Thi Ca Bình Dân Việt-nam

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 68 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1. Ai Ăn Cau Cưới Thì Đền, Tuổi Em Còn Bé, Chưa Nên Lấy Chồng. 2. Ai Ơi ! Đừng Lấy Học Trò, Dài Lưng Tốn Vải Ăn No Lại Nằm. Ngày Thì Cắp Sách Đi Rong, Tối Về Lại Giữ Đèn Chong Một Mình. 3. Ai Chồng, Ai Vợ Mặc Ai, Bao Giờ Ra Bảng, Ra Bài Sẽ Hay. Bao Giờ Tiền Cưới Trao Tay, Tiền Cheo Rấp Nước, Mới Hay Vợ Chồng. 4. Anh Khôn Nhưng Vợ Anh Đần, Lấy Ai Lo Liệu Xa Gần Cho Anh. 5. Anh Cũng Đã Hay : Tôi Ngay Phò Chúa Thánh, Gái Chẳng Lấy Hai Chồng, Biết Em Buông Mối Chỉ Hồng, Tiếc Anh Đi Chậm Nên Đứng Ngoài Phòng Bơ Vơ. 6. Anh Về
C) Tính Chất Hờn Dỗi, Ghen Tương Của Bản Năng Con Người

❊ ❊ ❊

Trước đây, chúng ta đã xác định sự luyến ái là tính chất con người, mà quan niệm hôn nhân là bước đường cá nhân từ con người đi vào xã hội. Ngược lại, xã hội cũng ảnh hưởng vào đời sống con người trước nhất từ quan niệm hôn nhân, tức là ý thức cấu tạo gia đình, lần lần đưa con người vào nhịp sống hòa hợp trong guồng máy tập thể.

Tuy nhiên, quan niệm hôn nhân cũng chỉ mới là phần ý thức, chịu ảnh hưởng sự phân hóa giữa con người và xã hội chứ chưa phải là phần thực trạng của sự phân hóa ấy. Phần thực trạng của sự phân hóa chính là cuộc đời.

Vậy cuộc đời là gì ?

Nói một cách vắn tắt thì nó là trạng thái mâu thuẫn giữa con người với con người trong tâm tư cũng như ngoài hành động. Sự mâu thuẫn ấy chằn chịt muôn mặt, và phát sinh đủ mọi biến thái. Nhưng, nếu chúng ta truy nguyên thì nguồn gốc phát sinh vẫn là sự mâu thuẫn giữa con người và cuộc sống.

Vậy, tại sao con người lại phải mâu thuẫn với cuộc sống con người ? Muốn phân định điều này, chúng ta phải bước vào lãnh vực triết học. Ở đây, vì là quyển sách khảo cứu văn học, không cho phép chúng ta vượt quá xa trong phạm vi tham luận. Nhưng nếu chúng ta buông lửng vấn đề thì chúng ta phải gặp trở ngại khi khảo sát đến tâm tư con người và mọi hiện tượng của sinh hoạt con người trong lẽ sống. Để có một ý niệm làm căn bản cho chiều hướng suy cứu, chúng ta thử đặt ở đây một khái niệm tổng quát.

Xưa nay, không phải chỉ những nhà triết học mới quan niệm con người là thân phận bi đát, mà chính những người bình dân sống trong đồng không mông quạnh, bên lũy tre xanh, bên dòng suối bạc, vẫn thấy đời người là một kiếp sống khổ cực về thể xác mà cả đến tâm hồn, chẳng bao giờ được thỏa mãn. Sở dĩ họ cảm thấy như vậy là vì từ lúc họ sinh ra cho đến lúc họ chết đi, lúc nào những ưu tư cũng đè nặng trên tâm hồn họ, mà trước mặt họ, đối với mọi người cũng thế, ngoài những cảnh giành giựt nhau để mà sống, cướp đoạt nhau để mà thụ hưởng thì chẳng có gì là cao đẹp. Thế thì họ bảo thân phận con người là bi đát, cuộc đời là bể khổ tưởng không phải vô lý.

Tuy nhiên, đó là họ đứng trong con người mà nhìn xã hội con người. Nếu họ bước ra ngoài phạm vi con người, và đừng đặt con người trước vũ trụ, mà đặt con người trong vũ trụ thì họ sẽ thấy chẳng phải chỉ có cuộc sống con người là bi đát, mà tất cả muôn loài, vạn vật đều chịu chung ảnh hưởng của vũ trụ. Vũ trụ là một hiện tượng mâu thuẫn, trong đó bao gồm con người và sinh hoạt của con người. Con người không thể đặt mình ra ngoài vũ trụ, thì sự mâu thuẫn giữa con người và xã hội con người là việc tất yếu. Sở dĩ chúng ta cảm thấy đau khổ chỉ vì chúng ta là con người, một sinh vật có tâm tư.

Tiếng nói đau khổ của tâm tư tràn ra mọi lãnh vực trong cuộc sống, nối tiếp thành một vòng lịch sử tâm tư của nhân loại. Tuy nhiên, nếu trở về với căn nguyên thì cũng chỉ là sự mâu thuẫn trên hai dòng lịch sử con người và xã hội con người.

Nguồn gốc mâu thuẫn trong tâm tư con người đi vào xã hội khởi đầu từ luyến ái đến hôn nhân, rồi từ hôn nhân biến thành những thực trạng xã hội tức là cuộc đời.

Trong phần này chúng ta khảo sát tính chất hờn dỗi, ghen tương của con người bình dân thời xưa tức là chúng ta mổ xẻ những mâu thuẫn căn bản trong tâm tư con người khi bước vào thực trạng của lẽ sống.

Hờn dỗi, ghen tương là trạng thái phản ứng đầu tiên để đi dần đến bất mãn và hành động, nó phát xuất từ ý thức tự ái, tự kỷ.

