Thi Ca Bình Dân Việt-nam

Lượt đọc: 5 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
B. Quá Trình Cấu Tạo Thi Ca Bình Dân
B. Quá Trình Cấu Tạo Thi Ca Bình Dân

❊ ❊ ❊

Trên đây, nếu chúng ta đã thừa nhận nguồn gốc thi ca bình dân chịu ảnh hưởng qua nhiều yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý, ngôn ngữ… thì quá trình cấu tạo thi ca bình dân cũng không thoát ra ngoài mọi chi phối ấy.

Cho nên, nói đến quá trình cấu tạo thi ca tức là chúng ta nói đến sự diễn biến của nền thi ca qua dòng lịch sử, từ thô sơ đến hoàn bị, trong đó chứa đựng từng giai đoạn thời gian.

Nhưng thế nào là giai đoạn thời gian ?

Nhà văn học sử thường chia lịch sử văn học mỗi dân tộc thành nhiều thời đại, hoặc nhiều thế hệ. Thời đại hoặc thế hệ là giai đoạn không hạn định dài ngắn, đánh dấu một biến chuyển mới trong lịch sử văn học.

Như vậy, muốn tìm quá trình cấu tạo thi ca bình dân, chúng ta cũng phải đi ngược dòng thời gian, tìm mọi biến chuyển ấy – biến chuyển văn học.

Với phương pháp này, đối với nền văn chương bác học không khó lắm, bởi vì nền văn chương bác học hầu hết mọi diễn biến đều được ghi lại trên sách vở, chúng ta chỉ cần lục lại dòng lịch sử tư tưởng đã phơi bày trên giấy trắng mực đen để suy cứu quá trình cấu tạo của nó. Còn đối với nền văn chương bình dân thì rất khó khăn. Bởi vì văn chương bình dân là loại văn chương truyền khẩu, chỉ lưu lại trên tiếng nói dân tộc, không rõ xuất xứ, thời gian thì làm thế nào tìm được quá trình cấu tạo.

Ở nước nào cũng vậy, những cái gì của xã hội tiền sử – thời kỳ chưa có văn tự – rất phức tạp. Nó chỉ cấu tạo trên ức thuyết, mà không có thể xác định một cách chắc chắn.

Nếu những nhà nhân chủng học, muốn tìm lại vết tích dân tộc tiền sử phải nhờ vào mặt đất, khai quật những bộ xương khô, những vật dụng chôn lấp để giảo nghiệm thời gian, suy cứu lai lịch, thì những nhà làm văn học sử, muốn đi tìm lịch sử tư tưởng của một dân tộc trong thời tiền sử cũng chỉ còn cách căn cứ vào mọi diễn biến có ảnh hưởng đến tâm tư con người.

1) Trên lãnh vực thi ca, nếu căn cứ vào ảnh hưởng kinh tế để minh định thời gian cấu tạo, thì chúng ta phải căn cứ vào quá trình phát triển nông nghiệp của dân tộc.

Nền kinh tế nông nghiệp nào cũng vậy, từ thô sơ cho đến hoàn mỹ, mà suy tư con người cũng từ chỗ đơn thuần đi đến phức tạp.

Căn cứ vào đấy, nhà kinh tế học cho rằng những câu tục nghữ phong dao nào chứa đựng ý thức nông nghệ thô sơ nhất sẽ là những câu được sáng tác xa với thế hệ chúng ta nhất. Nếu chúng ta đem những phong dao tục ngữ hiện có, cân nhắc, suy cứu và sắp xếp theo nhận định trên, ít ra chúng ta cũng tìm được dấu vết của thời gian trong lịch sử văn học thời thượng cổ.

Thực ra, đó cũng chỉ là lý thuyết, mà hiện trạng phong dao tục ngữ Việt-nam do chúng ta thu thập được ngày nay không còn giữ được tính chất thuần túy cổ sơ nữa. Thời gian đã làm phai nhạt.

Ý thức tiến bộ của con người đã biến cải màu sắc thời gian. Những gì mộc mạc, chất phác, cổ lỗ… đã bị biến thái qua lời truyền tụng trên cửa miệng con người theo từng thế hệ. Chúng ta chỉ còn ghi nhận những hình ảnh phảng phất, mà không còn tìm thấy nguyên trạng nữa. Vả lại, những vết tích xưa đã bị người xưa bỏ rơi trong thời tiền sử rồi.

