Thi Ca Bình Dân Việt-nam

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 68 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chim Chuyền Bụi Ớt Líu Lo, Lòng Thương Em Bậu Ốm O Gầy Mòn. - Ngó Lên Bụi Chuối Ta Tàu, Chồng Nam Vợ Bắc Làm Giàu Ai Ăn ?

❊ ❊ ❊

Với chứng minh thực tiễn ấy, nhà kinh tế học kết luận kết luận nguồn gốc thi ca bình dân Việt-nam xuất phát từ sinh hoạt kinh tế nông nghiệp. Đi xa hơn nữa, nhà kinh tế học còn biện luận rằng khi hai đoàn người (bộ lạc, dân tộc…) dù khác giống và khác xứ, mà cùng sống theo một trình độ sinh hoạt về kinh tế thì tất nhiên phải cùng có những tục lệ, những luân lý tương tự nhau, có khi lại có thể giống nhau như hai giọt nước.

Lý luận như vậy, nhà kinh tế học đã đi đến chỗ hoàn toàn phủ nhận con người, sự cá biệt giữa con người và con người, giữa dân tộc này và dân tộc khác. Do đó, nhiều ức thuyết của các học giả trong hệ phái khác chống đối lại.

2) Theo quan niệm của nhà ngôn ngữ học thì nguồn gốc văn minh của một dân tộc xuất phát từ ngôn ngữ. Sở dĩ tâm tư của con người được khai hóa, tác thành văn minh xã hội là do nguồn giao cảm giữa con người và con người, giữa thế hệ này với thế hệ khác. Ngôn ngữ đem lại cho con người sự khôn ngoan hiểu biết từ bộ óc người này chuyển qua người khác và làm cho nguồn suy tư hẹp hòi của cá nhân biến thành nguồn suy tư rộng rãi do tập thể đúc kết. Như vậy, tác động của lịch sử văn học là do ngôn ngữ chứ không phải do yếu tố nào khác.

Nhà ngôn ngữ học thừa nhận ảnh hưởng kinh tế, chính trị có liên hệ đến tư tưởng con người, song nếu tư tưởng con người không được bộc lộ ra ngoài, không làm cho kẻ khác thông cảm thì cũng chẳng bao giờ tổ chức thành một xã hội có qui củ mà loài người cũng sẽ sống với một xã hội như nhiều loài vật khác, không có được nền văn minh, văn học gì cả.

Ai dám bảo loài thú vật không có tâm tư ? Một con chim lìa tổ buổi sáng, đậu trên cành hát líu lo, buổi chiều tha mồi về nuôi con, và nếu chim con bị bắt, chim mẹ tha thiết buồn rầu ! Kìa, con chó khi mất chủ, thương mến đến bỏ ăn, điều đó không phải là chuyện giả tưởng ! Nếu loài vật có ngôn ngữ diễn đạt và trao đổi tâm tư với đồng loại thì xã hội loài vật sẽ thế nào ? Chắc chắn chúng sẽ có một nền văn minh và văn học như loài người.

Với triết thuyết trên, nhà ngôn ngữ học kết luận nguồn gốc cấu tạo lịch sử văn học là ngôn ngữ. Ngôn ngữ càng phát triển thì dân tộc càng văn minh. Lịch sử ngôn ngữ trên thế giới đã chứng minh rằng dân tộc nào ngôn ngữ dồi dào thì nền văn hóa mở mang, sớm đạt đến trình độ văn minh hơn.

Tuy nhiên đó chẳng qua là một lý luận, các nhà nghiên cứu văn học cũng không chú ý đến triết thuyết này lắm, bởi vì tạo hóa đã sinh ra loài người ai cũng biết nói, mỗi dân tộc có một ngôn ngữ là chuyện tất nhiên. Khi mỗi dân tộc một ngôn ngữ rồi thì điều kiện phát triển xã hội sẽ ảnh hưởng vào tâm tư con người không còn lệ thuộc vào ngôn ngữ bao nhiêu. Ngôn ngữ trở thành phương tiện, mà sự tranh chấp của con người trước lẽ sống là nguồn gốc quyết định cho nền văn minh dân tộc.

