Đi tìm nguồn gốc thi ca bình dân tức là đi tìm nguồn gốc lịch sử văn học của một dân tộc. Không một dân tộc nào không có một lịch sử văn học bình dân, bời vì văn học bắt đầu phôi thai từ lúc có ngôn ngữ và có sinh hoạt xã hội.
Khác với mọi sinh vật trong vũ trụ, loài người có ngôn ngữ, và dùng ngôn ngữ diễn đạt tâm tư cá nhân truyền cảm qua đại chúng. Sự trao đổi tâm tư là nguyên nhân cấu tạo nền văn học. Vậy văn học không phải cấu tạo trên văn tự mà chính là cấu tạo trên ngôn ngữ.
Ngôn ngữ là phương tiện khai thác tâm tư con người, nhưng tâm tư con người không chỉ khai hóa bằng sự giao cảm của ngôn ngữ mà còn chịu ảnh hưởng mọi mặt trước lẽ sống, trước thiên nhiên.
Nếu chúng ta đã thừa nhận tâm tư con người chịu nhiều ảnh hưởng như vậy thì khi đi tìm nguồn gốc lịch sử văn học, chúng ta không thể không đi tìm nguồn gốc diễn biến của tâm tư qua mọi ảnh hưởng.
Đó là việc khó khăn mà từ trước đến nay các nhà kinh tế học, xã hội học, chính trị học, tâm lý học, ngôn ngữ học… đều tranh luận nhau trên những ức thuyết, nhưng chưa ai có thể đem lại một luồng ánh sáng rõ rệt làm thỏa mãn sự tìm hiểu của con người.
Tuy nhiên, trên con đường khảo sát tâm tư của một dân tộc trong quá khứ, dù chỉ là ánh sáng yếu ớt, những ức thuyết của họ vẫn là tia hy vọng tối thiểu soi rọi vào những biến thái trong tư tưởng giới của một dân tộc đã bị chôn sâu qua nhiều thế hệ.
Hôm nay, luận về nền thi ca bình dân, nguồn văn học kết tinh từ vạn đại, chúng tôi lại phải mời họ ra, viện dẫn lý lẽ của họ để suy cứu. Vì nếu không nhờ đến họ, nhà khảo cứu văn học cũng không còn cách nào khác khi phải tìm nguồn gốc lịch sử văn học của một dân tộc.
1) Theo quan niệm của nhà kinh tế học thì tâm tư con người chính là sản phẩm của kinh tế, do kinh tế chi phối. Lẽ sống ảnh hưởng vào tâm lý và tư tưởng con người.
Đem căn bản triết thuyết trên áp dụng vào việc đi tìm nguồn gốc văn học dân tộc, họ cho rằng dân tộc nào nguồn gốc sinh sống về nông nghiệp thì phát triển mạnh về thi ca ; dân tộc nào nguồn gốc sinh sống về du mục thì phát triển mạnh về vũ nhạc.
Lý luận ấy chứng minh vào thực tế, chúng ta thấy không sai lầm. Thời xưa, những bộ lạc sinh sống về nông nghiệp, chăm lo việc trồng tỉa, đời sống của họ gắn liền với mảnh đất khai phá, trước mắt họ bàng bạc ruộng nương, cánh đồng bát ngát, cỏ nội mây ngàn. Tâm hồn miên man trong khung trời cao rộng, lâng lâng theo những cái chớp cánh của đàn cò, họ vui với cái vui hồn nhiên của cảnh vật. Hoàn cảnh sinh sống ấy chính là cơ hội thuận tiện làm nẩy nở tình cảm con người nên họ phát triển mạnh về thi ca.
Tính chất thi ca là khoan hòa, nhàn nhã. Muốn diễn đạt tình cảm, người nông dân dùng thi ca để nói lên cuộc sống khoan hòa, nhàn nhã ấy ; đồng thời cũng lấyđó làm nguồn hứng khởi để quên đi những gì cực nhọc trong lúc làm lụng.
Mặt khác, người nông dân sinh sống về nông nghiệp cũng có những lo âu sợ hãi như bão lụt, hạn hán, côn trùng làm mùa màng thất bát vv… Những xáo trộn tinh thần ấy không có tính chất khẩn cấp, nhưng cũng đã ghi lại trong tâm hồn họ ý thức thần thoại, tín ngưỡng. Những phong tục cầu đảo, những bài thơ khấn nguyện còn lưu truyền cho chúng ta thấy đích thực phần nào ở các nước như Trung-hoa, Nhật-bản, Việt-nam, Ấn-độ, vv…
Ngược lại, ở các dân tộc du mục, sinh sống về chăn nuôi, đời sống họ không cố định, rày đây mai đó, lấy những đồng cỏ trong rừng núi làm nơi nương tựa, gần với ác thú, luôn luôn bị đe dọa trong những đêm tối hãi hùng, trạng thái tâm hồn thường xuyên bị vây phủ bởi chết chóc, nên họ không có thái độ điềm tĩnh, khoan hòa như người nông dân ở đồng bằng. Tinh thần họ luôn luôn căng thẳng, họ cần những tiếng động, những cảnh náo nhiệt để chống lại những đe dọa như đè nặng trong cảm giác. Giữa đêm trường tịch mịch, màn đen âm u, họ nặng nề chờ đợi sự khủng khiếp xuất hiện nơi núi thẳm rừng sâu, họ cần những đống lửa cháy ngất trời, những tiếng vỗ rập rồn náo động cả không gian để giúp họ có đủ nghị lực chống lại những cảm giác kinh rợn đang tràn ngập từ tâm hồn ra ngoài thể chất. Bởi vậy nền kinh tế du mục chính là mảnh đất tốt để cho mầm móng vũ nhạc phát triển mạnh mẽ. Họ cần ôm nhau nhảy múa để khỏi cô đơn, họ cần những tiếng gõ nhịp, những điệu múa được chan hòa cho hợp với tình cảm của những đoàn người phiêu lưu ấy.
