Khi con người bắt đầu hòa hợp với lẽ sống thì con người cũng bắt đầu suy tư. Suy tư diễn biến theo chiều hướng của lẽ sống. Chúng ta không vào khởi điểm của suy tư mà chúng ta đi vào con đường suy tư đang diễn biến, bởi vì thế hệ tiền nhân để lại cho chúng ta những chứng tích trong phong dao tục ngữ không phải là thế hệ bắt đầu của một dân tộc.
Nhưng dù là thế hệ nào, tâm tư con người vẫn chưa vươn lên tìm lẽ sống, và ngược lại, lẽ sống chi phối tâm tư con người thành nhiều chiều hướng. Bản năng con người vì thế mà tác động qua mọi ảnh hưởng của tâm tư.
Vậy bản năng là gì ? Do đâu mà có ?
Chúng ta đã đề cập đến thân xác và bộ óc con người. Thân xác không có lịch sử, chỉ có bộ óc con người làm lịch sử cho thân xác. Ở đây chúng ta xác định bản năng chính là linh hồn của thân xác (linh hồn ở đây không có nghĩa tôn giáo). Cũng như thân xác, bản năng không có lịch sử cho bản năng. Bởi vậy, chúng ta có thể chia bản năng làm hai phần : bản năng thiên nhiên và bản năng giả tạo. Bản năng thiên nhiên là năng lực cố định cấu tạo theo chiều hướng tự diệt tự tồn chung cho vũ trụ. Bản năng giả tạo là năng lực chịu ảnh hưởng của tâm tư, thay đổi theo lẽ sống và tác động theo nhu cầu của mức sống con người trước lịch sử.
Tuy nhiên, bản năng cũng như thân xác, khi đã hòa hợp với lẽ sống thì chúng ta rất khó phân định.
Tự ngàn xưa, đôi chim bồ câu sống chung nhau tha rác làm tổ, tìm mồi nuôi con. Trong tinh sương, trên mái rạ, tiền nhân đã nghe những tiếng gáy trao tình của chúng. Và ngày nay, thế hệ của chúng ta, chúng ta vẫn thấy đôi chim bồ câu sống chung tha rác làm tổ, tìm mồi nuôi con. Trong tinh sương, trên mái ngói, chúng ta cũng lại nghe tiếng gáy trao tình của chúng. Chúng ta không lấy làm lạ khi phân tích được bản năng tự tại của muôn loài.
Cũng tự nghìn xưa, loài người đã vận dụng tối đa khả năng ngôn ngữ của mình để nói lên tiếng nói của ái tình, sự rung cảm của con tim giữa gái trai, và ngày nay, thế hệ chúng ta vẫn làm công việc ấy. Vậy bản năng đích thực của tình yêu không có gì khác lạ, chỉ khác ở tính chất của bản năng, và chúng ta đi tìm đặc tính của nó là chúng ta đi tìm bản năng giả tạo, nghĩa là phần ảnh hưởng ở suy tư do lẽ sống chi phối.
Nhưng tại sao chúng ta lại phải bận tâm đi tìm kiếm tính chất của bản năng giả tạo ấy ?
Thật ra, tiếng « giả tạo » chúng tôi dùng ở đây hơi gượng ép, không đúng nghĩa thuần túy, mà chỉ nói đến tính cách dễ thay đổi, không cố định. Tuy vậy, bản năng giả tạo rất cần đối với các nhà khảo cứu khi muốn tìm hiểu lịch sử tâm tư trước xã hội loài người. Vì, tâm tư làm lịch sử cho bản năng thì chính bản năng lại phản ảnh vào tâm tư.
Tóm lại, phong dao, tục ngữ Việt nam là chứng tích của bản năng diễn biến theo dòng lịch sử tâm tư dân tộc, và chúng ta sắp dùng những chứng tích ấy để khảo sát từng phần trong lãnh vực tâm tư.