Nói đến văn học sử là đề cập sự diễn biến của tâm tư con người trong lẽ sống trải qua nhiều thế hệ.
Sự diễn biến ấy được giao tiếp, trao đổi, tìm một tinh lý, rồi ghi lại những kinh nghiệm có liên hệ đến cuộc sống, tạo thành dòng lịch sử của nhân loại.
Trong vạn vật, chỉ con người là sinh vật có tâm tư, có ngôn ngữ, chỉ nhân loại mới tạo được cho mình một dòng lịch sử văn học.
Vậy lịch sử văn học là sản phẩm của tư tưởng, mà tư tưởng con người là cái gì phức tạp, không thể dùng khoa học phân tích, minh định chiều hướng diễn biến một cách tuyệt đối được.
Tuy nhiên, với sự cố gắng, các nhà làm văn học sử từ trước đến nay đã căn cứ vào trạng thái biến động của lịch sử chính trị để xác định trạng thái biến động của lịch sử văn học.
Dĩ nhiên, việc xác định như vậy tương đối hợp lý, vì trên thực tế, khi đi sâu vào sinh hoạt của loài người, chúng ta không thể phủ nhận tâm tư con người chịu ảnh hưởng của cuộc sống. Như thế cho ta một nhận định, văn học là phản ảnh của sinh hoạt xã hội, mà văn học sử là lịch trình đúc kết của tâm tư qua mọi biến cố xã hội.
Mặt khác, các nhà văn học sử lại phân chia văn học ra hai dòng : dòng bác học và dòng bình dân.
Tại sao có sự phân chia ấy ?
Vì theo nhận định trên, văn học là sản phẩm của tâm tư phản ảnh theo mọi diễn biến của chế độ xã hội, dù trải qua bao nhiêu biến cố, lịch sử vẫn bao gồm hai lớp người chính yếu là : quí tộc và bình dân.
Chính sự cách biệt giữa hai lớp người quí tộc và bình dân đã tạo ra hai dòng tâm tư riêng rẽ nhưng vẫn song hành với nhau.
Dòng tâm tư quí tộc được mệnh danh là nền văn học bác học, phát xuất từ trạng thái tư tưởng của lớp người thống trị, mang tính chất phong lưu, đài các. Tuy là của chung của một lớp người, song thường phản ảnh riêng rẽ từng nhóm nhỏ, tượng trưng cho cá biệt hơn là nhất thể (cái riêng trong cái chung). Bởi vậy nền văn học bác học ít trung thực với dân tộc tính, địa phương tính. Mặt khác, lớp người quí tộc là hạng giàu sang, rảnh rỗi, có đủ phương tiện học vấn, có đủ khả năng tìm hiểu tư tưởng của mọi dân tộc khác, do đó nền văn học bác học thường chịu ảnh hưởng tư tưởng bên ngoài mà trở thành đồng hóa, hoặc lai căn, tức là thoát ly hay xa lìa dân tộc tính.
Trái ngược với văn học bác học, nền văn học bình dân phản ảnh tâm tư đại đa số quần chúng nghèo khổ, dốt nát, tiếng nói của họ là tiếng nói chung của lớp người cùng sống trong một hoàn cảnh, mà cũng là tiếng nói chân thành nhất của mỗi dân tộc trong sinh hoạt xã hội.
Nhiều nhà nghiên cứu đã đồng quan điểm cho rằng muốn nhận định nếp sống, phong tục và tập quán của một dân tộc không gì bằng khảo sát nền văn học bình dân của mỗi nước.
Ý niệm ấy rất đúng. Tuy nhiên các quốc gia trên thế giới ngày nay hầu như ít lưu tâm đến nền văn học bình dân, các sách khảo cứu về văn học bình dân cũng rất ít ỏi, bởi lẽ lớp người bình dân thiếu phương tiện phát triển văn học của họ, còn lớp người trí thức lại đang vươn mình trước ánh sáng văn minh vật chất, khai thác những phù phiếm, hào hoa, không lưu tâm đến bản sắc dân tộc, mà lẽ ra trong địa hạt tâm tư ta càng thấy rõ tính chất của dân tộc ấy.
Ở Trung-hoa, thời chiến quốc, Khổng-Tử là một chính trị gia, sau khi chu du khắp xứ, trở về nước Lỗ san định quyển Kinh Thi.
Kinh Thi là một bộ sách gồm 300 bài luận về phong, nhã, tục ; trong ấy một phần lớn trích dẫn những tục ngữ, phong dao của lớp dân giả, ghi lại tiếng nói chân thật của giai cấp bị trị, thống khổ trong thời phong kiến. Khổng-Tử muốn mượn tiếng nói trong sạch của lớp người đứng ngoài vòng danh lợi để xây đời, để cải hóa xã hội đẳng cấp.
Một trong những chủ điểm của đạo Khổng là dùng tình cảm để cải thiện con người. Khổng-Tử tin rằng con người có thể nhờ sự giáo hóa mà sửa đổi được tính tình, vươn đến cõi thiện, mà tiếng nói bình dân là tiếng nói đích thực của tâm tư con người gần với thiên nhiên. Cho nên Khổng-Tử đặt giá trị Kinh Thi ngang hàng với những sách giáo dục khác về triết học.
