Cũng như dòng văn học bác học, dòng văn học bình dân chia ra làm nhiều bộ môn, mỗi bộ môn có một tính chất khác nhau.
Đặt ranh giới, hướng về bộ môn thi ca, trong tập sách này chúng tôi chỉ khảo cứu riêng về những loại văn vần.
Văn vần trong thi ca bình dân Việt-nam gồm một phần tục ngữ, và tất cả những câu ca dao, những điệu hát, điệu hò và những bài vè. Mỗi loại có một tính chất riêng.
1) Tục ngữ là những câu tự lâu đời, nhiều người thường nói thành thói quen. Những câu tục ngữ có tính chất địa phương thì gọi là « phương ngôn ».
2) Ca dao là câu hát phổ thông trong dân gian (ca là những bài hát thành khúc, dao là những câu hát ngắn độ một vài câu). Ca dao được gọi là phong dao khi những câu hát ấy lưu hành trong dân chúng, diễn tả lề lối, phong tục, tính tình của đại chúng bình dân.
3) Điệu hát được chia ra làm nhiều thể điệu hoặc ru con bên nôi, hoặc để giúp vui lúc đình đám.
4) Điệu hò là lối hát tập thể, gồm nhiều người tham gia để giải trí trong lúc làm lụng mệt nhọc.
5) Vè là một bài văn vần dùng châm biếm một người hay một việc gì.
Tuy nhiên, với đường hướng sưu khảo trong tập sách này, chúng tôi không đi vào phần kỹ thuật sáng tác. Chúng tôi muốn cùng các bạn bước vào lãnh vực tâm tư của đại chúng bình dân, đúc kết những chuỗi tâm tư của ngàn xưa thành một hệ thống tư tưởng.
Với mục đích ấy, trước khi vào phần sưu khảo, chúng tôi thấy cần xác định các khó khăn sau đây.
Thường thường những tài liệu văn học muốn được nghiên cứu tường tận phải tìm hiểu xuất xứ, tức nguồn gốc của nó. Mỗi câu ca, mỗi bài hát không phải tự nhiên mà có, nó thoát thai do ảnh hưởng của thời đại. Mà trạng thái xã hội không phải là trạng thái bất biến. Nó luôn luôn thay đổi. Tuy cùng một chế độ chính trị mà mỗi thời một khác. Nhưng tài liệu sử học với tính chất phản ảnh tâm tư của người dân trong xã hội ấy không thể đứng yên, biệt lập với mọi biến chuyển của thời gian được.
Cho nên, nếu bảo tâm tư con người là những chứng tích của thời gian, thì thi ca bình dân chính là những chứng tích của dân tộc hơn bốn ngàn năm lịch sử ghi lại bằng lối truyền khẩu, và chúng ta không thể căn cứ vào đâu để tìm ra nguồn gốc của mỗi câu tục ngữ, phong dao ấy được.
Đã không tìm được thời-gian-tính thì những chứng tích của thời gian sẽ mất hẳn giá trị sử liệu. Nói cách khác, sản phẩm của tâm tư bao giờ cũng do hoàn cảnh thời gian tạo nên, nếu chúng ta không tìm được hoàn cảnh thời gian thì cũng không thể nào hiểu nổi trạng thái của tâm tư trong lúc ấy.
Đó chính là điều khó khăn cho những người muốn sưu khảo nền văn học bình dân Việt-nam ngày nay.
Ông Nguyễn-văn-Ngọc lúc sưu tập bộ Tục ngữ Phong dao đã phải phàn nàn :
« Những sách của các nhà biên soạn trước kia làm không theo trật tự nào, hoặc đổi nhau từng hai câu một, hoặc chia từng mục : Trời đất, năm tháng, Tiền của văn học, từng thiên : Sơn-tây, Lạng-sơn, Tuyên-quang, Thừa-thiên ; từng chương : Tống-sơn, Nga-sơn, Hoằng-mỹ, Hậu-hộc, hoặc xếp theo từng thời đại các Triều Vua, tự Kinh-dương-vương đến bản Triều. Những câu chép trong sách thường không có chú thích, phê bình. Tựu trung, một đôi quyển cũng gọi có cắt nghĩa qua từng câu hoặc kê cứu lai lịch của cả các câu mà ghép cho câu nào cũng như có can thiệp đến Lịch-sử nước nhà.
