Nếu trong lãnh vực chính trị người bình dân bị áp bức về tinh thần khiến họ phải kiên trì, nhẫn nại, tương thân tương ái để mà sống, thì trong lãnh vực kinh tế, chính người bình dân lại là lớp người cực nhọc nhiều hơn ai hết về vật chất. Sự cực nhọc ấy đã hun đúc họ có được bản tính cần cù, chất phác và chịu đựng mọi gian lao.
Khi một lớp người không có quyền lực trong tổ chức xã hội thì nguồn sống của họ chỉ còn dựa vào sức lao động. Đem mồ hôi để đổi lấy chén cơm, manh áo thì con người đâu còn nghĩ đến những chuyện se sua về hình thức, giả nhân giả nghĩa, những mánh khóe lòe đời để phỉnh phờ, gạt gẫm thiên hạ. Họ sống cuộc đời với thực chất của ý sống, không pha trộn. Đó là căn bản phát sinh tính chất cần cù nhẫn nại của người bình dân.
Chúng ta phải nhìn ở họ những cảnh khổ, như :
Một mình vừa chống vừa chèo,
Không ai tát nước đỡ nghèo một khi.
Hoàn cảnh lao động thúc bách, vây phủ, tràn ngập chung quanh cuộc sống mà họ chỉ thốt ra những lời cầu mong vô tư, êm dịu và đậm tình như thế, sự kiện cho ta thấy rõ cảnh sống của họ không cho phép họ thiếu bền chí, kiên nhẫn được. Chính hoàn cảnh xã hội tạo nên tâm trạng và đức tính con người.
Chúng ta bảo họ cần cù ! Phải, làm thế nào không cần cù được khi đời sống họ dẫy đầy kham khổ :
Chú kia nhổ mạ trên cồn,
Nước non không có, miệng mồm lấm lem.
Đấy, sự vất vả cực nhọc của họ buộc họ huy động mọi khả năng để chống chọi với gian lao. Tuy nhiên họ không lấy thế làm nhục, câu hát trên đây chỉ là một câu trào lộng để diễn tả nỗi cực khổ của kẻ bình dân. Họ đem những ý tưởng trào lộng phủ lên mọi cực nhọc của họ để làm vui, để an ủi lấy mình, đồng thời cũng để tự hào bản tính cần cù của họ trong lẽ sống. Chúng ta đừng tưởng trong cực nhọc, người bình dân sẽ mơ ước những gì cao sang, đẹp đẽ, lòe loẹt. Không, họ đã cho chúng ta thấy :
Một trăm con gái Thủ,
Một lũ con gái chợ, anh không màng,
Cảm thương con gái ruộng cơ hàn, nắng mưa.
Hỡi những người phong lưu đài các ! Trong lúc các người không thích cảnh vất vả, không thích tay lấm chân bùn, không thích những làn da rám nắng, không thích những gò má đen sạm vì gió sương thì chính người bình dân cũng lại không màng đến những bàn tay óng chuốt, những gót sen tơ đỏ chót của các người.
Tại sao ?
Phải chăng vì người bình dân là hạng nghèo khổ dầu họ muốn có được sắc đẹp như vậy cũng chẳng làm sao có được, nên phủ nhận ?
Thực ra không phải vậy ! Nếu chúng ta thừa nhận tâm tư con người là sản phẩm của sinh hoạt xã hội thì chúng ta lại phải thừa nhận rằng cuộc sống đã làm nẩy nở trong ý thức con người của mỗi giai cấp một sự khác biệt.
Sỡ dĩ người quí tộc thích cái đẹp xa hoa, phù phiếm chỉ vì họ đã tách rời cái đẹp vật chất của con người ra khỏi cái đẹp tinh thần – cái đẹp của tình thương. Cái đẹp của đôi bàn tay óng chuốt, đôi gót chân son, đôi má ửng hồng trong làn da trắng mịn chỉ là con người biệt lập với đời sống. Trong lúc đó cái đẹp của đôi tay rám nắng, đôi má đen sạm kia lại chứa đựng một dấu vết khổ đau của thân phận con người. Nó là cái đẹp của tình thương, của những tâm hồn đã trộn lẫn với loại tình thương ấy. Như vậy, ý thức của người bình dân thích cái đẹp của kẻ cơ hàn nắng mưa không phải là chuyện phi lý. Dưới mắt họ bao giờ cũng chứa đựng một tình thương, và tình thương ấy xuất phát ở sức lao động, làm nền tảng cho lẽ sống.