Ở Pháp, P. Lafargue, một nhà phê bình nổi tiếng đã nói về văn chương bình dân như sau : « Một bài ca bình dân thường thường là do người có danh nào đó khẩu chiêm ra, rồi dần dần qua miệng các người vô danh khác sửa chữa một cách rất ngẫu nhiên. Không riêng một ai in bản sắc mình vào đó, mà tất cả mọi người đều có dự phần vào. Tác giả đích thực của bài ca chính là dân gian. Dân gian hát nó lên, truyền cho nhau, và cứ sửa chữa dần dần cho đến khi nào bài ca phản chiếu đúng hẳn tâm lý của họ thì mới được nhận là hoàn toàn. »
Như vậy, P. Lafargue cũng cùng một ý niệm cho văn học bình dân là nền móng tâm tư của dân tộc.
Khi đã nhận định văn học bình dân là cơ cấu tư tưởng căn bản của dân tộc thì tài liệu văn học bình dân chính là tài liệu xã-hội-học rất quí. Hoặc nó vẽ lại một phong tục, hoặc nó đánh dấu một trạng thái kinh tế, hoặc nó lưu truyền một lễ nghi tôn giáo, nhất là bộc lộ tình cảm thiên nhiên của con người… tất cả những tác dụng ấy đều giúp chúng ta hiểu được cuộc sinh hoạt của xã hội ở các thời kỳ đã qua. Chúng ta có thể căn cứ vào văn học bình dân của mỗi nước để tìm lại nguồn sống chung đã mai một trong quá khứ hay những trạng thái sinh hoạt chẳng bao giờ tái diễn được nữa.
Riêng ở Việt-nam từ xưa, nền văn học bình dân cũng được nhiều học giả chú ý.
Ngược dòng thời gian, chúng ta thấy những câu vè, câu hát, tục ngữ, phong dao… được rải rác ghi chú, hoặc trích dẫn trên các báo chí. Và trước khi có chữ quốc ngữ, các nhà nho học cũng đã dùng chữ nôm ghi nhận những mẩu tâm tư của lớp người bình dân qua các bài khảo lục. Như vậy, trong thời gian chưa có văn tự, nền văn học bình dân Việt-nam đã phát hiện qua ngôn ngữ bằng cách truyền khẩu, lưu trữ trong ký ức mọi người, và nó chính là nguồn gốc văn học của dân tộc Việt-nam vậy.
Nhà bình luận Trương-Tửu trong quyển Kinh Thi Việt-Nam có một đoạn nhận xét ở lời mở đầu :
« Phong dao Việt-nam rất có thể là linh hồn Việt-nam xưa, nếu ta biết nghiên cứu nó một cách hợp lý và thông minh. Nếu quả dân tộc Việt-nam có một đặc tính khác biệt hẳn với những dân tộc khác – nhất là dân Trung-hoa – thì đặc tính ấy, theo ý tôi, ta có thể tìm thấy được bằng cách nghiên cứu những ca dao, cái tiếng nói trung thành của dân gian. Đọc hết những ca dao truyền tụng lại ta sẽ thấy nổi bật hẳn lên cái tinh thần độc lập của dân ta và cái nỗ lực liên tiếp của tổ tiên ta đã thực hành trong bao nhiêu thế kỷ để tránh nạn Trung-quốc-hóa. Nhờ sự nỗ lực phi thường này mà hiện giờ chúng ta có thể tự hào rằng chúng ta vẫn giữ được trong cõi ý thức một tinh túy Việt-nam, cái tinh túy mà văn hóa Trung-quốc chỉ có thể kết tinh lại chứ không thể nào thôn tính được.
Sở dĩ ta đã bắt chước các chế độ chính trị và học thuật Trung-quốc là chỉ bởi chế độ và học thuật này rất thích dụng cho một xã-hội nông nghiệp và quân chủ (tức là xã hội Việt-nam thời xưa). Nhưng chế độ chính trị và học thuật nhập cảng ấy đã phải biến cải đi rất nhiều cho thích hợp với tinh thần dân chúng Việt-nam. Bởi vì chúng ta không giống người Trung-quốc. Chúng ta là một khối tinh thần thành lập từ trước thời Bắc thuộc. Khối tinh thần ấy gặp sự xâm lăng của văn hóa Trung-quốc đã chồm dậy, phản kháng mãnh liệt, làm cho các vua quan tuy biết là văn hóa Trung-quốc củng cố được địa vị mình mà vẫn phải châm chước cho hợp với bản chất riêng của dân tộc Việt-nam. Khối tinh thần dân tộc đó đã may mắn được nhiều điều kiện kinh tế, lịch sử và địa dư riêng của xứ Việt-nam ủng hộ cho thắng đoạt nổi được cái tai nạn Trung-quốc-hóa ».
Lời nhận xét trên đây của ông Trương-Tửu tuy không hoàn toàn trái ngược với nhận định của chúng tôi, song luận về tính chất căn bản của nền văn học bình dân Việt-nam thì có chỗ khác.