Kể như thế thì những sách Tục ngữ, Phong-dao thực không phải là hiếm. Nhưng đáng tiếc rằng hiện có nhiều quyển chỉ mới là sách viết bỏ quên trong một thư viện nhà nào, chớ chưa từng đem công bố, ấn hành cho thiên hạ dùng bao giờ. Còn một hai quyển đã xuất bản, cứ như chúng tôi xem, thì góp nhặt chưa có phần dồi dào chắc chắn, mà xếp đặt cũng chưa lấy gì làm tinh tế, hoàn hảo… »
Tuy nhiên, lời nói ông Nguyễn-văn-Ngọc chỉ là lời phàn nàn khi gặp khó khăn trong việc khảo cứu. Đến như ông Trương-Tửu lại khác. Ông lớn tiếng phủ nhận lời ghi chú của tiền nhân.
Ông viết : « Theo ý tôi, kê cứu lai lịch tục ngữ, phong dao mà ghép cho câu nào cũng như có can thiệp đến lịch sử nước nhà là một việc liều lĩnh. Thản hoặc cũng có ít nhiều câu dính líu đến một vài chuyện lịch sử thiết thực nhưng xét kỹ, phần nhiều những câu đã sưu tập được thường chỉ có liên lạc với những trạng thái sinh hoạt hoặc phong tục lễ giáo của dân gian. Điều ta nên chú ý hơn hết là cách tả thuật những trạng thái sinh hoạt ấy, và cách phô diễn ý kiến của dân chúng về những phong tục, lễ giáo đó. Còn việc tìm biết những câu nào nói vào tình trạng của thế kỷ nào là một điều rất khó. Về vấn đề này ta chỉ có quyền ức thuyết mà thôi. »
Một mặt phủ nhận lời ghi chú, một mặt ông Trương-Tửu lại đổ tội cho tiền nhân thiếu tinh thần trách nhiệm đối với văn học nước nhà.
Ông viết : « Phong dao, tục ngữ nước ta có từ đời thượng cổ mà mãi đến gần đây mới có một ít nhà khảo cứu sưu tập chép ra thì tất nhiên không thể nào biết rõ được câu nào ở về thế kỷ nào. Cái khuyết điểm này nên qui tội vào bọn nhà nho. Vì họ coi nôm na và mách qué, chỉ thờ phụng Kinh Thi của Trung-quốc, không biết noi gương Chu-công, Khổng-tử lấy văn tự mà ghi chép những phong dao, tục ngữ của mình. Hay bởi tại phần nhiều thi ca của dân chúng phản đối tư tưởng họ, nên họ vì tự ái, tự tôn mà không chép lại ? »
Chúng tôi thấy trách cứ tiền nhân như vậy cũng không đúng. Vào thời đại của các cụ, muốn san định một tập sách không phải dễ, mà phương tiện ấn loát cũng không có. Vả lại, theo chúng tôi nghĩ, mọi việc chẳng có gì tuyệt đối. Ngay khi bộ Kinh Thi Trung-hoa, lúc Khổng-Tử san định thì mỗi bài thơ, mỗi câu phong dao đều đã được Chu-công sưu tập, chú dẫn đủ cả thời gian và sự tình rồi, việc đi tìm nguồn gốc không còn ai thắc mắc nữa. Nhưng thực tế vẫn chưa thể hoàn toàn, bởi vì những câu chú dẫn tồn trữ trong văn khố đời nhà Chu xét lại cũng có nhiều chỗ rất mơ hồ, không chân xác, mà các học giả sau này còn phải suy cứu, tranh luận, đặt ra nhiều nghi vấn.