Nhưng thế nào là tự ái, tự kỷ.

Con người cũng như mọi sinh vật khác đều ảnh hưởng vào qui luật tất yếu là mỗi cá thể đều vươn lên để tranh đấu tự tồn.

Con muỗi, con kiến, con ong đốt chúng ta không phải vì thù oán, mà chính vì quy luật tranh đấu tự tồn. Chúng ta thương một người nào, hoặc ghét một người nào cũng không phải tự nhiên mà có, nó phát xuất ở bản tính thiên nhiên, tức là sự mong muốn đi tìm một sức sống.

Chúng ta không thể vui với một mùa đông gió mưa tầm tã, cũng như không thể không cảm hứng trước một cảnh đẹp huy hoàng. Bản chất tự ái, tự kỷ gắn liền với ngoại cảnh, với mọi sinh hoạt chung quanh ta. Những sinh hoạt ấy ảnh hưởng vào tâm hồn chúng ta không phải ít. Tuy nhiên, chúng ta lại thấy có những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp.

Trong lãnh vực hôn nhân và luyến ái cũng vậy, bản chất ghen tương hờn dỗi luôn luôn là những trạng thái bênh vực lẽ sống của cá nhân mình, của tâm tư mình, mà mỗi cá nhân, mỗi tâm tư khi đã bị đời sống xã hội chi phối thì trở thành cách biệt và tương phản.

Chúng ta cầm một đồng bạc cho người ăn mày, đừng tưởng chúng ta thương người ăn mày ấy, mà chính chúng ta đã tự thương mình. Bởi vì tình thương chúng ta đối với người ăn mày phát xuất trước tiên bằng một cảm giác so sánh. Chúng ta nhìn người ăn mày, chúng ta nghĩ đến thân mình, tuy rằng cảm giác so sánh ấy biểu hiện không rõ rệt trong đầu óc chúng ta do một thói quen về cử chỉ từ thiện.

Và, mọi hành động, mọi ý nghĩ, mọi cảm giác của chúng ta hằng ngày không bao giờ thoát ra ngoài bản chất tự ái, tự kỷ của con người được. Bản chất ấy cũng là bản chất thương, ghét, giận, hờn của chúng ta.

Từ ngàn xưa, tiền nhân chúng ta tuy không biện bạch, nhưng cũng đã quan niệm một cách xác đáng tính chất căn bản của tình cảm con người trong những câu ca dao :

Ớt nào mà ớt chẳng cay,

Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.

Vôi nào mà vôi chẳng nồng,

Gái nào là gái có chồng không ghen ?

Tại sao đàn bà lại phải ghen chồng ? Tại sao tâm trạng người đàn bà lại giống nhau một cách cố định trong lãnh vực này ?

Thực ra, nếu chúng ta tìm được căn bản mâu thuẫn của tâm tư con người bắt đầu đi vào đời bằng quan niệm hôn nhân thì chúng ta không lấy gì làm lạ trước trạng thái cố định ấy.

Ghen là gì ? Phải chăng là cảm giác bất mãn trên con đường từ luyến ái đến hôn nhân ? Sở dĩ đàn bà ai cũng phải ghen chồng là vì họ đều là con người. Căn bản của con người không khác gì cả. Căn bản ấy va chạm với cuộc sống trở thành một hiện tượng mâu thuẫn, con người vẫn giống nhau, tức là ai cũng yêu và ghen.

Ghen mới chỉ là cảm giác chứ chưa phát lộ ra tâm tư. Cũng như mâu thuẫn chỉ mới là trạng thái tự nhiên của lẽ sống chứ chưa phát lộ ngoài sinh hoạt. Từ cảm giác đi đến tâm tư, từ trạng thái mâu thuẫn tự nhiên phát lộ ra sinh hoạt xã hội, thì đó mới là bộ mặt của cuộc đời.

Cho nên tính chất con người thì ai cũng giống nhau, nhưng tính chất cuộc đời thì không một ai giống nhau. Bởi vì khi con người đã hòa vào cuộc sống, tính chất con người bị chi phối rất nhiều mặt, do đó, đứng vào quan điểm xã hội nhìn con người thì giữa con người rất khác biệt.

Cũng như chúng ta nhìn vào ý thức, thì trong lãnh vực luyến ái và hôn nhân không người đàn bà nào khỏi ghen chồng, nhưng nếu nhìn vào tâm tư thì không có cái ghen của người đàn bà nào giống người đàn bà nào cả.

Nhưng, người đàn ông và người đàn bà vẫn là con người, tại sao chỉ có người đàn bà ghen chồng, còn người đàn ông lại không ghen vợ ư ?

Không ai dám phủ nhận người đàn ông không ghen vợ. Tình cảm con người vẫn là một, chỉ khác là ở lãnh vực tâm tư. Người xưa sở dĩ không nói đến đàn ông ghen vợ là vì họ chỉ nhìn vào chiều hướng tâm tư, tức là bộ mặt của cuộc đời trong lãnh vực hôn nhân và luyến ái. Ở lãnh vực này, sự ghen tương của người đàn bà biểu hiện một cách đặc biệt hơn, dễ thấy hơn do tâm tư họ bị ràng buộc vào tổ chức của guồng máy xã hội phong kiến.

Ở đây, chúng ta khảo sát tính chất ghen tương, hờn dỗi của người xưa, cũng chỉ khảo sát những tính chất đặt biệt ấy. Bởi vì chỉ có sự diễn biến tâm tư con người trong cuộc sống mới là điều đáng nói.

Tâm tư ! Lịch sử tinh thần của nhân loại ! Nếu tách rời khỏi cuộc sống thì không còn xã hội loài người nữa. Trong phạm vi hôn nhân và luyến ái, tâm tư con người đi từ ghen tương đến hờn dỗi, và từ hờn dỗi biến thành nhiều trạng thái của tâm tư, khiến chúng ta không thể nào ghi trọn vẹn được.