Vả lại guồng máy kinh tế của xã hội phong kiến ảnh hưởng vào sinh kế của gia đình bình dân không phải ít. Gia đình bình dân không một ai rảnh rỗi ! Tất cả đều phải làm việc, phải lặn lội trong nắng mưa. Nếu họ là gia đình ngư nghiệp thì :
Cha chài, mẹ lưới, con câu,
Thằng rể đi xúc, con dâu đi mò.
Hoặc : Chồng chài, vợ lưới, con câu,
Sống nhờ bọt nước lấy đâu mà giàu.
Như vậy, nếu cái đẹp đối với họ không phải là cái đẹp của cần cù thì làm sao chung sống với họ được ? Vả lại, đối với họ, con người sinh ra không phải để sống nhờ vào sức lực của kẻ khác. Cái mà họ quí trọng là sự đương đầu với mọi áp lực của thiên nhiên, của con người. Dù phải ở trong hoàn cảnh :
Con thơ tay ẵm tay bồng,
Tay dắt mẹ chồng đầu đội thúng bông.
Thì họ vẫn tin vào sự bền chí, kiên nhẫn của họ để đạt lấy sự thành công :
Người đời ai khỏi gian lao,
Gian nan có thuở, thanh nhàn có khi.
Thanh nhàn đối với họ không có nghĩa là giàu sang, mà chỉ có nghĩa là giữ được mức thăng bằng với lẽ sống. Họ không có cao vọng sống trên địa vị xã hội. Bởi vậy họ nhìn đời bằng đôi mắt tự phụ :
Càng cao, càng gió, càng lay.
Càng cao danh vọng, càng dầy gian nan.
Lấy kinh nghiệm thực tiễn trong lẽ sống, chính họ đã thấy rõ sự vật lộn của giai cấp, sự cấu xé của loài người để ngồi lên một địa vị trong xã hội, để lẩn trốn trách nhiệm lao động cực nhọc, muốn sống thảnh thơi trên sức làm việc của kẻ khác mà đang tâm tiêu diệt mọi tình thương đồng loại. Người bình dân cũng đã nhận rõ yếu tố trên là nguồn gốc của ích kỷ, tham lam, nên họ mỉa mai :
Ma không thương người ốm,
Kẻ trộm không thương nhà nghèo.
Thật vậy, nếu kẻ trộm kia cũng quan niệm như họ, biết sống bằng sự làm lụng cực nhọc thì kẻ trộm chẳng bao giờ lấy của nhà nghèo. Theo họ, kẻ lương thiện là kẻ không sống nhờ kẻ khác, và kẻ nào đã sống nhờ kẻ khác, thì chẳng lương thiện bao giờ.
Quan niệm như vậy, người bình dân tạo cho mình một tinh thần tự lực tự cường. Họ không ngại gian lao. Tinh thần ấy được biểu lộ một cách rõ rệt qua những câu hò, câu hát, như :
Chẳng giậm thì thuyền chẳng đi,
Giậm ra ván nát, thuyền thì long đanh.
Đôi ta lên thác xuống gành,
Em ra đứng mũi để anh chịu sào.
Họ bằng lòng gánh vác một cách thản nhiên mọi trách vụ gian nguy trong đời sống họ với sức kiên nhẫn của con người.
Chiếc thuyền nho nhỏ, ngọn cỏ đìu hiu :
Nay nước thủy triều, mai lại nước rươi.
Sông sâu sóng cả em ơi,
Chờ cho sóng lặng, buồm xuôi ta xuôi cùng.
Trót đem nhau vào kiếp bình bồng,
Xuống ghềnh lên thác quyết một lòng cho ngoan.
Xem đời người như một con thuyền trên sóng, bão tố là chuyện tất nhiên, muốn giữ vững con thuyền chỉ có sức người và trì chí mới là yếu tố quan trọng. Người bình dân sẵn sàng đặt mình trước mọi việc tất yếu của lẽ sống. Dù ở địa hạt nào, tinh thần chịu đựng của họ cũng sáng ngời :
Cấy đồng giữa buổi đang trưa,
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.