Theo ức thuyết của các nhà khảo cổ thì văn chương truyền khẩu khởi nguồn từ lúc con người bắt đầu ý thức mọi bí ẩn của vũ trụ, khám phá ra mọi ý nghĩa sâu kín của mọi vật xung quanh. Trong khi quan sát về thiên nhiên, cây cỏ… con người bắt đầu thắc mắc, suy nghĩ về sự cấu tạo, sinh sản, thể xác, tâm linh… do đó mà những mẩu truyện thần thoại được sáng tạo để giải thích hiện tượng. Lần lần tình cảm con người trở nên dồi dào, ngôn ngữ uyển chuyển, phong phú, bấy giờ câu hát điệu hò mới xuất hiện, ca dao tục ngữ ra đời để ghi lại những kinh nghiệm sản xuất, truyền đạt cho nhau những tình cảm chất chứa trong lòng.

Tuy vậy, ức thuyết trên đây cũng không thể xác định tục ngữ phong dao bắt đầu hình thành trong thời gian nào của lịch sử văn học dân tộc được.

2) Nếu căn cứ vào ảnh hưởng chính trị để minh định quá trình cấu tạo thi ca, thì chúng ta phải căn cứ vào diễn biến lịch sử chính trị dân tộc. Với chiều hướng này dân tộc Việt-nam phải trải qua các thời-đại : Bộ-lạc, Bắc-thuộc, Pháp-thuộc, và thời gian vùng lên giành độc lập. Thời bộ-lạc là thời dân tộc Việt-nam còn mang tên Lạc-Việt từ miền Phúc-kiến (Trung-hoa ngày nay) tràn xuống bắc Việt-nam làm chủ miền Trung châu sông Nhị, sông Mã và lấy canh nông làm nghề chính. [1]

Thời đó tuy nghề nông đã phát triển, nhưng chế độ chính trị bộ lạc và ngôn ngữ cổ sơ chưa đúc kết trong tâm tư con người những cảm nghĩ sâu xa về lẽ sống, cho nên thi ca bình dân chưa thể thành hình. Nếu có chăng cũng chỉ là những câu chuyện ngắn về thần thoại bị ảnh hưởng của phong tục Trung-hoa, Ấn-độ. Thi ca bình dân phải đợi đến những mâu thuẫn trong cuộc sống gay gắt, đúc kết thành suy tư, và đến lúc ngôn ngữ phát triển đủ khả năng diễn đạt được tâm tư ấy qua một vài câu ngắn, thì lúc đó tục ngữ, phong dao mới hình thành.

Việt sử còn chép rằng : « Nước Việt-nam bị lệ thuộc ngoại tộc lúc mới vừa vượt khỏi thời kỳ dã man nên văn hóa bị pha trộn sâu đậm với văn hóa Bắc Phương. »

Ông Đào-duy-Anh trong cuốn Khổng giáo phê bình tiểu luận cũng có ghi : « Về phong tục lễ nghi nước ta thì có thể nói rằng không một điều gì là không chịu ảnh hưởng Nho giáo, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp, cũng có điều hay mà cũng có điều dở. »

Như vậy chứng tỏ thời đại bộ lạc của dân tộc Việt-nam quá ngắn, chưa cấu tạo thi ca, hoặc rất thô sơ, mà thi ca chỉ thành hình trong thời Bắc-thuộc. Do đó, tính chất đô hộ của người Tàu đã khiến thi ca bình dân Việt-nam chứa đựng một phần lớn những tư tưởng bất mãn, chống đối, gần như trở thành một phản động lực trước lẽ sống.

Quá trình cấu tạo thi ca nếu dựa trên cơ sở chính trị, và nếu chúng ta đem phân tích theo chiều hướng ấy, tất nhiên chúng ta sẽ tìm thấy một hệ thống tư tưởng chống Nho-giáo, chống sự thống trị của lớp người quí tộc trong tổ chức phong kiến từ giai đoạn tiền sử đến thời Pháp-thuộc. Đó là một thời đại dài dằng dặc, mà trên lãnh vực thi ca bình dân, từ tâm tư đến kỹ thuật, được diễn biến đầy đủ, và phong phú qua mọi mặt.

Tuy nhiên chiều hướng suy luận trên đây chưa phải tuyệt đối. Bên cạnh những yếu tố căn bản về kinh tế, chính trị, còn có những ảnh hưởng khác mà chúng ta không thể tách rời.