Hỡi bộ óc của loài người ! Ngày nay chúng ta tự hào là có thể dùng nó để khám phá vũ trụ, nhưng thử hỏi bộ óc loài người đã làm gì được những cái mà người xưa cho là khó khăn ?

Thì đây, tiền nhân chúng ta đã bảo cho chúng ta biết :

Dò sông, dò biển dễ dò,

Nào ai lấy thước mà đo lòng người !

Ngày nay chúng có những nhà bác học đang cỡi phi thuyền vượt quả đất lên cung trăng, đang chui vào tiềm thủy đỉnh du hành khắp đáy đại dương, nhưng thử hỏi các nhà bác học tài năng của thế hệ chúng ta đã đo được lòng người chưa ? Lòng con người có bao nhiêu chiều sâu, chiều rộng ?

Ôi ! khi nói đến cõi lòng con người, nhà bác học của thế hệ chúng ta cũng phải mù tịt ! Bởi vì lòng người không thể dùng cây thước để đo lường.

Nếu sự tiến bộ của khoa học chúng ta ngày nay cảm thấy xấu hổ trước một câu nói thường nghiệm của người ngàn xưa, thì chúng ta cũng chớ nên tự hào đối với bộ óc con người

Chúng ta hãy trở về với tiền nhân, học hỏi ở tiền nhân trên con người. Tiền nhân chúng ta không ích kỷ, cũng không tự phụ như chúng ta ngày nay đâu. Điều khó khăn ấy, tiền nhân đã bảo chúng ta :

Thức đêm mới biết đêm dài,

Ở lâu mới biết ai ai bạc tình.

Lòng người không thể đo bằng cây thước mà phải tìm hiểu bằng sự cọ xát giữa lòng người với lòng người qua thời gian. Chỉ có lòng người mới đo lường được lòng người. Nói một cách khác, tâm tư con người là một trạng thái biến ảo, mà chúng ta muốn hiểu nó, chúng ta phải dùng tâm tư của chúng ta hòa nhịp với trạng thái biến ảo ấy, không thể đứng khách quan bên ngoài mà nhận định nổi. Bởi vì tâm tư không còn là cảm giác mà cũng chưa thành là ý thức. Tâm tư là cái vùng ảnh hưởng giữa cảm giác và ý thức. Nó mênh mông và vô định. Đem cảm giác mà nói thì cảm giác chưa đạt đến vùng ảnh hưởng của tâm tư, đem ý thức phân tích thì ý thức lại là sản phẩm của bộ óc, vượt lên quá tầm ảnh hưởng của cảm giác đã bị chan hòa với lẽ sống. Cho nên chúng ta chỉ hình dung nó với một hình bóng lờ mờ, mà người xưa gọi là cõi lòng.

Để cắt nghĩa thế nào là cõi lòng, cổ nhân đã cho chúng ta thấy :

Khó than, khó thở, khó nỗi phân trần,

Tóc không xe lại rối, ruột không giần lại đau !

Đấy, hiện tượng của cõi lòng như vậy. Các nhà bác học thời nay có thể dùng tài khoa học xác định hình bóng của nó chăng ? Tuy nhiên, đó cũng chỉ là một trong muôn nghìn hình tượng biến ảo, mà tầm mắt chúng ta dù có mở rộng đến bực nào cũng chẳng thể thu thập hết.

Người xưa muốn tìm nó, không phải một sớm một chiều mà nói lên được hiện trạng ấy. Chính họ đã phải xả thân vào cuộc sống, đúc kết hình bóng của nó qua tâm tư bằng thời gian, không gian. Vậy, cõi lòng con người cũng chính là kết tinh của thời gian, không gian !

Thực vậy, nếu thời gian và không gian biến đổi thực chất của con người từ cảm giác qua tâm tư, thì thời gian cũng chính là đối tượng của cõi lòng. Những ưu tư, những cảm nghĩ của cõi lòng con người không thể vượt ra ngoài thời gian, không gian được.

Một mối sầu dằng dặc, chìm đắm trong tâm tư người cô phụ, nếu không thai nghén trong thời gian, không gian làm gì có những nhớ nhung, phiền muộn :

Nhớ ai em những khóc thầm,

Nằm thân áo vải ướt đầm như mưa !

Nhớ ai, ra ngẩn vào ngơ,

Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai ?

Nhớ ai cơm chẳng buồn ăn,

Hồ bưng lấy bát lại dằn xuống mâm !

Chúng ta làm sao thông cảm được những nỗi buồn bực nhớ mong ấy nếu không nhờ vào khoảng thời gian không gian của cuộc đời chúng ta đúc kết trong tâm tư chúng ta một đau buồn tương tư. Vậy chỉ có lấy đau buồn mà hiểu đau buồn, tức là lấy tâm tư đo lường, thông cảm với tâm tư.

Một giải trăng suông trong đêm trường cô tịch, nếu tâm hồn chúng ta suốt một thời gian chung đụng với cuộc sống không có một lần vương mang mối buồn dưới ánh trăng ấy, thì cũng không thể nào hiểu nỗi niềm tâm tư của cô gái sầu xuân :

Đêm đêm ngồi tựa bóng đèn,

Thở than với bóng, giải phiền với hoa.

Nhưng chúng ta đã thấy rõ tính chất của tâm tư là một khoảng mung lung, biến ảo, thì chuyện trớ trêu của lòng người là chuyện dĩ nhiên ! Lòng người trớ trêu để trạng thái tâm tư biến đổi, và trạng thái tâm tư biến đổi để cho lòng người trớ trêu.