Ví dụ : Thơ Bách chu văn chương tiểu tựa ghi chú là người hiền không gặp thời mà làm ra. Nhưng ở truyện Liệt nữ của Lưu Hương thì lại chép rằng : « Con gái vua nước Tề gả sang vua Tuyên-công nước Vệ vừa đến cổng thành thì Tuyên-công chết. Phu nhân vào thành ở, cư tang ba năm. Sau khi hết tang, người em vua Tuyên-công nối ngôi muốn lấy người chị dâu góa ấy làm vợ, phu nhân nhất định không nghe, làm ra hai bài thơ ấy. Nhưng đến thầy Chu thì lại bác cái sự tình ấy, cho rằng ở Tả-truyện chép rõ ràng Tuyên-Khương (tức vợ Tuyên-vương) thông dâm với Chiêu-Bá đâu phải là người đàn bà chính đáng như vậy được. »
Xem thế thì những tích truyện thời xưa, mặc dù có ghi chú sự tích và thời gian vị tất đã trung thành với sử liệu. Nhiều khi lời ghi chú ấy do ý kiến độc đoán của người làm ra, cốt thuyết minh một giáo lý có sẵn hơn là tôn trọng sự thật.
Cho nên khi khảo cứu một tài liệu văn học sử, chúng ta không nên ỷ lại vào lời ghi chú, mà cũng không nên quá bi quan với những tài liệu chúng ta cho là mất gốc.
Gần đây với quan niệm mới, việc khảo cứu văn học không nhất thiết phải tìm hiểu lịch sử và thời gian của tác giả đối với tác phẩm. Quan niệm ấy cho rằng tác phẩm là sản phẩm tư tưởng của tác giả, tự nó đã phản ảnh đủ cả tính chất tâm tư và thời gian trong sinh hoạt xã hội rồi. Tìm hiểu tác phẩm tức là tìm hiểu tác giả, bởi vì tác phẩm là hình bóng của tác giả.
Nhưng có người cho rằng tác phẩm không phải là hình bóng đích thực của tác giả, mà chỉ là hình bóng giả tạo trong con người đích thực của tác giả mà thôi.
Thực ra, chúng tôi không phủ nhận hoàn toàn ý kiến trên đây. Tuy nhiên, chúng tôi cũng không thể chối bỏ sự liên hệ giữa hai thực thể : tác phẩm và con người. Dù có giả dối cách nào đi nữa, ý thức con người cũng không thể đúc kết ngoài thời gian và trạng thái sinh hoạt xã hội đương thời được.
Huống chi văn học bình dân là tiếng nói chân thành của một dân tộc, không phải là tiếng nói riêng của cá nhân, thì việc giả dối ấy tất nhiên không thể có. Khi tác phẩm đã là hình bóng đích thực của xã hội rồi thì bên trong tất chứa đựng đủ tính chất thời gian và hoàn cảnh xã hội. Chúng ta có thể nghiên cứu tác phẩm, minh định thời gian và trạng thái xã hội để biết tâm tư của tác giả cũng không phải là việc làm liều lĩnh, thiếu thực tế.
Nói như thế có nghĩa là chúng tôi muốn xác định một quan niệm khảo cứu, không cho những tác phẩm từ ngàn xưa để lại, thiếu chỉ dẫn, là hoàn toàn mất giá trị sử liệu.
Để minh xác điều này, chúng tôi cùng các bạn thử tìm « địa vị thi ca trong đời sống con người ».
Thi ca là gì ?
Theo triết thuyết của Khổng-Tử, thi ca là sản phẩm của tình cảm con người. Do tình cảm mà con người cần phải có thi ca.
Không một dân tộc nào có ngôn ngữ mà không có một nền thi ca riêng. Người ta vì muốn bộc lộ tâm tình mà làm thơ, vì muốn nhịp sống hòa hợp với tình cảm mà đem âm thanh ghép thành nhạc điệu. Vậy triết thuyết Khổng-Tử xác định thơ nhạc gốc ở tình cảm không phải là một định lý sai lầm.
Khi đã tìm được thi ca gốc ở tình cảm rồi, tất nhiên chúng ta có thể dùng thi ca làm tấm gương phản chiếu tìm lại tình cảm của một dân tộc. Tuy nhiên, tấm gương chỉ mới là dụng cụ phản chiếu, chưa phải là hình bóng đích thực. Muốn tìm hình bóng đích thực, kẻ nào nhìn vào tấm gương còn phải gặp nhiều khó khăn.