3) Nếu căn cứ vào tâm lý học để minh định quá trình cấu tạo thi ca bình dân, chúng ta lại phải nói đến khả năng tình cảm của dân tộc Việt-nam đối với thiên nhiên.

Trong quyển Hành trình vào dân tộc, ông Lê-văn-Hảo có đoạn khảo luận :

« Văn học dân gian trong xã hội cổ truyền cũng như nền văn học và nền âm nhạc của các dân tộc cổ sơ phản ảnh cuộc đấu tranh của con người chống lại thiên nhiên để sống còn, lại vừa phản ảnh sinh hoạt xã hội và cuộc đời tình cảm của con người. Các hình thức kể truyện (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, khôi hài) thì thiên về lý trí, còn các hình thức thi ca thì nặng về tình cảm nhiều hơn…

Âm nhạc dân gian bao giờ cũng gắn liền với truyền thống phong tục và nhằm phục vụ cho sinh hoạt vật chất (lao động) và sinh hoạt tinh thần (tôn giáo, tình yêu) chứ không tách rời ra khỏi nếp sống sinh hoạt để trở thành một sự kiện nghệ thuật độc lập. Âm nhạc dân gian cũng đi theo con đường từ nôi đến mộ, qua những thời kỳ khác nhau của tuổi tác, trong các điệu hát ru em, hát nhi đồng, hát lao động, hát giao duyên, hát cưới hỏi, hát trừ tà, hát thờ, hát ma chay, hát giỗ… Nói tóm lại âm nhạc dân gian chính là một âm nhạc chức năng, một động cơ của đời sống tập thể chứ không phải chỉ khởi xướng hay nghề riêng của cá nhân. Cũng như văn học dân gian, âm nhạc dân gian mang tính chất công trình sáng tạo và lưu truyền tập thể… »

Như vậy, đi tìm quá trình cấu tạo thi ca bình dân, trong khoa học tâm lý, chúng ta sẽ phải đi vào hành trình diễn biến tình cảm của dân tộc.

Trên con đường ấy, chúng ta thấy phát hiện hai lãnh vực : tình cảm vật chất và tình cảm tinh thần.

Tình cảm vật chất phát xuất ở trạng thái sinh hoạt xã hội, do lịch sử đấu tranh giữa con người với cơm áo mà có. Lãnh vực tình cảm này luôn luôn biến đổi qua từng thời đại, theo mức đấu tranh trưởng thành của mỗi dân tộc.

Tình cảm tinh thần phát xuất ở cảm giác thiên nhiên, ảnh hưởng vào địa lý, khí thể của núi sông, cho nên lãnh vực này không thay đổi, và làm nòng cốt cho đặc tính của mỗi dân tộc.

Với chiều hướng này, thi ca bình dân chứa đựng hai sắc thái tranh đấu và trữ tình. Tuy vốn là hai sắc thái, nhưng tình cảm con người luôn luôn pha trộn, vì thế nhà nghiên cứu văn học rất khó phân định, nếu không áp dụng phương pháp khoa học tâm lý để tách rời hai loại tình cảm ấy.

Tóm lại, khoa tâm lý học hình dung quá trình cấu tạo thi ca bình dân diễn biến trên hai dòng tình cảm : vật chất và tinh thần. Nhưng hai dòng cùng chảy chung vào một nguồn. Đó là nguồn tình cảm dân tộc. Tuy một nguồn nhưng vẫn chứa đựng hai dòng tình cảm.

4) Nếu căn cứ vào ngôn ngữ học để tìm quá trình cấu tạo thi ca bình dân Việt-nam, chúng ta phải nhìn vào chiều hướng khác.

Trong quyển Hành trình vào dân tộc, ông Lê-văn-Hảo viết : « Tiếng nói của một dân tộc bao hàm tất cả mọi lãnh vực của đời sống, vì tiếng nói ghi lại tất cả các sự kiện từ kỹ thuật cho đến tín ngưỡng. Phân tách cơ cấu của tiếng nói, theo dõi sự biến chuyển của một số danh từ, một số từ ngữ chính, từ nghĩa đen đến nghĩa bóng, từ nguyên nghĩa đến những ẩn nghĩa phức tạp nhất, từ ý nghĩa độc lập đến ý nghĩa ngụ trong toàn bộ một thành ngữ, một tục ngữ, một bài ca dao hay một ý tưởng, là một trong những con đường chắc chắn nhất dẫn ta đi vào nhân sinh quan và vũ trụ quan của một dân tộc… »

Dĩ nhiên ngôn ngữ là yếu tố quan trọng cho quá trình cấu tạo thi ca của một dân tộc. Phân tích lịch trình diễn biến của ngôn ngữ, chúng ta có thể đạt được yếu tố thời gian cấu tạo thi ca, và có thể tìm hiểu được trạng thái diễn biến của tâm tư qua từng thời đại nữa. Bởi vậy chúng ta không thể chối bỏ ảnh hưởng của từng ngôn ngữ trong thi ca dân tộc.