Thời xưa, tiền nhân đã đổ lệ khóc cho lòng người. Dòng lệ ấy chảy dài đến thế hệ chúng ta mà vẫn chưa thôi. Ở đây, chúng ta phải trở ngược về nguồn, nhìn lại những chỗ uẩn khúc của dòng tâm tư, và chỉ có tâm tư chúng ta mới thông cảm một phần nào tâm tư của tiền nhân, bởi vì chúng ta với tiền nhân tuy xa cách về thời gian, nhưng lại cùng chung một dòng lịch sử.

*

Giữa một xã hội bình dân, điều kiện kinh tế cho phép gái trai được gần gũi nhau, tự do luyến ái, lẽ ra tâm tư sầu muộn của người xưa không sâu sắc lắm, tính chất ghen tương không đến nỗi đậm đà, thế mà ngược lại, chúng ta vẫn thấy bao giờ cũng như bây giờ, bóng dáng con người trong lĩnh vực tình ái vẫn luôn luôn khắc khoải ! Điều đó, có lẽ người xưa cũng quan niệm như vậy, cho nên đã có ý tưởng :

Đã mang lấy cái thân tằm,

Không vương tơ nữa, cũng nằm trong tơ !

Họ quan niệm tình ái như một yếu tố hờn dỗi, khổ đau, mà tâm trạng của những người đang yêu bao giờ cũng không tránh khỏi :

Ai làm cho dạ em buồn,

Cho con bướm lụy, chuồn chuồn lụy theo.

Ai làm cho một cô gái buồn ! Tất nhiên là một chàng trai rồi ! Nhưng trong lãnh vực luyến ái, tâm hồn con người không bao giờ thấy mình được toại nguyện thì con gái cũng như con trai chưa hẳn ai đã buồn hơn ai.

Nếu người con gái cảm thấy :

Đêm qua em có ngủ đâu,

Em ngồi nghe dế kêu sầu bên tai !

Thì người con trai có khác gì :

Đêm qua hết nhớ lại buồn,

Nhớ buồn nghe dế kêu sương bên thành.

Những buồn tủi giữa tâm hồn gái trai như một sự vừa giao cảm vừa mâu thuẫn. Giao cảm khi thấy trong tâm hồn mình chất chứa niềm luyến ái, và mâu thuẫn khi thấy trong tình luyến ái ấy chất chứa một sự bất mãn đối với tình yêu. Luyến ái càng tăng thì bất mãn càng nhiều. Bởi vậy trạng thái ghen tương là một trạng thái mâu thuẫn tương quan, nghĩa là vừa dung hợp vừa chống đối. Đó cũng chính là quy luật tự nhiên trong hiện tượng vũ trụ theo triết lý Đông-phương.

Trước đây, chúng ta đã xác định ghen tương là một tính chất tự ái tự kỷ, thì dù người đàn ông hay đàn bà khi đã ghen, bao giờ cũng đứng vào tâm trạng ấy, xem đối tượng của tình yêu như là một phản bội, và tự đặt mình vào thân phận bi đát của ái tình. Nếu họ cảm thấy :

Duyên sao cắc cớ lỡ làng,

Cầm gương gương tối, cầm vàng vàng phai !

Thì chính họ đã đem đau đớn riêng của tâm tư gắn vào ngoại cảnh, oán trách ngoại cảnh đã tàn nhẫn đối với thân phận họ. Nhưng ngoại cảnh bao giờ cũng khách quan, chỉ vì tâm tư họ tự thấy mâu thuẫn với khách quan mà họ đau khổ.

Một con bướm hút nhụy hoa, đó là trạng thái tự nhiên của ngoại vật nhưng đối với một kẻ buồn khổ vì tình, khi nhìn cành hoa và cánh bướm, tính chất của họ đi từ cảm giác đến tâm tư, và họ cảm thấy đó là chuyện bất công, phi lý, và chính sự bất công, phi lý ấy đang đè nặng trên thân phận. Họ oán trách :

Khá khen con bướm khôn ngoan,

Hoa tươi bướm đậu, hoa tàn bướm bay !

Mang tâm trạng vị kỷ ấy, con người lao mình vào thực trạng xã hội thì thực trạng xã hội lại rất phũ phàng. Bởi vì thực trạng xã hội là guồng máy chung của loài người, của dân tộc, không còn tính cách cá nhân nữa, cho dù bản chất cá nhân bị bản chất tập thể phủ nhận.

Dù vậy, tham vọng cá nhân trong tính chất vị kỷ vẫn luôn luôn đòi hỏi và tranh đoạt những dục vọng cho mình, mà càng tranh đoạt, cá nhân mình càng cảm thấy mất mát, thiếu thốn.

Một nhà đạo đức học khi xét đến tâm tư con người đối với xã hội đã phải thở dài than « xã hội không làm cho lòng người đau khổ mà chính dục vọng cá nhân làm cho lòng người cảm thấy phũ phàng ».

Dục vọng cá nhân là lòng tham không đáy của con người, dưới mắt nhà đạo đức học thì dục vọng cá nhân là cái gì xấu xa, đê tiện, nhưng dưới mắt nhà triết học thì dục vọng cá nhân là ý thức vươn lên của một cá thể đòi hỏi lẽ sống, nó nằm trong qui luật tất yếu không thể chối bỏ. Bởi vậy, tự ngàn xưa, con người đã bị phủ lên không biết bao nhiêu lớp đạo lý, mà con người vẫn tồn tại với ý thức dục vọng ấy.

Mỗi con người trong chúng ta đều mang tính chất vị kỷ tất nhiên ai cũng muốn hưởng thụ hơn là hy sinh. Mà luật tạo hóa khi một kẻ hưởng thụ tất phải có một kẻ hy sinh. Cho nên, kẻ bị đau khổ trong đời là kẻ bị hy sinh, bị tước đoạt tính chất vị kỷ của họ.