Thì họ vẫn xem đó là bổn phận làm người ; đồng thời họ lại nhắn nhủ với nhau chớ thấy cực khổ mà bất mãn với cuộc sống :
Dù no, dù đói cho tươi,
Khoan ăn, bớt ngủ, liệu bài lo toan.
Tại sao họ lại bằng lòng với thực trạng cuộc đời khổ cực của họ mà không hề than thở. Nếu người bình dân không có tinh thần tự lực tự cường thì chẳng bao giờ đủ sức chịu đựng như vậy ! Sức lao động quả là một vũ khí chinh phục gian lao, một năng lực bảo vệ đời sống con người, và cũng là nguồn vinh dự để họ tin tưởng và tự phụ đối với họ ! Mang một tinh thần mạnh mẽ trong ý thức tự tồn do sức lao động của mình, họ đã khinh thường những kẻ biếng nhác :
Giàu đâu những kẻ ngủ trưa,
Sang đâu những kẻ say sưa tối ngày.
Đã sinh ra kiếp nam nhi, tượng trưng cho sức mạnh, cho khả năng lèo lái con thuyền trước phong ba, thế thì tại sao lại tránh trách nhiệm ? Không ! Đối với họ, con người không có quyền chối bỏ năng lực của mình hiện có. Họ bảo :
Đã sanh ra kiếp đàn ông,
Đèo cao, núi thẳm, hang cùng kể chi ?
Từ ý thức xem sức lao động là năng lực của thiên nhiên và là bổn phận của con người trước lẽ sống. Giá có ai khinh khi sức lao động của họ, họ sẽ phản ứng ngay. Những ý thức chống đối bao giờ cũng hàm chứa trong thanh bạch. Họ bảo :
Giàu thì cũng chẳng có thèm,
Khó khăn ta liệu ta làm ta ăn.
Hoặc : Giàu thì cơm cháo bổ lao,
Khó thì đánh điếu thuốc lào ngậm hơi !
Không phải họ chê cái giàu, mà chính họ khinh khi những kẻ làm giàu trên sức lao động của kẻ khác. Cái giàu ấy đối với họ là cái giàu bất lương, trái với đạo làm người.
Đạo làm người đối với họ là tự lực cánh sinh, tức là phải tự mình nuôi lấy thân mình, không nhờ vã ai. Do đó, họ nêu lên những nghị lực, như :
Muốn ăn lăn vào bếp,
Muốn chết lết ra gò.
Ý thức trên đây quả là tinh thần bất mãn đối với kẻ ăn gởi nằm nhờ, mua danh chuốc lợi. Và chính sự bất mãn ấy đưa tâm tư họ đi dần đến chỗ khinh miệt những giá trị bên ngoài của con người mà họ cho là giã dối :
Hay quần, hay áo, hay hơi,
Mà chẳng hay người là của bỏ đi.
Họ đánh giá con người không phải bằng những phù phiếm bên ngoài, mà bằng thực chất của con người :
Hơn nhau tấm áo manh quần,
Bỏ ra bóc trần, ai cũng như ai.
Ý thức thực tiễn trong lẽ sống của người bình dân đã đưa giá trị con người trở về với bản ngã.
Thực vậy, con người có hai phần giá trị : giá trị bản ngã và giá trị tâm thức.
Giá trị bản ngã là giá trị thiên nhiên của mỗi con người thụ hưởng do luật sinh tồn của vũ trụ ; cũng như mỗi con người đều có một sức lao động để mưu sinh, một khối óc để hiểu biết và một bản năng chống lại mọi nguy nan. Phần giá trị này ai cũng như ai.
Giá trị tâm thức là phần bản lãnh của con người trong cuộc sống. Nó là mưu mô, là sự tiếm đoạt, là khả năng chiếm hữu của con người. Phần này không ai giống ai và biểu lộ bên ngoài bằng nhiều hình thái.
Người bình dân vốn là kẻ quê mùa, mộc mạc, cần cù, chất phác. Bản tính của họ xuất phát từ giá trị bản ngã, nên họ lúc nào cũng đề cao ý thức tự lực tự cường.