Trong quyển Việt-nam văn học toàn thư, ông Hoàng-trọng-Miên cũng có đoạn nhận xét về tiếng nói Việt-nam. Ông viết :

« Trải qua các thời đại, tiếng nói Việt-nam chứng tỏ một sức sống mãnh liệt, cũng như sức sinh tồn mạnh mẽ của dân tộc. Trên mười thế kỷ bị văn hóa Trung-quốc tràn ngập, chữ Hán biến thành văn tự chính thống, tiếng Việt-nam cũng như dân tộc ta đã không bị đồng hóa, mà còn Việt-hóa những tiếng vay mượn để làm cho ngôn ngữ dân tộc thêm phần phong phú.

Người Hán có bao nhiêu chữ là ta có bấy nhiêu tiếng Việt, có thể đem dùng vào tiếng nói hằng ngày của dân. Tiếng Tàu không thể lấn áp tiếng Việt được, vì rằng văn (chữ viết) và ngôn (tiếng nói) của Tàu là hai ngữ thể khác nhau, ta học Văn của họ chứ không theo Ngôn của họ. Do đó mà ta Việt-hóa bao nhiêu chữ Hán, chỉ có đem chữ Hán đọc theo âm vận của ta là thành ra tiếng Hán-Việt, không phải chuyển hóa hay tổ hợp.

Sự đồng hóa chữ Hán của dân tộc Việt là một trường hợp có một không hai trong lịch sử ngôn ngữ thế giới.

Qua cuộc đô hộ gần một thế kỷ của Pháp, mặc dù bị rẻ rúng, tiếng Việt đã không bị tiếng Pháp làm mất bản chất mà lại còn vay mượn để làm giàu thêm tiếng nói của dân tộc.

Xét về lịch sử tiến triển của tiếng Việt, có thể chia làm bốn thời kỳ :

1) Thời nguyên thủy, tiếng Việt phôi thai (trước thế kỷ 3 trước Công-nguyên).

2) Thời thượng cổ, chịu ảnh hưởng sâu xa của tiếng Trung-hoa trong mười thế kỷ Bắc-thuộc, thành tiếng Hán-việt (đến thế kỷ 10).

3) Thời kỳ trung cổ và độc lập : đồng hóa tiếng Hán-Việt, mượn thêm các tiếng Chàm, Miên trong cuộc Nam tiến.

4) Thời cận kim và hiện đại mượn thêm tiếng Pháp và phát triển tiếng Việt làm tiếng học thừa.

Sức hấp thụ và đồng hóa phát triển mãnh liệt của tiếng Việt đã đạt đến mức độ khiến ngày nay chúng ta có thể dùng Việt ngữ để diễn đạt bất cứ một tình cảm, tư tưởng nào khúc chiết, khó khăn nhất.

Tính chất dồi dào về âm điệu và hình ảnh của tiếng Việt-nam giúp thêm cho tiếng nói của ta có nhiều nhạc điệu, hình ảnh.

Tiếng nói phong phú, tượng hình, tượng thanh và đầy sinh lực của dân tộc vẫn không ngừng phát triển, khiến chúng ta tin tưởng ở nền văn học căn cứ trên Việt-ngữ, cũng như tin tưởng ở tương lai của những con người nói tiếng Việt… »

Theo sự phân tách trên, tiếng Việt diễn biến không ngừng tạo thành dòng lịch sử của ngôn ngữ. Như vậy, khi tìm quá trình cấu tạo thi ca bình dân, chúng ta có thể căn cứ vào lịch sử ngôn ngữ xác định thời gian sáng tạo thi ca mà không cho là sai lạc lắm.

Trong quyển Kinh Thi Việt-nam, ông Trương-Tửu đã áp dụng phương pháp này qui định những loại phong dao, tục ngữ nào phát hiện do thời đại nào trong lịch sử dân tộc.