3) Nhà chính trị học lấy yếu tố mâu thuẫn giữa con người và con người trong tổ chức chính trị minh định nguồn gốc văn học dân tộc cũng là nguồn gốc cấu tạo lịch sử chính trị của một dân tộc.

Lịch sử chính trị và lịch sử văn học là hai dòng đi song song và ảnh hưởng lẫn nhau. Tổ chức chính trị quyết định mọi sinh hoạt xã hội, đồng thời cũng tạo ra mọi suy tư của con người qua từng chế độ.

Biến cố chính trị tạo ra biến cố văn học. Lịch sử chính trị và lịch sử văn học thế giới đã chứng minh điều đó, và nhà chính trị học quả quyết rằng tâm tư con người chỉ là sản phẩm của mọi chế độ chính trị.

Chế độ chính trị là guồng máy ràng buộc con người vào một hệ thống sinh hoạt, luôn luôn làm thỏa mãn một lớp người, đồng thời cũng gây bất mãn cho một lớp người, tạo thành những mâu thuẫn, ấy là nguồn gốc phát sinh mọi suy tư đối với lẽ sống.

Nếu không có mâu thuẫn, con người chẳng có suy tư. Từ chỗ mâu thuẫn nẩy ra suy tư, và suy tư đúc kết thành hệ thống tư tưởng, thì đó chính là nguồn gốc của nền văn hóa dân tộc.

Dưới mắt nhà chính trị học, khi con người đã tổ chức thành đoàn thể, sống chung nhau, dù với chế độ nào, vẫn nẩy sinh giai cấp. Không một chế độ nào thoát ra ngoài hệ thống điều khiển, thì cũng không thể có một xã hội bình đẳng nào tiêu diệt mâu thuẫn được.

Với lý thuyết này đem áp dụng vào việc khảo sát nguồn gốc thi ca bình dân Việt-nam, nhà chính trị học cho rằng nguồn gốc thi ca bình dân Việt-nam phát xuất từ tư tưởng chống đối mọi áp chế của guồng máy chính trị đã diễn biến liên tục qua mọi chế độ trên đất nước Việt-nam.

Theo quan điểm của nhà chính trị, người khảo cứu văn học muốn xác định cần phải đem lịch sử chính trị chứng minh vào lịch sử văn học.

Dân tộc Việt-nam vào thời thượng cổ, con người sống dưới chế độ bộ lạc phải đem sức mình làm những công việc đồng áng cực nhọc để cung ứng cho lớp người cai trị, vì vậy tiếng nói của họ là tiếng than thở đối với việc làm cực nhọc ấy. Tuy nhiên, với chế độ bộ lạc, guồng máy cai trị còn khoan hòa, yếu tố mâu thuẫn giữa lớp người thống trị và bị trị chưa khắc nghiệt lắm. Lần lần dân tộc nẩy nở mỗi lúc một đông, guồng máy cai trị của chế độ bộ lạc tỏ ra bất lực, nhường chỗ cho guồng máy cai trị của chế độ phong kiến. Sự phân chia giai cấp trong xã hội trở thành phức tạp, và yếu tố mâu thuẫn trở thành quan trọng. Người bình dân, lớp người thấp nhất trong xã hội, một số cố ngoi lên tranh đoạt địa vị xã hội, thoát ra khỏi xiềng xích đè nặng trên giai cấp mình, một số bất lực đành thủ phận, một mặt thốt ra những tiếng thở than, một mặt phản ứng bằng những tư tưởng chống đối.

Tuy nhiên, người bình dân vẫn là người bình dân. Tiếng thở than của họ, luồng tư tưởng của họ không đủ sức lay chuyển một chế độ chính trị. Trong lúc đó, sự phát triển của các dân tộc nước ngoài luôn luôn bành trướng, từ chỗ mâu thuẫn giữa quyền lợi dân tộc tiến tới chỗ mâu thuẫn giữa quyền lợi quốc gia. Chính sách đô hộ bắt đầu phát hiện.

Nước Việt-nam bị mấy nghìn năm đô hộ dưới ách người Tàu, và ngót trăm năm dưới ách người Pháp, chính là do hệ thống phát triển của lịch sử chính trị.