Khi người đàn bà phê phán người đàn ông :

Đàn ông một trăm lá gan,

Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người.

Thì chính người đàn bà đã cảm thấy dục vọng cá nhân mình bị hy sinh. Họ đòi hỏi một khả năng thụ hưởng mà chính người đàn ông đã tước đoạt của họ.

Dục vọng cá nhân lại chẳng bao giờ thỏa mãn khi một cá thể đang vươn lên tìm sức sống ! Nếu chúng ta nhìn vào vũ trụ, buồn chán trước những cành khô, lá rủ, những cánh hoa tàn, những ống xương khô đang mục rã qua thời gian, thì chính những dục vọng cá nhân là trạng thái tương phản, chống lại với những gì đang tàn tạ ! Khi dòng máu còn đang rào rạt trong huyết quản con người thì không một ảnh hưởng đạo lý nào đủ quyền lực buộc dòng máu ấy phải dừng lại. Cũng như một con sông, khi dòng nước đã ứ tràn thì dù bị địa thế cản trở, con sông ấy vẫn phải uốn mình để thoát đi. Đó chỉ là sức sống !

Chính trong tâm hồn vị kỷ, người xưa cũng đã cảm thấy sức mạnh của nguồn sống ấy xuyên qua sự hờn dỗi của họ :

Có mới thì nới cũ ra,

Mới để trong nhà, cũ để ngoài sân !

Hoặc : Nghĩa nhân mỏng dánh

Như cánh chuồn chuồn.

Khi vui nó đậu, khi buồn nó bay !

Tâm tư con người luôn luôn đòi hỏi những mới lạ, và tìm đến những mới lạ ! Bởi vì mới lạ chính là ý nghĩa của cái sống !

Một vũng ao tù hằng ngày chúng ta nhìn nó trong trạng thái cô đọng và cạn dần dưới sức nóng mặt trời, chúng ta không tìm thấy bên trong một sinh lực. Một mầm non hàng ngày chúng ta săm soi thấy mỗi sáng lớn thêm lên, chúng ta hình dung được sức phát triển nguồn sống nó. Thế thì tâm tư con người cũng vậy, khi sức sống đã chứa đựng trong cơ thể thì tâm tư tất phải ăn nhịp với nguồn sống của thể xác.

Sở dĩ lịch sử loài người không đứng yên một chỗ chính vì ý thức con người luôn luôn tìm kiếm những mới lạ, và trạng thái ấy đã đánh dấu sự sống của con người.

Thời xưa, cổ nhân cũng đã tìm thấy bản chất của ý sống, và gởi gắm vào các câu ca dao như :

Tới đây lạt miệng thèm chanh,

Ở nhà đã có cam sành chín cây.

Cam cũng chua, chanh cũng chua, nhưng cam không phải là chanh ! Ý thức con người không cắt nghĩa được sự đòi hỏi của lẽ sống, chỉ có người đang sống, vì chính con người đang sống ấy mới hiểu được bản chất của họ.

Một cô giá hờn dỗi chế diễu một chàng trai :

Đũa mun bịt bạc anh chê,

Đũa tre lau cạnh anh mê nỗi gì ?

Hoặc : Cam sành anh chê đắng, chê hôi,

Hồng rim chê lạt, cháo bồi khen ngon !

Thì cũng mới chỉ đứng trên quan điểm của bản chất xã hội mà chưa đứng trên quan điểm bản chất con người. Xã hội mặc dù thay đổi nhưng thay đổi trên dòng lịch sử giai cấp, nên quí vật được tôn thờ trên truyền thống, còn đối với sự thay đổi của bản chất con người không thể đánh giá bằng quí vật của xã hội được.

Chính bản chất con người như vậy, nên trong lãnh vực luyến ái và hôn nhân nẩy sinh không biết bao nhiêu cảnh huống dị thường.

Khi đặt mình vào lãnh vực luyến ái, không ai nghĩ đến chung thủy. Nhưng chung thủy tức là duy trì, là giữ lại khả năng phát triển của lẽ sống, mà điều đó, theo qui luật thiên nhiên của bản chất con người là điều trái ngược. Cho nên ái tình duy lý bị phá vỡ, và những kẻ nào đứng trên quan điểm ái tình duy lý đều thấy lòng người là một cái gì bội bạc, phản phúc.

Chúng ta không thể không cảm động trước một lời rên siết của cô gái xưa :

Nào khi anh bủng anh beo,

Tay bưng chén thuốc, tay đèo muối chanh.

Bây giờ anh mạnh, anh lành,

Anh ham nhan sắc, anh đành phụ tôi !

Thật chua chát, đắng cay ! Nếu bảo con người là một sinh vật có trí khôn, có lý trí, thì tại sao có thể tàn nhẫn như thế được ! Tại sao tình cảm của họ không gắn liền với muối chanh, với chén thuốc, với sự săn sóc của người đàn bà đã chịu khổ với họ ! Tuy nhiên, tính chất của con người đối với sự sống đã làm cho họ không còn giữ được đạo lý ! Họ đã chạy theo sức sống của con người, mãnh lực của thụ hưởng.

Chẳng những đối với người đàn ông, người đàn bà cũng không khỏi qui luật tự nhiên ấy :

Có oản em tình phụ xôi,

Có cam phụ quýt, có người phụ ta.

Có quán em phụ cây đa,

Ba năm quán đổ, cây đa hãy còn.

Có mực em tính phụ son,

Có kẻ đẹp dòn, em phụ nhơn duyên.

Có bạc em tính phụ tiền,

Có nhân nghĩa mới quên người tình xưa !

Hỡi Tạo-Hóa ! Tạo-Hóa đã phú cho con người có được một tình cảm vô biên, một tinh thần kiêu hãnh trên mọi sinh vật khác, nhưng Tạo-Hóa cũng lại không cho con người thoát ra ngoài qui luật tất yếu của muôn loài, và gây cho loài người những mâu thuẫn giữa tâm tư và bản ngã.