Ông viết : « Ngay từ đời Hồng-Bàng, dân Việt-nam ta đã có tiếng nói, đã có tổ chức chính trị, đã có kỹ thuật canh nông. Cuộc đời xã hội ở một dân tộc nông nghiệp, theo sự xét nghiệm của các nhà xã hội học, bao giờ cũng có hội hè, vừa có tính cách tôn giáo, vừa có tính cách kinh tế. Trong lúc hội họp đó thường thường dân chúng ca hát, nhảy múa, đàn địch. Bất kỳ ở dân tộc nào, ba nghệ thuật đầu tiên cũng là thi ca, âm nhạc, khiêu vũ. Mà xét trong lịch sử tiến hóa nhân loại, thì chỉ những xã hội nông nghiệp, ba nghệ thuật ấy mới phát triển được dồi dào và tinh tế. Xã hội ta đời xưa cũng không vượt ra ngoài công lệ ấy. Tôi tin rằng chúng ta cũng đã có những bài thơ tôn giáo, những bài cầu nguyện, những anh hùng ca mà hiện giờ không còn thấy di tích nữa. Sau cái văn chương tối cổ ấy là những câu tục ngữ, phong dao. Những câu này đầu tiên chỉ là những kinh nghiệm nông nghiệp hoặc những câu tả cảnh sinh hoạt giản dị của dân gian. Đó là những vần điệu do đoàn thể làm ra rồi sửa đi cho dễ nhớ để có thể lưu truyền lại cho nhau. (Thời ấy dân ta chưa có văn tự). Phần nhiều các bài ca ấy đều không có những danh từ Hán-Việt xen vào. Mà theo sử chép thì từ đời nhà Triệu về sau – nhất là bắt đầu từ thế kỷ thứ hai – dân ta mới học chữ Hán, mới biết dùng danh từ Hán-Việt. Vậy căn cứ vào bằng chứng kinh tế, và bằng những ngôn ngữ ta có thể nói dân Việt-nam đã truyền tụng nhiều thơ phong dao bằng tiếng của mình, theo âm điệu của tiếng mình trước thời kỳ Bắc-thuộc… »

Như vậy, ý kiến của Trương-Tửu cũng như Hoàng-trọng-Miên đều cho rằng lấy lịch sử ngôn ngữ chứng minh có thể tìm được quá trình cấu tạo thi ca bình dân, và xem ảnh hưởng của ngôn ngữ trong lịch sử ca dao, tục ngữ là điều trọng yếu.

Nhưng, ảnh hưởng ca dao Việt-nam đối với ngôn ngữ còn có một điều cần được bàn đến : « Tại sao thi ca Việt-nam lại cấu tạo trên vần điệu lục bát, vần điệu lụt bát được coi như hình thức riêng của thi ca bình dân Việt nam ? »

Trong Phụ nữ tân văn số 29 ra ngày 21-11-1929, ông Trịnh-đình-Rư có đoạn bình khảo về lối thơ lục bát. Ông viết : « Hầu hết các chuyện nôm cũ cho đến những câu ca dao của ta đều là lối văn lục bát, thiệt là một lối thơ riêng của nước ta, đố ai tìm thấy ở các tập văn thơ Tàu nào mà có lấy một bài trên đặt sáu chữ đúng như điệu ấy. Vậy thì lối thơ Lục Bát ta có thể nhất quyết nói rằng chỉ riêng một nước ta có. Bởi nó là thơ nước ta cho nên đến cả những hạng đàn bà trẻ con, đều không học, dầu chẳng viết văn mà nghe đến cũng lấy làm vui tai, đọc đến cũng lấy làm vui miệng. Lại có nhiều khi họ cũng xúc cảm mà đặt được thành câu. Coi đó đã biết thiệt là một đặc tính riêng của một dân tộc… »

Trong tập Quốc văn cụ thể, ông Bùi-Kỷ cũng có khảo qua về quá trình cấu tạo thể thơ lục bát của nước ta. Ông viết : « Lục bát là lối văn riêng của ta mà Tàu không có… Phát nguyên bởi những ca dao, phương ngôn, ngạn ngữ đời cổ. Kỳ thủy mỗi câu hoặc bốn năm chữ, hoặc sáu bảy tám chín chữ không nhất định, dần dần lựa vào êm tai, đọc ra thuận miệng thành một thứ âm điệu… cứ câu trên sáu tiếng theo luôn câu dưới tám tiếng cho nên gọi là lục bát… »