Khi chế độ chính trị thay đổi thì tâm tư người dân cũng thay đổi theo. Từ chỗ chống đối giai cấp thống trị trong nước tiến đến chỗ chống đối ách đô hộ và nền văn hóa nước ngoài du nhập vào, không phù hợp với dân tộc tính.

Xem đó, chúng ta không thể tách rời diễn biến chính trị và diễn biến văn học. Đồng thời nguồn gốc lịch sử văn học cũng là nguồn gốc lịch sử chính trị.

Trên đây là triết thuyết của chính trị gia xét về nguồn gốc văn học dân tộc. Tuy nhiên, đối với các hệ phái khác vẫn không cho là đúng hẳn, vì nó thiếu hình bóng đích thực của con người mà chỉ thấy tác động của tâm tư con người đối với xã hội.

4) Nhà tâm lý học khi phân tách nguồn gốc thi ca bình dân cho rằng tâm tư con người ngoài ảnh hưởng xã hội còn có cái gì nguồn gốc của con người do thiên nhiên cấu tạo, mà dù với thời gian nào, với hoàn cảnh nào vẫn không thay đổi.

Trước kia người Việt-nam da vàng mũi tẹt, thì ngày nay, trải bao nhiêu thế kỷ, người Việt-nam vẫn da vàng mũi tẹt, có khác chăng là khác ở cái sửa sang bên ngoài, nhưng thực chất vẫn là người Việt-nam. Cái thực chất ấy di lưu mãi, thì tâm tư con người lại không có một phần nào cố định ư ?

Cảnh núi sông hùng vĩ hun đúc con người có chí khí ngang tàng, cảnh núi rừng thâm u kết tụ ở con người nhiều tâm trạng bí hiểm, cảnh đồng nội bao la tạo cho người nhàn nhã, phóng khoáng. Cõi thiên nhiên đối với con người tất có một ảnh hưởng mạnh mẽ trong lãnh vực tâm tư.

Tại sao các nhà nghệ sĩ lại ưa ngắm cảnh thiên nhiên, ưa nghiêng mình bên khóm hoa, say mơ bên dòng suối, nhìn một áng mây chiều, một cánh chim lạc đàn trước hoàng hôn… mà tự trời Âu, cõi Á, trong thế hệ nào, tính chất họ vẫn giống nhau ?

Thực thể con người như vậy, chúng ta không nên phủ nhận trong con người chúng ta, trong dân tộc chúng ta có cái gì đứng ra ngoài ảnh hưởng kinh tế, chính trị, xã hội… Cái đó là do sự hun đúc của thiên nhiên, do hoàn cảnh địa lý, do tính chất cá biệt của dân tộc.

Xét về nguồn gốc thi ca Việt-nam, nhà tâm lý học cho rằng hoàn cảnh địa lý Việt-nam là một miền đất thuận lợi cho việc phát triển thi ca. Cảnh trời ở đây, với những thứ ánh sáng êm dịu, với những vừng trăng chập chờn, lả lướt, óng ả như nhung tơ tràn ngập vẻ mơ màng. Với những chiều thu man mác, với những dòng nước trong veo chảy lững lờ, với những đêm thanh ngàn sao nhấp nhánh, với những cỏ cây um tùm đủ màu sắc, hương vị… ngần ấy thứ thi nhau gieo ấn tượng vào tâm hồn người dân, đúc thành một nền thi ca dân tộc. Mặt khác, lại cũng có những mùa nắng chang chang làm khô cháy mùa màng, những mùa mưa liên miên phủ kín cả cánh đồng mạ non, và rừng núi bao trùm vẻ huyền bí âm u… thì đây là nguyên nhân phát sinh những chuyện hoang đường, những câu thơ cầu nguyện, những phong tục tín ngưỡng lẫn lộn vào nguồn gốc thi ca đầy tâm lý trữ tình của dân tộc Việt nam.

AM « SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » dự án phi lợi nhuận của TVE-4U.ORG ebook©MotSAch —★— vte-4u© Nhà xuất bản : XUÂN THU USA 1975
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Nguyễn Tấn Long, Phan Canh

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.