Chúng tôi đồng ý rằng trải bao nhiêu thế kỷ bị người Trung-hoa đô hộ, dân tộc Việt-nam mang dòng huyết thống chống xâm lăng, chống đồng hóa, chống họa diệt chủng, nhưng đó cũng là tâm trạng chung của các dân tộc trên thế giới.
Bất luận dưới một áp lực nào, phản ứng trước tiên thường phát xuất từ lớp bình dân, vì họ là khối người chịu trực tiếp sự đè nén. Chế độ khắc nghiệt sẽ tạo cho họ những bất mãn, âm ỉ, tích tụ, và nổ tung.
Ngay ở các nước độc lập, không bị ngoại bang đô hộ, lớp người bình dân vẫn luôn luôn có tiếng nói bất bình, tiếng nói cố hữu của tâm tư đa số quần chúng.
Như vậy, tính chất căn bản của nền văn học bình dân không phải chỉ chống ách đô hộ của ngoại bang, mà chống tất cả những gì áp bức, bất công của lớp người thống trị trong xã hội. Nói cách khác, nó là những mảnh tâm tư của lớp người bị chế độ xã hội chà đạp, tước đoạt quyền sống của họ.
Cho nên, nếu chúng ta quan niệm theo Trương-Tửu trong Kinh Thi Việt-nam, bảo rằng : « Nền ca dao Việt-nam đã kết tinh được cái tinh thần chống Nho-giáo rất mạnh của dân chúng Việt-nam, và đã vẽ lại rõ ràng các điều kiện kinh tế giúp cho tinh thần ấy phát triển và chiến thắng… »
Thì quả thật chưa đúng với tính chất căn bản. Nền văn học bình dân Việt-nam không chống Nho-giáo, hay nói rộng hơn, không chống một giáo lý nào cả. Nó chỉ chống những bất công, áp bức, lừa phỉnh, thiếu thực tế, trái với bản chất tự nhiên của con người. Cũng vì vậy mà tiếng nói bình dân không bị giáo điều mê hoặc, cũng không bị danh lợi ràng buộc để phải tự dối mình.
Thật vậy, lớp người bình dân dù sống trong hang cùng ngõ hẻm, hay gần với thửa ruộng nương dâu, trời đất, thánh thần là những linh tượng trong tâm tư được họ kính trọng, tôn thờ, thế mà trong văn chương bình dân chúng ta lại thấy nhan nhản những lời châm biếm, trào lộng. Như vậy không có nghĩa là lớp người bình dân chống lại tín ngưỡng, mà chính họ chống lại những kẻ mang mặt nạ dối đời.
Lịch sử văn học bình dân Việt-nam đối với Nho giáo cũng thế. Nho-giáo không phải là đối tượng đả kích của giới bình dân, đối tượng chính yếu của họ là lớp người thống trị trong chế độ phong kiến đã đội lốt Nho-giáo khống chế xã hội Việt-nam.
Xác định tính chất căn bản như vậy chúng ta có thể quả quyết rằng trong xã hội loài người ngày nào còn bất công, áp bức thì ngày nào đó còn lớp người bình dân. Mà lớp người bình dân còn thì nền văn học bình dân vẫn tồn tại với mọi tiến triển trong lịch sử văn học.
Khảo cứu về văn học bình dân ở nước ta có thể kể đến những nhà Nho học thời xưa như các ông :
- Trần-tất-Văn soạn tập An-nam phong thổ thoại.
- Vương-duy-Trinh soạn tập Thanh-hóa quan phong sử.
- Ngô-giáp-Đậu soạn tập Đại Nam quốc túy.
- Việt-nam phong sử (khuyết danh).
Đó là những tập sách viết bằng chữ Nôm. Còn có sách chữ Nôm dịch ra chữ Hán như :
- Nam phong giải trào của cụ Liễu-am Trần tiên sinh và Ngô-hạo-Phu.
Sách chữ Nôm dịch ra chữ quốc ngữ như :
- Quốc phong thi tập hợp thái của cụ Mộng-liên-đình Hi Lượng-Phủ.
- Nam quốc phương ngôn, tục ngữ bị lục (khuyết danh).
Lại có sách quốc ngữ dịch ra tiếng Pháp như :
- Tục ngữ An-nam của ông Triệu-hoàng-Hòa.
Gần đây, lúc chữ quốc ngữ nước ta được bành trướng và thông dụng, các học giả tên tuổi đương thời cũng đã chú ý đến việc khảo cứu văn học bình dân :
- Ông Phạm-quang-Sán soạn tập Nam ngạn trích cẩm.
- Ông Nguyễn-bá-Thời viết Câu hát và hò góp.
- Ông Nguyễn-công-Chánh viết Câu hò xay lúa
- Ông Hoàng-minh-Tự viết Câu hát huê tình.
- Ông Đinh-thái-Sơn viết Câu hát huê tình.
- Ông Đoàn-duy-Bỉnh viết loạt bài Gương phong tục trong Đông-dương tạp chí.
- Ông Phạm Quỳnh viết bài Người nhà quê Bắc-kỳ xét qua những ca dao bình dân.