Cho nên, khi đã nhận rằng thi ca gốc ở tình cảm thì chúng ta cũng không thể không tìm hiểu « tình cảm con người do đâu mà có » ?
Câu hỏi ấy thuộc phạm vi các nhà triết học, nhưng với nhà khảo cứu văn học vẫn không thể không quan tâm đến. Bởi vì, khảo cứu văn học là tìm hiểu trạng thái tư tưởng con người trước lịch sử xã hội. Công việc khảo cứu ấy bắt buộc chúng ta phải có một quan điểm thích hợp với đà tiến hóa chung của nhân loại.
Đứng vào quan điểm này chúng ta hình dung sự tiến hóa xã hội loài người bằng trạng thái này, đứng vào quan điểm kia, chúng ta lại hình dung sự tiến hóa xã hội loài người bằng trạng thái kia. Mọi dị biệt ấy đều do chúng ta không đồng quan điểm. Cho nên, nếu chúng ta nhận thấy khảo cứu văn học là đem tâm tư khám phá những bí hiểm của dĩ vãng, đúc kết thành hệ thống tư tưởng nối liền lại với hiện tại, thì chúng ta không thể không tự mình xác định một lập trường tư tưởng trước khi bắt tay vào công việc ấy.
Hoặc nếu chúng ta bảo rằng dĩ vãng không còn là bí hiểm nữa, mọi diễn biến đã được ghi rõ bằng dấu vết của thời gian, phơi bày trước lịch sử rồi, thì đó là quan niệm sai lầm.
Theo chúng tôi, dĩ vãng cũng như tương lai, cả hai đều luôn luôn nằm trong bí hiểm, mà loài người, trong thế hệ nào cũng vẫn phải tìm kiếm nó. Chúng ta nhìn về dĩ vãng cũng như hướng về tương lai, cái đã mất cũng như cái chưa có, những gì chúng ta thấy di lưu trên dòng thời gian chỉ là những dấu vết để chúng ta đi tìm chứ chưa đích thực là những cái hiện hữu chúng ta mong tìm được. Trong những dấu vết ấy chứa đựng không biết bao nhiêu bí hiểm, mà bộ óc con người hầu như bất lực.
Nói cách khác, chúng ta có thể ví nhà khảo cứu văn học cũng như nhà thám hiểm, đem năng lực hiểu biết hiện tại đi vào thế giới dĩ vãng, lần mò theo dấu vết thời gian, khám phá những gì mới lạ, hoặc bị mất mát. Như vậy nhà thám hiểm ấy tất phải nghiên cứu sẵn trong tay một bản đồ. Bản đồ ấy chính là lập trường tư tưởng.
Trở lại vấn đề tình cảm con người. Khi chúng ta đã thừa nhận thi ca gốc ở tình cảm mà ra, vậy chúng ta thử tìm hiểu xuất xứ của tình cảm con người.
Với quan niệm Đông-phương, triết huyết Nho-giáo cho rằng cảm tình cảm con người do ảnh hưởng chính trị mà có. Tình cảm con người là tấm gương phản chiếu mọi sinh hoạt chính trị trong nước – chính trị ở đây theo quan niệm Nho-giáo là đường lối cai trị của vua quan.
Từ quan niệm « thi ca gốc ở tình cảm, tình cảm gốc ở chính trị », Nho giáo đã đi đến một định thuyết là « có thể dùng thi ca cải tạo tình cảm con người và cũng có thể cải tạo luôn cả xã hội nữa ».
Bởi vì, theo Khổng-Tử không có một năng lực nào làm điều hòa tình cảm con người bằng thơ và nhạc. Thơ và nhạc do tình cảm con người mà có, thì thơ và nhạc cũng có hiệu lực tác động ngược chiều đối với tình cảm con người. Hễ tình cảm trong sạch thì thơ nhạc tinh khiết, tình cảm vẩn đục thì thơ nhạc dâm ác. Ngược lại, thơ nhạc dâm ác sẽ lôi tình cảm con người vào tội lỗi, thơ nhạc khoan hòa sẽ biến tình cảm con người vào cõi thiện.
