến lợi phẩm về khoe mẹ.
“Mẹ ơi,” nó tự hào thốt lên, “một con tôm hùm! Tôm hùm này, Ernest! Fritz đâu rồi? Cẩn thận kẻo nó kẹp đấy, Francis!” Tất cả xúm lại xung quanh với vẻ kinh ngạc. “Đúng vậy,” nó nói thêm với giọng đắc thắng, “đây chính là cái càng hỗn xược dám dám bắt giữ con; nhưng con đã trừng trị cái đồ đểu cáng này rồi.”
“Con đúng là kẻ khoác lác,” tôi nói. “Con sẽ chẳng làm nên trò trống gì với con tôm hùm đó nếu bố không kịp thời xuất hiện; và con đã quên cái tát vào má buộc con phải thả nó ra rồi sao? Hơn nữa, nó chỉ tự vệ bằng thứ vũ khí tự nhiên của mình; còn con thì phải dùng cả một hòn đá lớn. Con chẳng có gì phải tự hào cả, Jack ạ.”
Ernest muốn cho con tôm hùm vào nồi súp để làm nước dùng thêm đậm đà, nhưng mẹ nó, với bản tính tiết kiệm, đã để dành nó cho bữa khác. Tôi liền bước đến chỗ con tôm hùm của Jack bị bắt, và thấy nơi đó khá thuận lợi cho mục đích của mình, tôi bèn kéo hai chiếc thùng phuy lên bờ và dựng đứng chúng lên để cố định.
Khi quay trở lại, tôi chúc mừng Jack vì đã là người đầu tiên gặt hái thành công trong việc đi kiếm thức ăn. Ernest nhận xét rằng nó có nhìn thấy vài con hàu bám trên một mỏm đá, nhưng không thể lấy được nếu không bị ướt chân, mà nó thì lại không thích điều đó.
“Quả thật là cậu công tử đài các của ta!” tôi cười nói. “Ta đành phải phiền cậu quay lại đó và kiếm ít hàu về vậy. Tất cả chúng ta phải cùng chung tay làm việc vì lợi ích chung, đừng bận tâm đến chuyện ướt chân. Mặt trời sẽ làm chúng ta khô ráo ngay thôi.”
“Hay là con tiện tay mang luôn ít muối về nhỉ,” nó nói; “con thấy có rất nhiều trong các khe đá, chắc là do thủy triều để lại phải không bố?”
“Chắc chắn rồi, nhà thông thái ạ,” tôi đáp; “nếu không thì nó từ đâu ra chứ? Sự việc rõ mười mươi thế thì tốt hơn là con nên xách về một túi đầy còn hơn là đứng đấy mà ngẫm nghĩ. Nhưng nếu con muốn thoát khỏi món súp nhạt nhẽo này, thì hãy mau đi lấy ít muối đi.”
Nó đi rồi quay lại với một ít muối lẫn lộn cát và đất đến mức tôi suýt vứt đi vì nghĩ là vô tích sự; nhưng vợ tôi đã hòa tan nó vào nước ngọt, rồi lọc qua một mảnh vải bạt và dùng thứ nước đó để nêm nếm cho nồi súp của chúng tôi.
Jack thắc mắc tại sao chúng tôi không dùng luôn nước biển; và tôi giải thích cho nó rằng vị mặn đắng và khó chịu của nước biển sẽ làm hỏng bữa ăn của chúng ta. Vợ tôi dùng một nhành cây nhỏ khuấy nồi súp, nếm thử và phán rằng nó rất ngon, nhưng rồi lại nói thêm: “Chúng ta phải đợi Fritz đã. Hơn nữa, làm sao chúng ta có thể ăn súp mà không có bát hay thìa đây? Chẳng lẽ lại bê cả cái nồi đang sôi sùng sục này lên miệng mà uống.”
Đúng là như vậy thật. Chúng tôi ngẩn ngơ nhìn chằm chằm vào cái nồi, rồi cuối cùng tất cả đều phá lên cười trước hoàn cảnh túng quẫn và sự ngốc nghếch của mình khi quên mang theo những vật dụng thiết yếu như thế.
“Giá như chúng ta có quả dừa,” Ernest nói, “chúng ta có thể bổ đôi chúng ra và làm bát với thìa.”
“Giá như!” tôi đáp — “nhưng chúng ta làm gì có! Ước gì thì thà ước ngay một tá thìa bạc đẹp đẽ còn hơn, nếu như ước ao mà có ích.”
“Nhưng mà,” nó nhận xét, “chúng ta có thể dùng vỏ hàu thay thế.”
“Một ý kiến hay đấy, Ernest; ra lấy ngay hàu về đây, và nhớ nhé các chàng trai, không được phàn nàn gì cả, dẫu cho thìa không có cán và các con phải nhúng cả ngón tay vào tô đấy.”