- Ông Đào-duy-Anh viết bài Nền học quốc ngữ trong Văn Lang tạp chí.
- Ông Nguyễn-văn-Ngọc soạn tập Tục ngữ phong dao xuất bản năm 1928.
- Ông Phan-Khôi viết loạt bài khảo cứu Văn học nữ giới trong Phụ-nữ Tân-văn năm 1930.
- Ông Trương-Tửu xuất bản Kinh thi Việt-nam 1940.
- Ông Nguyễn-văn-Mại viết Việt-nam phong sử.
- Ông Trọng-Toàn xuất bản Hương hoa đất nước 1949.
- Ông Nguyễn-trọng-Lực viết Tiếng nói của đồng ruộng, Vĩnh Bảo Sài gòn xuất bản năm 1949.
- Ông Thuần-Phong viết Ca dao giảng luận năm 1957 Á Châu xuất bản
- Ông Hoa-Bằng viết Dân tộc tính trong ca dao, Vỡ Đất Hà-nội xuất bản năm 1952.
- Ông Trọng-Toàn viết Câu hát Việt-nam, nhà in Nguyễn văn Huấn Sài Gòn xuất bản 1953.
- Ông Cố-bửu-Anh viết Bạn gái trong ca dao, Văn Hóa Sài-gòn xuất bản năm 1954.
- Ông Nguyễn-kế-Truyền viết Tục ngữ phương ngôn, Bạc-liêu (Nam-phần) 1955.
- Ông Thanh-Lãng viết Văn chương bình dân, Văn Hợi Sài-gòn xuất bản năm 1957.
- Ông Hoàng-trọng-Miên viết Văn chương truyền khẩu ở quyển Việt-nam văn học toàn thư do Quốc Hoa xuất bản 1959.
- Ông Đào-văn-Hội viết Phong tục miền Nam qua mấy vần ca dao, Khai-trí Sài-gòn xuất bản năm 1961.
- Ông Dương-đình-Khuê viết La littérature populaire Vietnamienne năm 1967.
Ngoài ra còn có những sách soạn theo chương trình giáo khoa, trong đó cũng có nói đến văn học bình dân.
Tuy nhiên, việc làm ấy cũng chỉ trong vi phạm lược luận và sưu tập chứ chưa đặt thành đường hướng khảo sát qui mô khả dĩ làm nền tảng cho văn học sử.
Có lẽ vì vậy mà các nhà trí thức Việt-nam nóng lòng trước kho tàng quí báu bị mất dần theo thời gian.
Ông Đào-duy-Anh trong tạp chí Văn-Lang viết : « Trong văn hóa cũ của ta, tôi thấy về phần văn hóa bình dân còn nhiều điều khả thủ, mà trong văn hóa bình dân thì tục ngữ, ca dao là phần trọng yếu, cho nên tôi quí trọng tục ngữ và ca dao. Nếu ta nhận thấy rằng muốn kiến thiết văn hóa mới ta không thể không nghiên cứu văn hóa cũ thì sự nghiên cứu tục ngữ và ca dao ta phải cho là cần thiết. »
Chia thành văn hóa cũ mới, ông Đào-duy-Anh chưa minh định rõ rệt tính chất tiến triển của hai nền văn học bình dân và bác học. Có lẽ ông cho rằng những phong tục cổ truyền, những tâm tư và nếp sống di lưu từ ngàn xưa là sản phẩm của nền văn hóa cũ, còn những cải cách du nhập từ nước ngoài vào là sản phẩm của nền văn hóa mới. Nói cách khác, nền văn hóa mới là sự tiếp thu ảnh hưởng ngoại lai, nền văn hóa cũ là tính chất cố hữu của dân tộc.
Nếu quan niệm như vậy tức là có sự đồng hóa giữa hai dòng lịch sử văn học, mà thực tế, theo chúng tôi nghĩ, nền văn học bình dân và bác học chẳng thể nào có sự đồng hóa được. Tính chất mỗi nền văn học tuy song hành và có biến đổi theo thời gian nhưng vẫn giữ đường nét riêng biệt. Do đó không thể quan niệm hai nền văn học bằng tính chất mới và cũ.
Cũng để góp phần vào việc xây đắp nền văn học bình dân, ông Nguyễn-văn-Ngọc đã sưu tầm trên sáu nghìn câu tục ngữ, phong dao in thành hai tập sách vào năm 1928, và trong lời tựa có viết :
« …Ngày nay, ai là người đã lưu tâm đến quốc văn, quốc túy mà không lo sợ rằng những câu lý thú tối cổ của ông cha để lại, tức là cái kho vàng chung của cả nhân loại, nếu không chịu mau mau thu nhặt, giữ gìn lấy, thì rồi tất mỗi ngày một sai suyển, lưu lạc đi thực đáng tiếc.
