Thi Ca Bình Dân Việt-nam

Lượt đọc: 34 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
3. Quan Niệm Đạo Lý
3. Quan Niệm Đạo Lý

❊ ❊ ❊

Nếu ở hai mục sinh lý và tâm lý chúng ta đã nhận thấy ý thức người bình dân chống đối với năng lực nội tại, tức là dục vọng phát sinh do bản năng con người làm mất thăng bằng trong lẽ sống thì ở mục này chúng ta lại thấy họ đem tâm tư chống lại mọi chênh lệch trong guồng máy xã hội.

Tổ chức xã hội loài người bao giờ cũng dựa trên một nguyên tắc, và dùng một tư tưởng xã hội làm mẫu mực cho mọi người noi theo để bảo vệ chế độ xã hội. Mẫu mực ấy chúng ta gọi là đạo lý.

Vậy đạo lý là lẽ sống chung của một tổ chức xã hội phù hợp với một chế độ.

Nước Việt-nam chúng ta thời xưa trải mấy ngàn năm dưới chế độ phong kiến, chịu ảnh hưởng cả Nho giáo, Phật giáo và Lão giáo. Ba nền giáo lý ấy đều dựa trên đạo học, nghĩa là dùng tư tưởng làm kim chỉ nam cho hành động.

Người bình dân không chống lại nguyên tắc đạo học, họ rất tin tưởng ở Trời Phật, và kính trọng vua chúa, kẻ cai trị họ, song lòng tin tưởng và kính trọng của họ không có nghĩa là thiên lệch. Họ không tôn thờ một cách mù quáng, mà chỉ căn cứ vào lẽ phải. Lẽ phải của họ là công bằng, chân thật, không cực đoan.

Vì vậy, tuy họ bị các từng lớp người khác cho họ là những ngu dân, song thực ra trong cái ngu của họ hàm chứa một ý niệm về lẽ sống mà các lớp người khác không có được. Do đó, đối với họ, chúng ta thấy cái kính trọng lại phảng phất cái bất kính, trong cái tin tưởng lại biểu lộ cái mất tin tưởng. Thái độ thiếu dứt khoát ấy là do cuộc sống loài người đã đưa đến cho họ. Nguyên tắc của tổ chức xã hội loài người buộc họ phải đi vào cực đoan. Khi kính trọng vua chúa thì bắt họ phải nhắm mắt chịu sự điều khiển tuyệt đối (quân sử thẩn tử), khi tin tưởng thì bắt họ phải cúi đầu tùng phục vào một ý hướng nào đó, trong lúc tâm hồn họ mang một quan niệm chất phác, thực tế và thích cuộc sống thăng bằng, không cực đoan. Đã vậy, cuộc sống loài người lại đội lốt nghĩa nhân để gạt gẫm họ, làm sao họ không bất mãn được. Chính cái yếu tố trên đã hun đúc người bình dân có một thái độ xấc xược, ngạo nghễ, chống lại những gì họ vừa kính trọng vừa tin tưởng.

Đây, chúng ta thử tìm trong ý thức hài hước, châm biếm của họ những trạng thái ấy.

Sống thời con chẳng cho ăn,

Chết thời xôi thịt làm văn tế ruồi.

Sống thì chẳng cho ăn nào,

Chết thì cúng, giỗ mâm cao, cỗ đầy.

Đạo đức không phải phô trương bề ngoài mà có, nó phải phát hiện trong ý thức chân thật của con người ! Người bình dân thời xưa là kẻ thấy bề trái xã hội nhiều nhất, vì họ cũng là kẻ bị đời lừa phỉnh nhiều nhất. Sự lừa phỉnh ấy đã đem đến cho họ lòng nghi ngờ đạo lý. Họ bảo :

Khác nào quạ mượn lông công,

Hình ngoài xinh đẹp, trong lòng xấu xa.