Cùng với quan niệm trên, cho thể thơ lục bát là đặc tính của thi ca bình dân, ông Trương-Tửu phân tích quá trình tiến triển của thể thơ ấy trong quyển Kinh Thi Việt-nam bằng lối chứng minh. Ông viết :

« Theo chỗ tôi nghiên cứu thì lối thơ lục bát không phải tự nhiên mà dân tộc ta có, cũng không phải một sớm một chiều nó thành hình rõ rệt như ta thấy bây giờ. Nó là cái điểm tiến hóa cuối cùng của âm điệu Việt-nam trong một thời gian nhất định sau rất nhiều trạng thể khác hiện vẫn còn sót lại.

Kể từ khi người Việt-nam mới chỉ là một đoàn người (bộ lạc) bắt đầu định cư để thỏa mãn cái cần thiết trọng yếu của nông nghiệp, sự dò dẫm vần điệu đã được thi hành rất cần cù, minh mẫn. Tổ tiên chúng ta xưa đã phải thí nghiệm hoài hoài rồi mới lần lần mò đến được thể thơ lục bát…

Quả vậy, trong thời kỳ phôi thai của thi ca Việt-nam có rất nhiều bài phong dao vần điệu cực kỳ buông lỏng theo kỹ thuật thơ lục bát. Tuy vậy, trong cái buông lỏng ấy, đã tiềm tàng một xu hướng tiến đến trật tự lục bát rồi. Ta hãy lấy bài thơ dưới đây làm kiểu mẫu :

Lạy trời mưa xuống

Lấy nước tôi uống

Lấy ruộng tôi cày

Lấy đầy bát cơm

Hai câu thứ nhất, vần ở cuối (khác hẳn thể lục bát). Nhưng đến câu thứ ba thì âm điệu đã chuyển ra cái hình thức phôi thai của thể lục bát quá độ. Tôi muốn nói : lối lục bát mà vần ở câu tám không đứng nơi chữ thứ sáu lại đứng nơi chữ thứ tư. Đại khái :

Đời vua Thái-Tổ, Thái-Tông

Con bế con bồng, con dắt con mang.

Hoặc : Đồn rằng quan tướng có danh

Cưỡi ngựa một mình, chẳng phải vịn ai.

Thể lục bát quá độ này chỉ là cái thể « Lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày » khuếch xung ra. Nhưng trước khi khuếch xung được đến cái vần điệu đều đặn và qui củ ấy, thơ Việt-nam đã trải qua nhiều trạng thể khác. Trạng thể thứ nhất là một lối thơ diễn ra thành các đoạn ngắn, từ đoạn nọ đến đoạn kia, âm điệu bị đứt hẳn (như ở các quatrain trong thơ Pháp). Tỷ như :

Tay cầm con dao

Làm sao cho sắc

Để mà dễ cắt

Để mà dễ chặt

Chặt lấy cái cành

Chặt lấy cả cây

Trèo lên rừng xanh

Chạy quanh sườn núi

Một mình lủi thủi

Chặt cây chặt củi

Tìm chốn ta ngồi

Ta ngồi ngồi mát thảnh thơi

Kìa một đoàn chim

Ở đâu bay lại

Con đang cắn trái

Con đang tha mồi

Qua lối nọ nó ăn

Cái con hươu kia

Mày đang ăn lộc

Lộc vỏ lộc sung

Mày trông thấy tớ

Tớ không đuổi mày

Mày qua lối nọ làm chi ?

Trong bài này ta cũng vẫn thấy cái âm điệu « lạy trời mưa xuống », nhưng hơi thơ dài hơn, sóng nhạc triền miên hơn, tứ dồi dào hơn. Ta đã thấy cả một câu sáu chữ (ta ngồi ngồi mát thảnh thơi) thanh âm đúng theo qui củ lục bát lúc tựu thành. Cái thể thơ ấy chuyển biến đi, phức tạp ra hóa thành một trạng thể khác, âm điệu thì đã có xu hướng tiến đến lục bát mà số chữ thì vẫn còn lung bung vô hạn định :

Ba mươi Tết ! Tết lại ba mươi

Vợ thằng Ngô đốt vàng cho chú khách

Một tay cầm cái dù rách

Một tay xách cái chăn bông

Em đứng bờ sông

Em trông sang nước người

« Hỡi chú chiệc ơi là chú chiệc ơi ! »

Một tay em cầm quan tiền

Một tay em xách thằng bù nhìn em ném xuống sông

Quan tiền nặng thì quan tiền chìm

Bù nhìn nhẹ thì bù nhìn nổi

Ớ ai ơi ! của nặng hơn người.