Cho nên chúng tôi quả không dám kén chọn, lựa lọc, san thi gì. Chúng tôi chỉ vụ thu thập cho được nhiều câu không phân biệt thế nào là thành ngữ, tục ngữ, lý ngữ, sấm ngữ, mê ngữ, phương ngôn, đồng dao, ca dao hay phong dao gì cả. Đối với việc sưu tập bây giờ thiết tưởng ta còn phải quí hồ đa trước rồi nhiên hậu mới có nơi khảo cứu mà quí hồ tinh được. »
Với dụng ý ấy, ông Nguyễn-văn-Ngọc sắp xếp những câu tục ngữ, phong dao Việt-nam theo thứ tự mẫu tự La-tinh, cho nên việc làm của ông chỉ là công việc góp nhặt để bảo tồn.
Trước công trình sưu tập nói trên, khi nhìn vào số lượng trong hai tập Tục ngữ phong dao ấy, ông Trương-Tửu cho đó là vật liệu đủ để cấu tạo nền móng cho ngôi nhà văn học Việt-nam. Ông viết :
« Hai tập Tục ngữ Phong dao của Nguyễn văn Ngọc tiên sinh là đống vôi cát, gạch ngói tàm tạm đủ cho ta dựng một Kinh Thi Việt-nam sáng sủa.
Trước đây hai nhà học giả Phạm Quỳnh và Phan Khôi cũng đã có ý xây dựng ấy. Một ông viết cuốn « Người nhà quê Bắc-kỳ xét qua những ca dao bình dân », một ông soạn tập « Nghiên cứu sự hoạt động của phụ nữ Việt-nam hồi xưa » căn cứ theo phong dao tục ngữ. Cả hai ông đều đã chứng thực rằng với những câu thơ vụn vặt kia ta có thể khôi phục lại được một quan niệm hay một cuộc sống không còn nữa.
Nhưng công việc của mỗi ông chỉ là công việc riêng của mỗi người thợ làm lấy khéo ở một địa hạt nho nhỏ. Thiếu hẳn một bản đồ kiến trúc duy nhất để làm đích cho từng người thợ giỏi, nên sự nỗ lực đã có, sự khéo léo đã có, mà căn nhà vẫn chưa thành… »
Với nhận xét ấy, ông Trương-Tửu dùng công trình sưu tập của ông Nguyễn-văn-Ngọc, phỏng theo lối san định Kinh Thi của Khổng-Tử bên Trung-hoa, soạn thành quyển Kinh Thi Việt-nam.
Dĩ nhiên việc làm của ông Trương-Tửu là một cố gắng trong việc bồi đắp nền văn học nước nhà. Nhưng theo nhận định của chúng tôi thì bộ Kinh Thi của Khổng-Tử làm ra với tính cách một nhà đạo-đức-học, sưu tập những kinh nghiệm sống trong dân gian đúc thành những giáo lý răn đời, uốn nắn cuộc sống loài người đến cõi thiện.
Mang tính chất ấy, bộ Kinh Thi Trung-hoa nặng màu sắc giáo dục hơn là sử liệu – chúng tôi muốn nói tinh thần vô tư của sử học, cho nên mặc dù Kinh Thi Trung-hoa chứa đựng tâm tư của lớp người bình dân mà thực chất chưa phản ảnh được căn bản sinh hoạt của lớp người bình dân Trung-hoa.
Còn Kinh Thi Việt-nam của ông Trương-Tửu tuy có mang ít nhiều sắc thái sinh hoạt của dân gian, song lối trình bày cũng như tinh thần khảo cứu nặng nề mặt chính trị hơn xã hội. Sự thiên lệch ấy làm cho tinh thần khảo cứu không được toàn diện, chỉ nói lên một khía cạnh tâm tư của đám bình dân mất nước bị nô lệ. Mặt khác, quyển Kinh Thi Việt-nam của ông soạn thảo quá ít (246 trang nhỏ), mà gần nửa quyển dành cho việc cắt nghĩa Kinh Thi của Khổng-Tử rồi, thì Kinh Thi Việt-nam của ông còn gì để nói nữa. Như vậy tức là chúng ta vẫn chưa tạo nổi nền móng cho ngôi nhà văn học bình dân.
Điều đáng chú ý là vào thời tiền chiến (thế hệ 1932-1945) trong lúc phong trào lãng mạn tràn ngập từ Âu sang Á, ở Việt-nam hai nền thơ cũ, thơ mới nổi lên chống đối nhau mãnh liệt, thì ngay lúc ấy lại có nhiều thức giả lưu tâm đến văn học bình dân. Trạng thái ấy chính là một đổ vỡ của nền văn học bác học, mà cũng có nghĩa là một xáo trộn trong hệ thống tâm tư của lớp người quí tộc. Trong đổ vỡ, người ta đi tìm cái tinh túy tồn tại là quốc hồn. Nhờ vậy, nền văn học bình dân được xác định giá trị.
Trong báo Phụ nữ tân văn số 181 ra ngày 15-12-1932, ông Phan Khôi viết một loạt bài về Văn học bình dân để thương xác cùng các học giả trong nước. Ông viết :
« Trước đây, hễ nói đến văn học thì chỉ biết là văn học chớ có nói đến văn học bình dân bao giờ, bởi vì đã là bình dân thì hầu như mất cả mọi sự, một chút quyền lợi gì trong tay cũng không có nữa là văn học.