Đạo lý bao giờ cũng tốt, nhưng những kẻ khoác màu đạo lý để lừa dối lại rất nhiều. Thái độ châm biếm của người bình dân là thái độ đả kích hành động vay mượn ấy, mà chúng ta thấy bàng bạc trong ca dao tục ngữ Việt-nam.

Mặt khác, chúng ta cũng lại thấy tính chất đặc biệt của người bình dân là mặc dù tôn trọng đạo lý, mặc dù sung kính Trời, Phật, Thánh, Thần, song trong sự sùng kính ấy đối với họ hàm chứa một tinh thần « bình dị » không sợ sệt.

Tinh thần ấy biểu lộ qua những câu ca dao hài hước như :

Ngồi buồn đốt một đống rơm.

Khói lên nghi ngút chẳng thơm tí nào.

Khói lên thấu đến Thiên-tào.

Ngọc Hoàng phán hỏi : Đứa nào đốt rơm ?

Địa vị Ngọc-Hoàng đối với họ là trọng đại, song lại như có cái gì thân mật, cởi mở và rất đơn giản như tâm hồn họ trước cuộc sống bình dân. Cho nên, có lúc họ châm biếm :

Hiu hiu gió thổi đầu non.

Mấy người uống rượu là con Ngọc Hoàng,

Ngọc Hoàng ngồi tựa ngai vàng.

Thấy con uống rượu hai hang lệ rơi,

Tưởng đâu con uống con chơi,

Ai dè con uống con rơi xuống sình.

Quan niệm đối với Trời thì như vậy, còn đối với với Phật thì ý thức cũng chẳng khác gì. Họ kính trọng nhưng không sợ sệt. Cho nên, chúng ta vẫn thường thấy trong ca dao bình dân rất nhiều câu hài hước như :

Nghiêng tai hỏi nhỏ ông Phật đồng,

Trai tơ lấy gái có chồng được chăng ?

Hoặc :Lên chùa thấy tiểu mười ba

Thấy sư mười bốn, sãi già mười lăm.

Ước gì một tháng đôi rằm.

Trước là lễ Phật, sau thăm vãi già.

Tại sao tính chất người bình dân lại bình dị trước những bậc mà họ tôn thờ ? Điều đó chắc chắn không ngoài nhân sinh quan của họ. Chúng ta đã thấy người bình dân quan niệm lẽ sống phải bình đẳng. Họ rất khát khao được bình đẳng, ý thức ấy đã khiến họ có cảm giác rằng những người được họ tôn thờ vẫn có ý thức bình đẳng như họ, không vì địa vị tôn nghiêm mà khắt khe, đe dọa.

Mặt khác, người bình dân vốn sống bằng tinh thần tự lực, tự cường, không có thói quen cầu cạnh bề trên, đem lại quyền lợi cho họ. Tinh thần ấy đã làm cho họ trở nên bình dị, vô tư, ý nghĩ họ không bị ràng buộc vì lẽ sống.

Tuy nhiên, tinh thần đó chỉ còn là tính chất căn bản. Đến nay, ý thức đó đã biến dần do cuộc sống tranh đấu của loài người mỗi lúc một ác liệt, đưa đến những tai bay vạ gởi bất ngờ, khiến họ không biết dựa vào đâu, lần lần đi vào mê tín.

Trở lại với quan niệm nhân sinh của người bình dân thời xưa chúng ta thấy tinh thần bình dị của họ đã vượt lên ý sống, thì tất nhiên đạo lý cũng không thể ràng buộc vào một khuôn khổ cưỡng ép được.

Ví như xã hội phong kiến thời xưa, cấu tạo trên nền giáo lý Khổng Mạnh, trong đó những gì giả dối bất công đều bị họ lôi ra đả phá một cách tàn nhẫn. Thái độ châm biếm của họ chẳng những đầy dẫy trong ca dao tục ngữ, mà còn nổi bật lên trong những mẩu chuyện tiếu lâm lưu lại từ ngàn đời, mà đến nay chúng ta đọc lên cũng không thể nhịn cười được.