Chỉ có ý thức tự lực tự cường mới đưa con người đến đời sống tự lập và khinh thường lợi danh. Mọi cử chỉ nhân đạo của con người cũng từ lãnh vực ấy mà phát sinh.
Tuy nhiên, tự lực tự cường mới chỉ là quan điểm nhân sinh của người bình dân, tức là ý thức để tranh đấu cho lẽ sống, chứ chưa phải phương thức thực hiện. Phương thức thực hiện của họ vẫn là cần cù, nhẫn nại. Nếu không cần cù, nhẫn nại thì chẳng bao giờ đạt đến ý hướng tự lực tự cường được.
Tinh thần nhẫn nại của họ phát hiện bàng bạc trong các câu ca dao, như :
Ai ơi, đã quyết thì hành,
Đã đốn thì vác cả cành lẫn cây.
Ai ơi, đã quyết thì hành,
Đã đan thì lận tròn vành mới thôi.
Ai ơi, chẳng chóng thì chầy,
Có công mài sắt, có ngày nên kim.
Dĩ nhiên cần cù, nhẫn nại là một ý thức đấu tranh tích cực trong đời sống con người ! Người đời ai lại không muốn rảnh rang mà được ăn sung mặc sướng. Nó chính là cái bả mồi để đưa loài người vào tròng xâu xé, chém giết nhau… Người bình dân muốn tránh cái bả mồi ấy tất phải dùng tâm tư mình chống lại sự cám dỗ của dục vọng. Đó là một khó khăn. Tuy nhiên, người bình dân vốn có phương tiện hơn các từng lớp người khác, vì họ là kẻ cùng khổ, sống trong cực nhọc đã quen, sự hoành hành của dục vọng không còn có hiệu lực mạnh mẽ trong bản ngã họ. Cho nên, họ tự phụ là phải :
Dù ai nói đông, nói tây,
Thì ta vẫn vững như cây giữa rừng.
Dù ai nói ngửa nói nghiêng,
Lòng ta vẫn giữ như kiềng ba chân.
Đây ta như cây trên rừng,
Ai lay không chuyển, ai rung không sờn.
Với ý thức tự cường, nhẫn nại ấy, tâm hồn người bình dân trở nên thanh thản trước sóng gió vật chất, và cuộc sống của họ trở nên thanh nhàn trong đời mộc mạc của họ.
Đây, ta hãy nghe từ tâm tư họ thoát ra :
Cóc kêu dưới vũng tre ngâm,
Cóc kêu mặc cóc, tre giầm mặc tre.
Hỡi những con cóc kia ! Tiếng kêu của các ngươi không làm lay chuyển được vũng tre ngâm, cũng như mồi danh lợi không làm xao xuyến được lòng người bình dân. Tuy cùng sống chung trong một dòng đời, nhưng hai bên hình như tách biệt. Chính vì thế mà cuộc sống họ trở nên ung dung tự tại :
Mặc ai lưới, mặc ai te,
Ta cứ thủng thẳng kéo bè nghinh ngang.
Phải cho bền chí câu cua,
Mặc ai câu trạnh, câu rùa mặc ai.
Thủng thẳng mà lượm hoa rơi,
Ở cho có chí hơn người trèo cao.
Ai ơi giữ chí cho bền,
Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai.
Họ không cần thiết đua chen, bay nhảy, đối với họ, khi đã quan niệm đem sức mình sống với sức mình thì dù có bay nhảy cũng chỉ bằng thừa. Họ bảo :
Trời sinh voi sinh cỏ.
Nghĩa là trời đã sinh con người có sức lao động tất nhiên sức lao động ấy là tài sản để nuôi con người. Lòng họ không quá bận rộn, lo âu về viễn tượng một cuộc sống phù hoa. Vì vậy mà họ, và chỉ họ mới nói lên được tiếng nói của vũ trụ.
Còn trời còn nước còn mây,
Còn ao rau muống, còn đầy chum tương.
Dù gặp sóng gió trong đời, họ vẫn thản nhiên :
Chớ thấy sóng cả mà lo,
Sóng cả mặc sóng, chèo cho có chừng.