Song xét ra thì nước nào cũng vậy, nền văn học bao giờ cũng bắt đầu vun đắp lên từ hạng bình dân.
Thật vậy, văn học của một nước hầu hết là do lời ca dao của dân gian mà ra, cho nên bình dân là hạng có công lớn đối với văn học.
Từ ngày dân quyền thạnh hành ở các nước thì lớp người bình dân đã khôi phục lại chủ quyền, còn khôi phục luôn cả nền văn học của họ nữa. Các bậc văn hào thế giới gần đây nhiều người đã có khuynh hướng về văn học bình dân.
Bởi vậy, ngày nay là ngày hai nền văn học bình dân và quí tộc đang tranh với nhau. Mà hai nền văn học ấy cách biệt nhau lắm, ta có thể nói nền văn học bình dân là thật thà, còn nền văn học quí tộc là giả dối.
Cho nên, tác phẩm văn học bình dân là cái gương phản chiếu bộ mặt xã hội. Muốn tìm sử liệu của một thời đại nào, hay muốn biết rõ nhân tâm, phong tục của một nước nào không gì bằng theo dõi văn học bình dân vậy… »
Trong báo Tao đàn số 69 ra ngày 3-10-1942, Lưu trọng Lư viết :
« Nước ta là một trong những nước có phong tục thuần nhã và trang nghiêm vào bậc nhất. Ảnh hưởng Khổng-giáo với một luân lý chặt chẽ đã đi sâu vào tâm hồn khiến mỗi chúng ta trở nên những trang văn nho lễ độ và đài các.
Văn chương vì vậy mà lúc nào cũng đượm vẻ nghiêm nghị, thận trọng. Các văn nhân, thi sĩ trước nhất là một nhà đạo đức.
Nhưng phải chăng đó là tính chất đặc biệt Việt-nam ?
Không, văn chương ấy là do một số thượng lưu được thấm nhuần những lời lẽ của thánh hiền. Họ là số ít.
Ta phải xuống thấp hơn, đến những hạng người mà sách vở là non sông, cây cỏ, những người chỉ được học trong quyển sách thiên nhiên, đất đai, đồng ruộng là nơi họ sống.
Tôi muốn nói đến bình dân. Chỉ có bình dân là những hình ảnh rõ rệt của một dân tộc. Chỉ ở đó ta mới nhận thấy tâm hồn chất phác, tự nhiên nảy nở, không bị ràng buộc bởi những tục lệ quá cầu kỳ. Ở đó họ ca tụng ái tình, ta thấy họ biết yêu mà không giấu giếm cõi lòng.
Cả một văn chương chân thật cảm động, súc tích trong những câu ca dao mộc mạc mà bà mẹ hát ru con hay đứa mục đồng nghêu ngao trên lưng trâu giữa những lề ruộng um cỏ, trong những câu hò trên sông, trong những điệu hò khoang mà ta đã nghe trong những cuộc giã gạo dưới trăng, giữa những làng quê bình lặng, hay trong những truyện cổ tích mà ta đã được nghe kể lại.
Dù ta có khinh họ, ta vẫn phải công nhận rằng họ không dối lòng họ. Việc gì phải che đậy cái không đáng che đậy. »
Trong Văn học tuần san số 4 ra ngày 1-12-1934, ông Hoàng Tân Dân viết :
« Gây dựng văn hóa bình dân là nhiệm vụ lớn của tất cả các bạn thanh niên ngày nay. Lớp người bình dân phải có một tinh thần đặc biệt, thích hợp với quyền lợi mình, để giúp cải tạo chế độ đương thời được bình đẳng, thiện mỹ.
Phần đông các nước, như ở Pháp, trong nhóm trí thức tỉnh ngộ, người ta đều tìm cách phổ biến văn hóa bình dân, hoặc mở trường dạy, hoặc viết sách vở, báo chí, nói lên quyền lợi thiết yếu của những người nghèo khổ ấy mới là nguyên động lực tiến hóa của xã hội sau này. »
Trong Tiểu thuyết thứ bảy số 43 ra ngày 13-3-1935, Ông Thiếu Sơn viết :
« Nếu hỏi « Bình dân » là gì thì chắc ai cũng hiểu cả rồi. Nhưng muốn hiểu bình dân một cách thấm thiết và cảm động hơn, tôi tưởng nên trích đoạn văn này của Jules Vallès, một nhà văn sĩ bình dân ở cuối thế kỷ thứ 19.
Người kia da thịt như thú, đội nón như kẻ chết treo, bị nước mưa tưới lạnh, bị hơi nóng hun đốt, đứng ở đầu xe lửa cản gió, nuốt tuyết, hoặc làm người coi máy, hoặc làm kẻ đốt than, đó là bình dân.
Con vật kia ở ngoài đồng ruộng, dựng đứng cái xương sống gầy mòn, vươn cái cổ gầy mà những thớ thịt nổi lên như những sợi dây, đem con mắt mờ tối để nhìn toa xe đang chạy, da xạm như một cái lá nho, hay trắng toẹt như một cây cải, đó là bình dân.