Jack vội vã chạy đi, lội ngập đến nửa đùi dưới nước trước cả khi Ernest kịp tới nơi. Nó giật mạnh những con hàu ra rồi ném cho người anh lười nhác của mình, người đang nhét đầy khăn mùi xoa, không quên nhét một con thật to vào túi để dành riêng cho mình; rồi bọn chúng quay trở lại với chiến lợi phẩm.
Fritz vẫn chưa xuất hiện, và mẹ nó bắt đầu cảm thấy lo lắng thì chúng tôi nghe thấy tiếng nó vui vẻ gọi vọng lại từ đằng xa. Chẳng mấy chốc nó đã đến nơi, mang theo vẻ mặt thất vọng giả tạo và giấu hai tay ra đằng sau; nhưng Jack, kẻ đã lén vòng ra sau lưng anh mình, liền la lên: “Một con lợn sữa! Lợn sữa này!” Và rồi với niềm tự hào và sự thỏa mãn tột cùng, nó chìa ra chiến lợi phẩm của mình, mà qua mô tả của những nhà thám hiểm, tôi nhận ra đó là loài chuột agouti rất phổ biến ở vùng này, một loài động vật chạy nhanh, chuyên đào hang sống dưới đất và ăn quả cùng các loại hạt; thịt của chúng có vị hơi giống thịt thỏ nhưng có mùi vị không dễ chịu mấy đối với người châu Âu.
Ai nấy đều háo hức muốn biết chi tiết về cuộc săn bắt; nhưng tôi đã nghiêm khắc quở trách con trai mình vì trò đùa dối trá nho nhỏ đó, đồng thời cảnh cáo nó không bao giờ được dùng đến dù chỉ là một lời nói dối nhỏ nhất, ngay cả trong đùa giỡn. Sau đó, tôi hỏi nó đã bắt được con agouti ở đâu. Nó kể rằng nó đã sang tận bên kia sông, “một nơi hoàn toàn khác biệt so với chỗ này,” nó tiếp lời. “Bờ sông nằm ở vùng thấp, và bố không thể tưởng tượng nổi số lượng thùng gỗ, hòm rương, ván gỗ và đủ mọi thứ mà biển đã đánh dạt vào bờ đâu; hay là chúng ta sang đó chiếm lấy chúng đi? Và ngày mai, thưa bố, chúng ta nên thực hiện thêm một chuyến ra tàu để thăm chừng đàn gia sản. Ít nhất chúng ta cũng có thể dắt con bò về. Bánh quy mà nhúng vào sữa thì chắc sẽ đỡ cứng hơn nhiều.”
“Và chắc chắn là ngon hơn hẳn rồi,” tên Ernest tham ăn chen vào.
“Thế nên,” Fritz nói tiếp, “bên kia sông có bãi cỏ tươi tốt để chăn gia súc và một khu rừng râm mát. Tại sao chúng ta cứ phải ở lại cái vùng hoang mạc cằn cỗi này cơ chứ?”
“Khoan đã!” tôi đáp, “việc nào ra việc nấy. Ngày mai và ngày kia rồi sẽ có việc của ngày nấy. Nhưng trước tiên hãy nói cho bố biết, con có nhìn thấy chút dấu tích nào về các bạn đồng hành trên tàu của chúng ta không?”
“Chẳng có lấy một bóng người, sống hay chết, trên cạn lẫn ngoài biển; nhưng con có thấy một con vật trông giống lợn hơn con này, nhưng chân lại giống loài thỏ; nó nhảy nhót giữa đám cỏ, thỉnh thoảng lại ngồimệt mỏi xổm dậy rồi dùng hai chân trước xoa xoa mõm; lúc thì đi tìm rễ cây và gặm nhấm chúng như sóc. Nếu không sợ nó sổng mất, con đã cố bắt sống nó rồi, trông nó có vẻ thuần lắm cơ.”
Trong lúc chúng tôi đang trò chuyện, Jack vẫn đang loay hoay với đủ mọi biểu cảm nhăn nhó để dùng dao cạy một con hàu. Tôi phì cười trước những nỗ lực vô ích của nó, bèn đặt vài con lên lửa và chỉ cho nó thấy chúng tự động mở miệng ra thế nào. Bản thân tôi không thích ăn hàu lắm; nhưng vì chúng được xem là món ngon ở khắp mọi nơi, tôi khuyên các con trai mình nên nếm thử. Ban đầu tất cả đều từ chối món ăn kém hấp dẫn này, ngoại trừ Jack, với lòng dũng cảm tuyệt vời, nó nhắm nghiền mắt lại và liều mình nuốt trọn một con như thể đang uống thuốc đắng. Những đứa khác làm theo gương nó, và rồi tất cả đều đồng tình với tôi rằng hàu chẳng ngon lành gì. Những chiếc vỏ hàu nhanh chóng được nhúng vào nồi để múc ít nước súp thơm ngon; nhưng vì bị bỏng tay, đứa nào đứa nấy thi nhau la hét oai oái. Ernest lấy chiếc vỏ hàu lớn trong túi ra, cẩn thận múc đầy một phần súp ngon lành rồi đặt xuống để nguội, với vẻ đắc ý về sự khôn ngoan của bản thân.