Với định lý ấy, Khổng-Tử áp dụng vào chính trị, nghiên cứu phương pháp trị dân, đúc thành một giáo lý cho lớp người thống trị (vua, quan) dùng thơ nhạc cải thiện tình cảm con người, cải thiện xã hội.
Theo quan niệm Khổng-Tử thì tình cảm con người chỉ là bãi sa mạc (trống rỗng) chịu ảnh hưởng ngoại vật, và phản ứng theo tác động của ngoại vật mà thôi. Tuy nhiên, tình cảm ấy là tình cảm của thứ dân (lớp người bị trị), còn đối với lớp người thống trị thì lại khác. Lớp người thống trị là hạng quân tử, mang trong người một kiến thức, có thể dùng kiến thức ấy điều khiển tình cảm mình được.
Cho nên xã hội loài người theo quan niệm Nho-giáo là một xã hội đẳng cấp. Đẳng cấp không căn cứ vào giàu nghèo, sang hèn, mà căn cứ vào kiến thức tất yếu do thiên tánh tạo nên. Một quốc gia, một dân tộc xấu hay tốt đều do người lãnh đạo tạo ra trạng thái chính trị xấu hay tốt mà thôi. Như vậy, kiến thức của lớp người thống trị là khả năng tuyệt đối, chi phối mọi sinh hoạt xã hội.
Trái với triết thuyết Nho-giáo Đông-phương, một số học thuyết Tây-Âu lại cho tình cảm con người do bản năng thiên nhiên mà có, không chịu ảnh hưởng vào một cái gì cả. Nếu con người có những buồn vui, thương ghét chỉ là vì bản năng thiên nhiên của con người phản ứng đối với mọi áp lực của ngoại năng mà thôi. Trong mỗi người chúng ta tự nó đã có những tình cảm do bản năng thiên nhiên cấu tạo rồi, không một ảnh hưởng nào bên ngoài có thể thay đổi tính chất ấy được.
Triết thuyết này chối bỏ xã hội đẳng cấp, chối bỏ mọi giáo điều, chủ trương nghệ thuật thi ca là sản phẩm của tình cảm hoàn toàn tùy thuộc vào thiên tính. Do đó, khi khảo sát về thi ca, họ không coi đó là một tài liệu xã hội, mà chỉ khai thác ở lãnh vực con người của thiên nhiên.
Gần đây, khoa học tiến triển, một vài học thuyết nghiêng về sinh hoạt xã hội, xem tình cảm con người không phải là sản phẩm chính trị như quan niệm Nho-giáo, mà là sản phẩm của sinh hoạt kinh tế trong mỗi nước. Chính nền kinh tế của mỗi nước chi phối mọi sinh hoạt xã hội, hun đúc cho mỗi dân tộc có một tình cảm, một phong tục, một lề thói khác biệt nhau mà chúng ta gọi là dân tộc tính. Quan niệm này thừa nhận nguyên lý tác động ngoại năng đối với nội thức, nhưng gạt bỏ hệ thống giáo điều, không cho tình cảm con người có thể dùng tâm thức cải tạo, và xã hội loài người không thể dùng giáo lý chuyển hóa được. Muốn chuyển hóa xã hội phải chuyển hóa sinh hoạt xã hội trước, nghĩa là biến cải nền kinh tế, và tình cảm con người cũng sẽ biến cải theo.
Với quan niệm ấy, các nhà khảo cứu thi ca đi tìm trạng thái xã hội bằng động lực kinh tế, mổ xẻ trong thi ca tìm kiếm những mâu thuẫn trong sinh hoạt xã hội đẳng cấp, nghĩa là đi tìm trạng thái bất bình đẳng trong lịch sử mỗi dân tộc.
Tóm lại, theo chúng tôi, cả ba quan niệm trên đều là những quan niệm phiến diện, chưa thể dùng làm kim chỉ hướng để đi vào tâm tư con người trước lịch sử xã hội.