Sau đây, chúng tôi xin trích thuật một vài chuyện điển hình :

Chuyện gà gáy

« Xưa, có một anh chàng vợ đẻ, nhà đơn chiếc, được cô em vợ đến giúp. Nửa đêm anh ta muốn mò cô em vợ, lén bò gần đến bên giường. Cô em vợ hay được, nhưng sợ người chị biết thì xấu hổ, giả vờ hát ru cháu để cảnh cáo anh ta :

Nửa đêm gà gái o, o…

Của dì, dì giữ, ai bò mặc ai.

Anh chàng biết cô em vợ không bằng lòng, xấu hổ vội hát chữa thẹn :

Nửa đêm gà gái o, o…

Tao ngủ không được, tao bò tao chơi. »

Đem cái xấu xa của người đàn ông ra châm biếm, chính người bình dân thời xưa đã chống lại giáo lý nam quyền của chế độ phong kiến. Họ muốn nói lên sự bất công ấy. Trong ca dao, chúng ta lại cũng nghe họ hát :

Cái cò là cái cò quăm,

Mầy hay đánh vợ mầy nằm với ai ?

Có đánh thì đánh sớm mai,

Chớ đánh chập tối chẳng ai cho nằm.

Đôi lúc họ còn hạ nhục nữa :

Đàn ông rửa bát quét nhà,

Vợ kêu thì dạ, thưa bà có đây.

*

Chuyện thầy phù thủy sợ ma

« Xưa có một anh chàng làm nghề phù thủy, người ta thường rước đi cúng trừ ma, ếm tà. Cứ mỗi lần cúng xong, thầy được chủ nhà tạ lễ xôi bánh. Nhưng thầy có tính tham ăn đem về giấu một chỗ kín, chờ lúc vợ vắng nhà, lấy ra ăn một mình.

Chị vợ biết được. Một hôm tối trời, thầy đi cúng về, chị gắp một hòn than lửa đỏ, chận đường thầy nhát ma. Thầy tưởng ma thật, bắt ấn hét lên : « Yểm thiên lý thu lai, vạn lý thu lai. »

Nhưng thấy ma không chạy, lại cứ lập lòe mãi, thầy sợ quá bỏ cả xôi bánh, cắm đầu chạy về nhà. Chị vợ lượm xôi bánh của thầy đem về cất.

Sáng hôm sau, chị vợ dọn xôi bánh lên, mời thầy ăn. Thầy trông thấy, lấy làm lạ, lầm bầm :« Xôi sao giống xôi… bánh sao giống bánh… »

Chị vợ bật cười : « Xôi không giống xôi, bánh không giống banh thì giống cái gì ? Hay giống con ma trơi tối hôm qua ? »

Thầy biết mắc mưu vợ, xấu hổ ngồi cắm đầu xuống, không dám ngẩng lên.

Bởi thế, người ta có câu giễu thầy :

Thầy về nửa đường,

Thầy gặp đom đóm,

Thầy tưởng ma trơi,

Thầy chạy hụt hơi,

Đổ xôi đổ bánh.

Về nhà réo vợ,

Ma bắt thầy đi,

Kim nhật kim trì,

Kim đương thỉnh giải. »

Đã làm thầy phù thủy trừ ma bắt quái, chữa bệnh cho người ta mà lại sợ ma đến khiếp vía như vậy thì còn gì đáng buồn cười hơn. Đưa câu chuyện này ra châm biếm, người bình dân muốn chửi vào cuộc đời giả dối, phỉnh phờ, mượn cái uy danh của thần thánh, dùng hình thức ngụy tạo bên ngoài lừa gạt thiên hạ. Trong ca dao, chúng ta cũng thấy họ châm biếm các ông thầy bói như :

Tử vi xem số cho người,

Số thầy, thầy để cho ruồi nó bâu.