“Con thật là chu đáo, Ernest con yêu của bố,” tôi nói; “nhưng sao những suy nghĩ của con lúc nào cũng chỉ dành cho bản thân mình, mà rất hiếm khi nghĩ cho người khác? Để trừng phạt cho tính ích kỷ đó, phần súp này phải được dành cho những chú chó trung thành của chúng ta. Tất cả chúng ta đều có thể nhúng vỏ hàu vào nồi, nhưng lũ chó thì không thể. Vì vậy, chúng sẽ được hưởng phần súp của con, còn con thì phải đợi và ăn như mọi người.” Lời quở trách của tôi đã chạm đến tâm can nó, và nó vâng lời đặt chiếc vỏ hàu xuống đất, để lũ chó chạy đến húp sạch ngay lập tức.
Chúng tôi đói cồn cào chẳng kém gì chúng, và đang hồi hộp chờ đợi cho đến khi nồi súp nguội bớt; thì chúng tôi bỗng nhận thấy bầy chó đang cắn xé và gặm nhấm con agouti của Fritz. Lũ trẻ la oai oái; Fritz nổi giận lôi đình, cầm súng quất vào lũ chó, chửi rủa chúng, ném đá và suýt nữa thì đập chết chúng nếu tôi không kịp giữ lại. Nó thực sự đã làm cong cả nòng súng vì đánh chúng. Ngay khi nó chịu lắng nghe tôi, tôi đã nghiêm khắc quở trách sự bạo lực của nó, chỉ cho nó thấy nó đã làm chúng tôi đau lòng và khiến mẹ nó hoảng sợ đến mức nào; rằng nó đã làm hỏng khẩu súng vốn có thể rất hữu ích với chúng ta, và suýt giết chết những con vật tội nghiệp vốn có ích hơn nhiều. “Cơn giận dữ,” tôi nói, “dẫn đến mọi tội ác. Hãy nhớ đến Cain, kẻ đã giết chính em ruột mình trong một cơn thịnh nộ.” “Ôi, bố ơi!” nó thốt lên với giọng đầy sợ hãi; và nhận thức được sai lầm của mình, nó cất lời xin lỗi và rơi những giọt nước mắt cay đắng.
Chẳng bao lâu sau bữa ăn, mặt trời lặn xuống, bầy gia cầm quây quần bên chúng tôi và nhặt những vụn bánh quy vương vãi. Vợ tôi lúc này lấy ra chiếc túi bí ẩn của mình và rút từ trong đó ra vài nắm hạt để cho đàn gà ăn. Bà cũng cho tôi xem rất nhiều loại hạt giống rau củ hữu ích khác. Tôi ca ngợi sự thận trọng của bà và dặn bà phải hết sức tiết kiệm, bởi những hạt giống này có giá trị vô cùng to lớn, và chúng ta có thể mang từ tàu về một ít bánh quy bị hỏng để cho lũ gà ăn.
Lúc này, lũ bồ câu bay lượn giữa các hòm đá, gà trống và gà mái đậu trên khung lều, còn ngỗng và vịt thì chọn trú ẩn trong một đầm lầy phủ đầy bụi cây gần biển. Chúng tôi chuẩn bị đi ngủ; nạp đạn vào tất cả các vũ khí, sau đó cùng nhau cầu nguyện, tạ ơn Chúa vì lòng thương xót vô biên của Ngài đối với chúng tôi và phó thác bản thân vào sự che chở của Ngài. Khi tia sáng cuối cùng vừa vụt tắt, chúng tôi đóng kín cửa lều và nằm sát cạnh nhau trên những chiếc giường của mình. Bọn trẻ đã nhận xét rằng bóng tối buông xuống quá nhanh, từ đó tôi suy luận rằng chúng ta đang ở không xa đường xích đạo; vì tôi giải thích cho chúng hiểu rằng, các tia nắng mặt trời chiếu càng vuông góc thì sự khúc xạ càng ít; và do đó màn đêm buông xuống rất nhanh khi mặt trời lặn xuống dưới đường chân trời.
Tôi nghé ra ngoài lần nữa để xem mọi thứ đã yên tĩnh chưa, rồi cẩn thận khép kín lối vào và nằm xuống. Dù ban ngày có ấm áp bao nhiêu thì ban đêm lại lạnh buốt bấy nhiêu, khiến chúng tôi buộc phải chen chúc vào nhau để lấy hơi ấm. Bọn trẻ nhanh chóng chìm vào giấc ngủ, và khi tôi thấy vợ mình chìm vào giấc ngủ bình yên đầu tiên, đôi mắt tôi cũng khép lại, và đêm đầu tiên của chúng tôi trên hoang đảo trôi qua một cách êm đềm.