Đem lý thuyết này chứng minh qua lịch sử văn học dân tộc, nhà phê bình Trương-Tửu đã xác định nguồn gốc thi ca Việt-nam phát sinh do ảnh hưởng nông nghiệp.
Trong quyển « Kinh Thi Việt-nam » ở chương IV, mục « Xã hội Việt-nam xây trên kinh tế nông nghiệp », ông có viết : « Từ thượng cổ, xứ ta vẫn là một xứ nông nghiệp. Hồi đó tổ tiên ta đã biết lợi dụng nước sông lên để đem nước vào ruộng, đã biết làm hai mùa… Coi vậy, kỹ thuật nông nghệ của ta, cách đây ba bốn nghìn năm cũng đã khá tinh xảo rồi. Từ đầu Tây kỷ nguyên về sau, nhờ có sắt mua ở Trung-quốc, nghề nông của ta phát đạt thêm. Đời nọ qua đời kia, những kinh nghiệm về phương pháp canh tác, về thiên văn cứ tích trữ lưu truyền mãi… Suốt trong bao nhiêu thế kỷ, nông nghệ vẫn nuôi sống dân ta, và làm cột trụ cho văn hóa ta… »
Nghiên cứu về ngồn gốc nông nghiệp ở Việt-nam, sách An-nam chí của Cao-hùng-Trưng cũng có chép : « Đất Giao-chỉ từ khi chưa có quận huyện, có ruộng Lạc theo nước triều lên xuống mà cày. Cấy ruộng ấy là dân Lạc, thống trị dân ấy là vua Lạc, giúp vua Lạc là tướng Lạc, đều ấn đồng thao xanh gọi là nước Văn-Lang, phong tục thuần phác, truyền mười tám đời. »
Đã lấy nghề cáy cầy làm gốc, dân Việt-nam tất có tư tưởng trọng nông. Cho nên muốn trị nước lâu bền, muốn dân chúng tùng phục, bất cứ một nhà vua nào, một triều đại nào cũng phải chăm chú đến chính sách khuyến nông.
Trong quyển Việt-nam văn hóa sử cương do Quan Hải tùng thư xuất bản năm 1938, ông Đào-duy-Anh có trình khảo những phong tục về tế lễ xưa của các nhà vua và những hội hè của dân chúng. Ông viết :
« Sau các lễ tế Nam-giao, Tôn-miếu, còn có lễ tế Xã-tắc. Cứ đến đầu Xuân thì vua phải lên đàn Xã-tắc dâng lễ vật cho Thổ-thần và Cốc-thần…
Tế xong, vị quan khâm mạng phải đích thân cày một luống ở tịch điền để biểu hiệu cho việc mở màng nông vụ. Ở các tỉnh, quan Bố-chính cũng phải cử hành lễ tịch điền theo nghi tiết ấy…
Đối với dân chúng thì mỗi nhà nông, cứ đến ngày ấy phải làm một con trâu bằng rơm đem sân làng để dự hội. Người ta buộc con trâu giả vào một cái cày có lưỡi bằng gỗ rồi một người đàn ông kéo trâu, một người đàn ông khác cầm cày, đồng thời một người con gái dưới 17 tuổi bưng thúng trấu để giả vãi giống. Đàn ông thì cải trang làm đàn bà, còn đàn bà cải trang làm đàn ông (biểu hiện sự hợp tác giữa gái trai trong sinh hoạt). »
Những phong tục trên đây minh chứng rằng dân tộc Việt-nam trưởng thành trên nghề nông, và nền văn hóa dân tộc cũng bắt nguồn từ yếu tố ấy.
Phong dao, tục ngữ Việt-nam là những mẩu tâm tư của nông dân, phản ảnh nếp sống của họ, dĩ nhiên không thể tách rời khuôn khổ nông nghiệp, do đó, chúng ta không lạ gì khi thấy hầu hết đều mang tính chất đồng nội, cỏ hoa. Tình cảm họ từ ngoại thức đi vào nội thức, từ cảnh vật đi vào suy tư, từ thực nghiệm đi vào hiểu biết.
Một cánh chim trong nắng chiều, một cành cây trước gió, một áng mây cuối trời, đến một củ khoai, một tô canh rau, một dĩa nước mắm… những hình bóng sinh hoạt hằng ngày luôn luôn hiện ra trước mắt và nguồn cảm xúc của họ lúc nào cũng bắt nguồn từ những hình bóng ấy ; cho nên tâm tư của họ không bao giờ xa rời thực tại.
Ví dụ muốn nói đến tình yêu, họ bắt đầu từ hình bóng một con chim :