*

Chuyện thơ con cóc

« Có ba anh học trò, học hành chẳng bao nhiêu, nhưng lại tự phụ là thơ hay nhất đời. Họ thường than thở với nhau vì sợ chết non, bởi họ nghe nói « tài mạng tương đố », kẻ có tài thường chết sớm.

Bữa nọ, cả ba họp mặt nhau, cùng lấy rượu ra uống. Trong lúc thích thú thì có một con cóc từ trong hang nhảy ra.

Anh thứ nhất mở đầu : « Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra ».

Anh thứ nhì tiếp : « Con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đấy ».

Anh thứ ba tiếp luôn : « Con cóc ngồi đấy, con cóc nhảy đi ».

Làm xong bài thơ con cóc, cả ba đều lăn ra khóc, sợ thơ minh hay quá trời ghen ghét, sẽ bắt họ chết non.

Rồi họ sai tên tiểu đồng đi mua ba cái áo quan, đề phòng lúc chết có sẵn mà chôn. Tên tiểu đồng chạy đi, vì gấp rút nên mệt quá, ghé vào một quán nước. Chủ quán thấy vậy hỏi nguyên do. Tiểu đồng thuật lại câu chuyện và đọc bài thơ con cóc cho chủ quán nghe.

Chủ quán nghe xong cười nôn ruột, vội móc túi lấy tiền đưa cho tên tiểu đồng, bảo : « Nhân tiện mày mua cho tao một cái hòm luôn ».

Tiểu đồng ngơ ngác, hỏi tại sao ? Chủ quán đáp : « Tao nghe thơ của mấy ông thầy mày, tao tức cười quá. Không sớm thì muộn chắc tao bị bể bụng ra mà chết »

*

Đem những cái dốt nát, ngớ ngẩn của mấy anh đồ nho ra làm trò cười, người bình dân thời xưa đã nhắm vào giai cấp quan lại để hạ nhục. Họ chống đối giai cấp quan lại vì giai cấp này phần nhiều là những kẻ gian manh, dốt nát, dựa vào thế lực nào đó để đạt lấy địa vị cai trị.

Châm biếm học trò không phải họ ghét học trò, chỉ vì học trò là tượng trưng cho khoa bảng, cho địa vị xã hội. Vì ghét những kẻ cậy địa vị xã hội làm điều xằng bậy, nên họ lôi bọn học trò ra chửi xéo.

Trong ca dao, chúng ta cũng thấy những lời đay nghiến, mỉa mai của họ đối với học trò như :

Học trò cao cẳng dài giò,

Chân đi ngoài ngõ miệng thò trong treo.

Học trò, học trỏ, học tro,

Chửa lo ba chữ đã lo vét nồi.

Học trò ăn vụng càng cua,

Bà thầy bắt được : « Tui mua tui đền. »

Bao nhiêu thói hư tật xấu họ đổ vào đầu học trò, chỉ vì họ muốn châm biếm chế độ khoa cử là chỗ xuất thân của giai cấp thống trị, lớp người đã đàn áp họ. Cho nên, nếu họ có những câu ca dao hài hước như :

Nhơn chi sơ : tay rờ cơm nguội,

Tánh bổn thiện : cái miệng đòi ăn.

Tóm lại, tinh thần hài hước, châm biếm là đặc tính của lớp người bình dân từ xưa tới nay. Tinh thần ấy là thái độ bất mãn của tâm tư họ trước cuộc sống, mà cũng là thái độ bày tỏ quan niệm nhân sinh của họ.

Theo sự khảo sát vừa rồi, chúng ta có thể xác định quan niệm nhân sinh của họ dựa vào ý thức thăng bằng, chống mọi cực đoan, và tìm sự tự do, bình đẳng trong ý thức thăng bằng ấy.

AM « SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » dự án phi lợi nhuận của TVE-4U.ORG ebook©MotSAch —★— vte-4u© Nhà xuất bản : XUÂN THU USA 1975
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.