Câu tám và câu chín đã tượng hình được cái âm điệu lục bát rồi. Đến bài dưới đây thì sự tượng hình mới càng rõ rệt nữa :

Bớ thảm ơi ! Bớ thiết ơi !

Bớ bạn nhân tình ơi !

Thân em như trái quả xoài trên cây

Gió đông gió tây

Gió nam gió bắc

Nó đánh lúc la lúc lắc trên cành

Một mai rụng xuống biết vào tay ai.

Kìa khóm trúc, nọ khóm mai

Ông Tơ bà Nguyệt xe hoài chẳng thương

Một lần chờ, hai lần đợi

Sớm lần nhớ, trưa lần thương

Anh thương em nhưng bác mẹ họ hàng chẳng thương.

Trong những vần thơ này, ta đang chứng kiến một nỗ lực tiến đến lục bát mà chưa đạt được. Theo ý tôi, đó là những vần điệu xuất hiện vào lúc dân chúng Việt-nam bắt đầu có ý thức về bản ngã và vận mệnh của mình (khoảng thế kỷ thứ sáu, đời Tiền Lý). Bởi vậy ta thấy ở những thơ ấy có một sạo sực bực bội cả về phần hình lẫn phần ý. Hình thì chưa đạt được cái riêng của mình (lục bát), ý là sự chống lại luân lý phụ quyền của người Tàu đem sang cùng với cuộc đô hộ.

Lần lần, ý thức dân tộc của người Việt-nam kết tinh lại. Đến từ thế kỷ thứ mười trở đi (đời các triều độc lập : Ngô, Đinh, Tiền Lê, Hậu Lý…) thì ý thức kia sáng rực và đầy sức mạnh. Cũng trong khoảng thời gian tươi đẹp này, vần điệu Việt-nam tiến từ sự hỗn độn đến một trật tự nhất định là thể lục bát. Hồi này sự phú cường của chủng tộc đã làm nở ra những phong dao đầy tự hào, tự tin :

Cái cò mày mổ cái tôm,

Cái tôm quặp lại, mày ôm cái cò.

Cái cò mày mổ cái trai,

Cái trai quặp lại, mày nhai cái cò.

Hoặc : Nực cười châu chấu đá xe

Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng.

Và đồng thời cũng xuất hiện những phong dao lục bát có xu hướng chống phụ quyền, chống nam quyền, chống triết học duy lý của Khổng Mạnh, chứng tỏ rằng dân Việt-nam không chịu hàng phục những thứ gông cùm Trung-hoa ấy.

Vậy căn cứ vào sự diễn hóa vần điệu ca dao mà đặt ra cái thứ tự xuất hiện đại cương này :

1) Tất cả những bài phong dao nào chưa phải là lục bát, vần điệu còn rộng rãi, tự do thì đều xuất hiện vào khoảng đầu lịch sử của dân tộc ta.

2) Những bài tuy vần điệu còn hỗn độn mà hình tượng thô thiển cái xu hướng tiến đến thể lục bát thì đều xuất hiện trong thời Bắc-thuộc là thời kỳ kết tinh của ý thức dân tộc.

3) Những bài nào theo thể lục bát thì đều xuất hiện trong thời kỳ độc lập của dân tộc.

Cái thứ tự này cũng như cái thứ tự tượng hình ra nhờ những chứng cớ ngôn ngữ và tâm lý chỉ là một thứ tự đại cương, có tính cách hoàn toàn giả thuyết. »

Tuy phân tích và chứng minh như vậy, nhưng ngay Trương-Tửu, người biên soạn, cũng không dám xác định, mà chỉ cho đó là một ức thuyết.

Để kết luận mục tham khảo và phân tích quá trình cấu tạo thi ca bình dân, chúng tôi xin tóm tắt hai điểm chính yếu sau :

❀ ❀ ❀

[1] Việt-nam sử cương – Đào-duy Anh.

AM « SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » dự án phi lợi nhuận của TVE-4U.ORG ebook©MotSAch —★— vte-4u© Nhà xuất bản : XUÂN THU USA 1975
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.