Chúng tôi thừa nhận thi ca phát xuất ở tình cảm con người, và tình cảm con người chịu ảnh hưởng ngoại năng, tuy nhiên tình cảm chỉ mới là lãnh vực thu phát, mà bên trong con người còn có lãnh vực tâm tư. Tâm tư con người bộc lộ qua tình cảm, mà tâm tư con người cũng giữ lại những gì tình cảm thu nhận để đúc kết thành một hệ thống tư tưởng, tác động vào xã hội loài người. Cho nên, nếu bảo tình cảm chỉ một tấm gương trong, phản chiếu trạng thái xã hội, tức là chúng ta đã phủ nhận tâm tư, chối bỏ tác động nội thức của con người. Ngược lại, nếu chúng ta đem tình cảm đặt riêng ngoài ảnh hưởng xã hội, chối bỏ sự tương quan giữa con người với cuộc sống thì đó cũng là điều lầm lạc.
Đi vào lãnh vực thi ca, tức là đi vào tâm giới, chúng tôi không đứng trên quan niệm cực đoan. Chúng tôi nhìn trạng thái biến động của xã hội loài người bằng sự tương ứng, tương phản giữa nội thức và ngoại năng, tức là sự ảnh hưởng qua lại giữa con người và cuộc sống. Cuộc sống tác động vào tâm giới thì ngược lại tâm giới cũng tác động vào đời sống con người. Nói cách khác, chúng tôi không đem một nhân sinh quan cố định để giải thích xã hội loài người, bắt ép dòng lịch sử văn học phải uốn nắn theo chiều hướng tâm tư của một lập thuyết, hay một quan niệm cố định. Lập trường khảo sát của chúng tôi là lội ngược dòng thời gian, tìm những vết tích của tâm tư đúc thành dòng tư tưởng của dân tộc. Dòng tư tưởng ấy là nền tảng của một ngôi nhà tiền chế, mà ngày nay chúng ta không thể đem bản đồ kiến trúc và lối xây cất hiện hữu của chúng ta để giải thích nó được. Xã hội chúng ta ngày nay chất chứa một dung lượng thời gian mà xã hội ngày xưa không thể có. Như vậy chúng ta chỉ nên vẽ lại hình bóng của dung lượng thời gian trước kia để thấy rõ đặc tính của xã hội loài người trong lịch trình tiến hóa đích thực của nó.
Chúng tôi cũng không quan niệm thế giới dĩ vãng là riêng rẽ đối với thế giới hiện tại. Bởi vì không có dĩ vãng thì không có hiện tại. Hiện tại chỉ là trạng thái chồng chất thêm một dung lượng thời gian của dĩ vãng, có liên hệ mật thiết với dĩ vãng. Cho nên, cái gì chúng ta có ngày nay đã bắt đầu từ ngày xưa, và cái gì của ngày xưa là nguồn gốc của chúng ta ngày nay. Tìm hiểu ngày xưa tức là tìm lại những thúng đất đầu tiên hiện đang bị chôn sâu dưới chân tường, mà bên trên là ngôi nhà chúng ta đang thừa hưởng.
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta xây tường dựng cột, cắt xén những cành hoa, tô điểm cho ngôi nhà lý tưởng của chúng ta hiện tại. Chúng ta không lưu tâm đến những lớp gạch, lớp đất đã có tự ngàn xưa, làm nền tảng cho mảnh đất chúng ta tọa lạc và chúng ta cứ tưởng chúng ta đang sống với một ngôi nhà, một mảnh đất hoàn toàn mới mẻ. Nhưng thực ra, chúng ta chẳng bao giờ vượt ra ngoài đặc tính của dân tộc, bởi vì ngày xưa và ngày nay chúng ta vẫn là người Việt-nam, sống trên mảnh đất Việt-nam. Tiền nhân của chúng ta gốc người da vàng, tóc đen, mũi tẹt, chúng ta ngày nay vẫn là người da vàng, tóc đen, mũi tẹt, có khác là khác ở cái bóng dáng bên ngoài. Vậy thì cái bóng dáng bên ngoài có xóa nhòa được cái nguồn gốc bên trong chăng ? Và cái đổi khác bên ngoài không còn liên hệ gì đến cái cố định bên trong ư ?
Ở đây chúng ta không nói đến một con người, một thế hệ, mà nói đến một dân tộc.