Chính con người đã đau khổ trên chiều hướng mâu thuẫn ấy :

Một thương, hai nhớ, ba sầu,

Ăn cơm chẳng được, ăn trầu ngậm hơi.

Nỗi buồn tê tái của con người chẳng những chất chứa trong tâm hồn mà còn tràn ra cảnh vật để giao cảm với thiên nhiên.

Đợi chàng không thấy chàng đâu,

Bóng trăng đủng đỉnh ra màu cợt trêu !

Hoặc : Kiểng xa bồn kiểng lại không xanh,

Anh rầu người bất nghĩa, cơm canh bỏ liều !

Những nét buồn tê tái ấy cứ đeo đẳng mãi trên những hành động của bản ngã, và tâm tư con người đã phải điêu đứng. Tuy nhiên, con người vốn là một sinh vật có tư tưởng, muốn tránh những trạng thái khắc khoải vì bản ngã con người trong lẽ sống, nên cố tìm ra một đạo lý để ngăn chặn mọi dục vọng con người.

Đạo lý buộc con người vào đạo nghĩa, vận dụng lý trí để kềm hãm bản năng thiên nhiên. Nhưng, nếu đạo lý kềm hãm được phần nào bản tính con người thì đạo lý cũng bị trở thành đối tượng mâu thuẫn với bản tính con người.

Ai cũng thừa nhận đạo nghĩa là trọng trước quan niệm ái tình :

Đạo vợ chồng không phải cá tôm,

Đang mua mớ nọ lại chồm mớ kia !

Tuy nhiên, đạo nghĩa chỉ đem lại cho tâm tư con người buồn tủi thêm. Bởi vì dục vọng con người không vì đạo nghĩa mà chịu nằm yên trong trạng thái bất động. Càng bị đè nén, dục vọng càng chỗi dậy

Đây, chúng hãy nghe tiếng rên than của một nạn nhân :

Đem em mà bỏ xuống gành,

Kéo neo mà chạy sao đành anh ơi !

Đêm đêm góc biển chân trời,

Một mình em đứng em ngồi em nghe.

Em nghe hết giọng con ve,

Đến lời con cuốc gọi hè tiếc xuân !

Chẳng biết ngôn ngữ loài người có đủ sức mạnh gieo vào tình cảm con người những đau thương, để cho dục vọng của bản năng con người vì thế mà kềm chế chăng ?

Nhưng chắc là không ! Tiếng nói bi thảm của con người không đủ sức mạnh sửa đổi qui luật vũ trụ. Bởi vậy, mặc dù tự ngàn xưa, loài người đã vận dụng hết ngôn ngữ nói lên những đau đớn trong lãnh vực phụ tình, mà vẫn còn tiếp diễn mãi những cảnh :

Khoác mùng ra thấy mùng không,

Gối loan để đó, lệ hồng tuôn rơi !

Hoặc : Đi đâu bỏ nhện giăng mùng,

Bỏ đôi chiếu lạnh, bỏ phòng quạnh hiu

Hay : Đi đâu mà chẳng thấy về,

Hay là quần tía dựa kề áo nâu !

Đi đâu mà chẳng thấy về !

Hay là ăn cận ngồi kề với ai ?

Lý trí con người đã không thể dùng đạo nghĩa chế ngự bản năng, ngôn ngữ con người cũng chẳng đủ sức mạnh kềm hãm được dục tính, thế thì những đau khổ trong tâm tư đối với những kẻ bị tước đoạt sức sống trong lãnh vực ái tình phải làm sao ? Hiện tượng mâu thuẫn ấy đã đưa xã hội loài người đến một phương thức mới, đó là ý thức trả đũa.

Ý thức hờn dỗi, ghen tương bắt đầu đi vào hành động, và sự đấu tranh về tình ái mang tính chất gay gắt hơn. Những tiếng rên than biến thành những lời căm hận :

Hồi nào bậu nói với qua,

Bậu không hái lựu bẻ đào :

Lựu đâu bậu bọc, đào nào cầm tay ?

Trăng tròn thì mặc trăng tròn,

Bậu xinh mặc bậu ; bậu xằng anh chê !

Trống không ai dám đánh thùng,

Bậu không lang chạ, ai dám giở mùng chun vô.

Từ trạng thái đau buồn đi đến căm hận, và từ căm hận, ý thức ái tình chung thủy tiến đến chỗ mất tin tưởng :

Vợ ba con anh còn để bỏ.

Huống chi nàng ngọn cỏ phất phơ.

Ngọn cỏ phất phơ, ngọn cờ phơ phất

Nồi đồng sôi, nồi đất cũng sôi,

Đôi ta duyên mặn tình rồi,

Bậu phân cho phải, lại rồi sẽ đi.

Hoặc : Đánh liều nhợ đứt phao trôi,

Đánh liều giấy ướt hồ rơi cho rồi.

Nếu lịch sử xã hội loài người là một chuỗi đấu tranh về bạo lực kết tụ, thì lịch sử hôn nhân và luyến ái của loài người cũng là một chuỗi đấu tranh về tâm tư đúc kết và biến chuyển không ngừng.

Cho nên những giọt nước mắt thấm đọng nơi cô phòng chưa thể làm lịch sử ái tình cho nhân loại, mà phải kể đến năng lực tranh đấu của ái tình phát hiện trong cuộc sống nữa.

Năng lực ấy đã từ những giọt nước mắt kia kết tụ lại, biến thành sức chống đối mãnh liệt.

Đây, chúng ta thử nhìn lại ở thế hệ xa xưa, sức chống đối đã vượt ra ngoài những tiếng rên rỉ :

Đất xấu nắn chẳng nên nồi,

Anh đi lấy vợ thì tôi lấy chồng.