Kẻ râu ria xồm xoàm, vai rộng lớn, nón màu hắc ín, ở trên sông đang bình thản thả bè gỗ trôi xuôi, chìm ngập giữa khoảng trời nước, anh lái đò ướt tới bụng, lạnh tới tim, chính là bình dân.
Anh thợ kia mang đèn lên trán, chui qua hầm than cháy, mà bữa nọ bị chôn sống mất mười giờ ở dưới một cái mỏ sập. Người ta chỉ thấy anh bằng một cặp mắt trắng trong một cái lỗ tối đen, chính là bình dân.
Người thợ lợp ngói từ trên mái nhà ngã xuống như một con chim chết. Người thợ thổi kính mà sự sống như trộn lẫn vào với thủy tinh trong lò than hồng. Người thợ tiện mà bụi hồng làm cho ngạt thở. Người thợ vẽ mà thuốc độc trong màu cắn hại. Người làm bánh da xanh như bột mì… hết thảy đều là bình dân.
Hạng người anh hùng và khốn nạn, chịu đựng được với đủ cả mọi việc, chống lại với nước, với gió, với đất, với lửa, chính những hạng người đó mà chúng ta cần phải nói tới. »
Đoạn văn kiệt tác này, tôi dịch chưa hết ý và tinh thần, nhưng cũng đủ tả được những tình trạng sinh hoạt của lớp người bình dân.
Chính những trạng thái sinh hoạt đó là những tài liệu quí báu chẳng những đối với văn học bình dân mà đối với toàn thể văn học nước nào cũng vậy.
…Một mai, nếu có nhiều học giả chú ý đến hoạt động của lớp người bình dân thì nền văn học Việt-nam cũng sẽ bước một bước dài trên lịch sử tiến hóa…
Trên báo Loa ra ngày 25-7-1935, Trương-Tửu viết :
« Trong cái yên lặng giả dối của xã hội Việt-nam vẫn nấp một sự phá hoại. Dân tộc ta sống theo hai dòng sinh khí ngược nhau. Ở từng trên, các đồ đệ trung thành của đạo Khổng chịu hy sinh cá thể cho chế độ tổ truyền. Trái lại, ở từng dưới, đám bình dân quê mùa, thô lỗ, vẫn sống theo thiên nhiên.
Những câu ca dao, tục ngữ bông lơn, mách khóe – theo ý tôi – chính là sự trả thù của dân chúng đối với quan niệm nhân sinh khô khan của Nho-giáo.
Những câu ve vãn, bỡn cợt, những bài ca than thân trách phận, những khúc hát ai oán của cô thôn nữ lỡ làng tình duyên, những ngạn ngữ phóng đãng, táo bạo, ta thường nghe vẳng trong lũy tre xanh… tất cả đều chứng thực rằng dân chúng Việt-nam vẫn khao khát sống một cuộc đời đầy đủ hơn, lý thú hơn cái đời nhân đạo ngoài xã hội (của nhà nho). Họ có một tâm hồn rào rạt, biết cảm xúc tất cả những tình tha thiết của loài người. »
Trên đây chúng tôi chỉ trích dẫn vài đoạn văn trong những bài bình khảo của các học giả nổi tiếng đương thời. Ngoài ra, trong cuộc bút chiến trên báo chí còn rải rác những ý kiến có tính cách cổ xúy việc khảo cứu văn học bình dân, lấy đó làm nền tảng cho quốc học Việt-nam.
Nói đến quốc học, chúng tôi tưởng cũng nên nêu lại quan điểm của một số học giả nước ta gần đây.
Quốc học là gì ? Thực chất ra sao ?
Đó là vấn đề được nêu lên vào đầu năm 1930.
Người đầu tiên đưa ra danh từ « quốc học » lúc lấy là ông Sở-Cuồng Lê Dư. Ông có soạn một số sách, lấy tên là Quốc học tùng san. Loại sách ông biên soạn đều đề tên là Sở-Cuồng văn khố quốc học tùng san.
Cuốn sách khảo cứu đầu tiên của ông là cuốn Bạch-vân am thi văn tập, trong đó ông sưu tầm, chú thích những dật sử và thi thơ, sấm ký của ông Trạng-Trình Nguyễn-bỉnh-Khiêm. Tiếp theo là tập Vị-xuyên thi văn tập. Cả hai có lời giới thiệu của nhà xuất bản Nam Ký và lời tuyên bố của soạn giả.