Anh đi lấy vợ cách sông,

Tôi đi lấy chồng giữa ngõ anh ra.

Nước mắt đã biến thành những tia căm hờn ! Và nếu những kẻ chạy theo dục vọng đã tạo thành những giọt nước mắt căm hờn kia, thì ngược lại, những kẻ đã đổ lệ lại dùng bản năng dục vọng để chống đối :

Ông ăn chả thì bà ăn nem,

Đứa ở có thèm mua bánh mà ăn.

Sông sâu nước chảy ngập kiều,

Dù anh có phụ, còn nhiều nơi thương !

Dứt dây nên gỗ mới chìm,

Bởi anh ở bạc, em tìm nơi xa.

Chưa hết, lòng căm hận trong lịch sử tình ái còn đi xa hơn nữa. Nếu vì phụ bạc mà trong thế hệ chúng ta đã xảy ra những vụ đầu độc, giết chồng, đánh ghen thì tự ngàn xưa trạng thái ấy cũng đã có :

May gối luông bằng nỉ.

May cho kỹ mình nằm,

Tại mình ở bạc, ta đem bằm gối luông.

Hoặc : May cho mình áo lá,

Châu xá bông tây,

Tại mình ở bạc ngồi xuống đây ta lột trần.

Hỡi tiền nhân ! Sự đau đớn trong tâm tư mà xã hội đã gieo rắc cho loài người có lẽ đến ngày nay cũng không khác mấy ! Yêu đương là nguồn gốc của lẽ sống, nếu nguồn gốc bị mất thì mọi vật cũng chẳng còn nghĩa lý gì. Quan niệm ấy, chính tiền nhân đã bộc lộ :

Dao phai kề cổ, máu đổ không màng,

Chết thời chịu chết, buông nàng không buông.

Hoặc : Chợ Sài-gòn đèn xanh đèn đỏ,

Anh xem không rõ, anh ngỡ đèn màu.

Rút gươm đâm họng máu trào,

Để em ở lại kiếm nơi nào hơn anh !

Thật vậy, còn gì đắng cay hơn khi xã hội loài người phủ bên ngoài một lớp màu đạo nghĩa, mà bên trong chất chứa những dục vọng cá nhân.

Đêm nằm bỏ tóc qua mình,

Thề cho bán mạng kẻo lòng anh nghi !

Như chúng ta đã thấy, sức mạnh đạo nghĩa không thắng nổi dục vọng yêu đương thì những biến thái của tâm tư con người cũng chẳng còn là chuyện lạ nữa.

Nếu một cô gái giận chồng tỏ ra những cử chỉ gần điên dại, như :

Gái đâu có gái lạ lùng,

Chồng chẳng nằm cùng,

Nổi giận đùng đùng ném chó xuống ao !

Thì đó cũng chỉ là một phản ứng của tâm tư mà thôi ! Bởi vì nếu không ném chó xuống ao thì họ cũng tìm những cử chỉ khác để cởi mở lòng bực tức của mình. Chẳng hạn như :

Ngọt canh là bí đao hồng,

Đánh cho một trận xem chồng về ai !

Tâm tư con người ở ngoài lãnh vực cảm giác và lý trí, nó hành động theo trạng thái đau khổ, theo dung lượng uất ức chất chứa trong người, cho nên chúng ta không thể dùng ý thức con người mà nhận xét. Chính vì vậy mà chúng ta thấy những cử chỉ ghen tương từ xưa đến nay là những trạng thái mất thăng bằng trong con người.

Nhận thức được điều đó, người xưa cũng đã châm biếm, chế diễu :

Ao sâu thì lắm ốc nhồi,

Chồng mình lịch sự nửa người nửa ta.

Ghen lắm thì dứt ruột ra,

Chồng mình thì tới tay ta phen này.

Em thấy anh em cũng muốn chào,

Sợ rằng chị cả giắt dao trong mình,

Đấy giắt dao, đây gươm kề nách,

Thuận nhân tình cất cánh sang chơi.

Chẳng lấy cũng khuấy cho hôi,

Làm cho bể trách, bể nồi mà chơi.

Tôi đã biết vợ anh rồi,

Quăn quăn tóc trán là người hay ghen.

Ta rằng ta chẳng có ghen,

Chồng ta, ta giữ, ta nghiến, ta nghiền, ta chơi !

Cái cò trắng bạch như vôi,

Cô kia có lấy chú tôi thì về.

Chú tôi chẳng mắng chẳng chê,

Thím tôi thì mổ lấy mề nấu canh.

Anh thấy em anh cũng muốn chào,

Sợ anh chồng cũ, hắn đứng bờ rào hắn trông !

- Hắn trông thì mặc hắn trông,

Đã quyết một lòng, ta quyết lấy nhau.

Nếu tâm tư người xưa đã đau khổ nhiều trong lãnh vực luyến ái, và những giọt lệ thâu đêm đã chảy tràn trên gối mộng thì trái lại tinh thần hài hước của họ cũng chỗi dậy điểm vào đó những nụ cười hóm hỉnh vô cùng.

Chúng ta không lấy làm lạ trước trạng thái ấy, bởi vì họ là người bình dân, cuộc sống hằng ngày chung đụng, gần gũi nhau, tâm hồn họ trao đổi nhau rất dễ dàng, và mọi biến cố của tâm tư đều là những đề tài được họ mổ xẻ trong niềm vui sống.

Tuy nhiên, những mâu thuẫn của yêu đương dù khốc liệt đến đâu cũng không thể làm người chùng bước trước sự luyến ái giữa gái trai. Cũng như gió bão, mưa lụt, hạn hán không tiêu diệt sự nẩy mầm của cây cối. Tình yêu trong xã hội loài người vẫn huy hoàng. Những đêm trăng sáng, tiếng chày vẫn khua đều trong câu hát giao duyên. Những buổi bình minh, giọng hò trữ tình vẫn vang lên bên sườn núi, như khiêu khích những tâm hồn còn đang nặng trĩu lòng xuân, và chính trong nguồn an ủi ấy họ khuây khỏa phần nào những nỗi hằn học của tâm tư :

Chồng giận thì vợ làm lành,

Miệng cười hớn hở, rằng anh giận gì ?

Thưa anh, anh giận em chi ?

Muốn lấy vợ bé em thì cưới cho.

Đồng thời họ cũng lại dí dỏm :

Vợ anh anh xấu máu hay ghen,

Anh đừng lấp lửng chơi đèn hai tim !

*

Tóm lại, tính chất ghen tương, hờn dỗi trong lãnh vực hôn nhân và luyến ái từ xưa đến nay vẫn giống nhau, chỉ khác một đôi chút về diễn biến của trạng thái tâm tư mà thôi.

Người bình dân Việt-nam thời xưa sống dưới ách kềm kẹp của chế độ phong kiến, tuy họ được tự do luyến ái, song quan niệm hôn nhân bị chi phối, thành thử ý thức bình đẳng hôn nhân của họ bị giáo lý Nho-học phá vỡ. Trong những gia đình bình dân chúng ta thấy quyền lực của người đàn ông vẫn đè nặng trên người đàn bà như những gia đình quí tộc, gây cho người đàn bà một áp lực, bắt họ phải chịu đựng.

Áp lực của người đàn ông đối với người đàn bà trong gia đình người bình dân đã phản ảnh qua các câu ca dao như :

Ví dù tình bậu muốn thôi,

Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra.

Bậu ra cho khỏi tay ta,

Cái xương bậu nát, cái da bậu mòn.

Hoặc : Không đánh bậu để bậu luông tuồng.

Cầm roi đánh bậu cũng buồn dạ anh.

Dưới áp lực ấy, người đàn bà là kẻ chịu đựng nhiều nhất. Tâm tư họ bị dồn ép bao nhiêu khổ đau trước bản năng dục vọng, trước đạo lý bất công, trước năng lực tiền tài. Ngày nay, khi đào sâu vào tâm tư của họ trong ca dao tục ngữ, chúng ta phải nhìn nhận người phụ nữ bình dân thời xưa có sức chịu đựng đáng kể. Chỉ vì xã hội bất công và mọi mâu thuẫn trong luyến ái đã ép họ đến ngộp thở, buộc lòng họ phải bật lên tiếng khóc, tiếng than, tiếng gào, tiếng rú… khơi nguồn cho dòng lệ tâm tư chảy mãi đến thế hệ ngày nay.

Trên quan điểm mâu thuẫn chung trong lãnh vực luyến ái, chúng ta đã bàn đến rồi, ở đây trong phần kết luận, chúng tôi tưởng không thể bỏ qua một vài đặc tính của xã hội phong kiến thời xưa, có ảnh hưởng đến tâm tư người bình dân trong lãnh vực luyến ái.

1) Sự hờn dỗi ghen tương của người bình dân có chịu ảnh hưởng và chế độ phong kiến không ?

Dĩ nhiên không thể tránh được. Chế độ phong kiến là chế độ giai cấp, ảnh hưởng giai cấp đã chi phối cả quan niệm luyến ái lẫn hôn nhân, thì sự ghen tương hờn dỗi không thể tách rời ra ngoài. Cho nên, trong tâm tư người bình dân, chúng ta thấy lúc nào cũng phảng phất một ý thức chống đối giữa quan niệm giàu nghèo, như :

Tham vàng bỏ ngãi chàng ơi !

Vàng ăn cũng hết, ngãi tôi vẫn còn.

Bậu chê nước sông, bậu uống nước bàu,

Chê đây lấy đó lại giàu hơn ai ?

Tính chất người bình dân bao giờ cũng muốn thủ phận, sống một cuộc sống thanh bần và chung thủy.

2) Ngoài tâm tư bất mãn guồng máy phong kiến, tính chất ghen tương, hờn dỗi trong xã hội bình dân Việt-nam còn chống giáo lý phụ quyền của Khổng Mạnh nữa. Sự chống đối ấy phản ảnh trong các câu ca dao như :

Chàng đành phụ mẫu không đành,

Lá che cây khuất ngọn ngành trời ơi !

Trách mẹ trách cha, chớ ta không trách bậu,

Cha mẹ ham giàu gả bán em đi.

Vách thành cao lắm khó dòm,

Nhớ em anh khóc đỏ lòm con ngươi !

Tiếc công anh lau dĩa chùi bình,

Cậy mai tới nói phụ mẫu nhìn bà con.

- Trời mưa nhà thiếc bon bon,

Phụ mẫu không thương nói vậy, chớ bà con đâu mà nhìn.

3) Chẳng những chống phụ quyền trong giáo lý Khổng Mạnh mà tâm tư người bình dân còn chống cả sự bất công trong lễ nghi của Nho giáo. Đây, chúng ta hãy nghe lời than của người mệnh phụ đang xuân :

Vai mang bức tượng thờ chồng,

Thấy trai nhan sắc, nước mắt hồng tuôn rơi !

Những giọt nước mắt ngắn dài trong một biến thái của tình yêu đã tuôn chảy tự ngàn xưa, cho mãi đến ngày nay, và có lẽ không bao giờ dứt khi con người cũng vẫn là con người, một con người tự ái, tự kỷ và chất chưa đầy dục vọng mà không sao thỏa mãn được.

AM « SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » dự án phi lợi nhuận của TVE-4U.ORG ebook©MotSAch —★— vte-4u© Nhà xuất bản : XUÂN THU USA 1975
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Nguyễn Tấn Long, Phan Canh

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.