Đây là lời giới thiệu của nhà xuất bản Nam Ký : « Quốc hồn ở đâu ? Ở tại tư tưởng. Tư tưởng phát ra là văn chương. Văn chương của các nhà học giả của ta từ xưa đến nay chính là quốc hồn ở đấy. Ông Sở-Cuồng là một nhà dốc chí hiếu học, phát huy ánh văn chương riêng của nước nhà, ngót mười năm nay ở trường Bác-cổ, lưu ý sưu tập những tài liệu thuộc về quốc văn, quốc sử, biên tập thành bộ Quốc học tùng san kể hơn một trăm tập, nào là lịch sử, nào là văn chương, tài liệu như núi như non, từ tảo như hoa như gấm, đủ chứng minh kho văn học nước ta phong phú như vậy. »
Và đây là lời tuyên bố của soạn giả Sở-Cuồng : « Bản văn khố muốn lấy sức mọn vun bồi cái cơ sở nền quốc học, phát huy văn chương của nước nhà, ra công sưu tập văn chương và lịch sử của các nhà học giả xưa, biến thành bộ Quốc học tùng san này theo lối khảo cổ, cố thu thập được nhiều tài liệu cho tiện về sau các nhà văn học muốn khảo cứu về vấn đề gì đều sẵn đủ cả, cho nên cái nội dung nó khác với các quyển sách giáo khoa và các quyển thi văn tinh tuyển khác. Xin độc giả lượng xét cho. »
Việc làm của ông Sở-Cuồng Lê Dư bị hai ông Phạm Quỳnh và Trịnh-đình-Rư phản đối.
Trịnh-đình-Rư viết bài phê bình Bạch-vân am thi văn tập, bác bỏ danh từ « quốc học » và phủ nhận cả nền quốc học Việt-nam.
Theo ông Trịnh-đình-Rư thì : « Nước Việt-nam từ xưa đến nay chưa có gì gọi là quốc học cả, chưa thấy người nào dựng ra một học thuyết gì to tát. Nếu xét đến lịch sử các nhà học giả Đông Tây mà nghĩ đến nền quốc học nước nhà thì tự lấy làm thẹn. »
Ông Phạm Quỳnh cũng cùng một ý ấy, ông viết trong Phụ nữ tân văn số 67 ra ngày 28-8-1936 : « Nói đến học thuyết chân chính thì cổ lai nước ta đã có gì ? Không dám nói bạc tiền nhân, nhưng thật không có người nào vậy. Tương truyền lý học thâm thúy của cụ Chu-An và cụ Trạng-Trình, nhưng các cụ được điều gì trứ thuật, được những sách gì có ích ? »
Tiếp đến, ông Phan Khôi cũng cùng một ý với Trịnh-đình-Rư và Phạm Quỳnh, phủ nhận công việc làm của ông Sở-Cuồng Lê Dư, không nhìn nhận nước Việt-nam có nền quốc học.
Ông Phan Khôi định nghĩa danh từ « quốc học » trong Phụ nữ tân văn số 94 ra ngày 6-8-1931 : « Quốc học là một danh từ mà cũ mới có nghĩa khác nhau. Hồi trước ta nói « quốc học » tức là cái trường học cho cả nước. Như « Trường Quốc-học » ở Huế là lấy nghĩa đó. Còn chữ « quốc học » ngày nay thường dùng là chỉ về cái học riêng của một nước, có vẻ đặc biệt, có chỗ khác với nước ngoài. Vậy khi nói đến « quốc học » cũng như nói đến « quốc phục » là y phục riêng của một nước, nói đến « quốc kỳ » là hiệu cờ riêng của một nước. Chữ « quốc học » tôi muốn nói trong bài này với nghĩa ấy… »
Ông Phạm Quỳnh cũng định nghĩa « quốc học » trong Phụ nữ tân văn số 104 ra ngày 15-10-1931 : « Quốc học là môn gồm những phong trào về tư tưởng, học thuật trong một nước, có đặc sắc với các nước khác, và có kết tinh thành ra sự nghiệp trước tác lưu truyền trong nước ấy và ảnh hưởng đến các học giả trong nước ấy. »
Như vậy Phạm Quỳnh cũng như Phan Khôi đều quan niệm « quốc học » là một học thuật tư tưởng phát xuất riêng rẽ từ một dân tộc. Học thuật ấy phải dựa trên một học thuyết căn bản, mà so với các nước thì Việt-nam ta chưa có.
Bởi vậy, trong báo Phụ nữ tân văn số 105 ra ngày 22-10-1931, ông Phạm Quỳnh có lời than : « Anh hùng ta có, liệt nữ ta có, danh sĩ ta có, cao tăng ta có, nhưng trong cõi học nước ta kim cổ chưa có người nào có tài sáng khởi, phát minh ra những tư tưởng mới, thiết lập ra những học thuyết mới, đủ cái vẻ độc lập « một nhà » đối với « các nhà » khác, như « Bách khoa chư tử » bên Tàu ngày xưa… »
Theo ông Phạm Quỳnh thì cái học nước ta thời xưa chỉ là cái học mướn, cái học mướn ấy cũng chưa đến nơi đến chốn. Tổ tiên ta chỉ chú trọng đến cử nghiệp, cho nên rốt cuộc sau hàng ngàn năm, các cụ học hành mà con cháu ngày nay nhìn về các cụ chẳng tìm thấy gì gọi là học thuật tư tưởng đâu cả.
Cuộc bút chiến về « quốc học » khá sôi nổi, và trên mặt báo đã có những lời nói khích khí của đôi bên. Ông Sở-Cuồng Lê Dư đưa ra những lời lẽ chua chát trong Phụ nữ tân văn số 107 : « Ôi ! Sao các ông không xét đến sự thật tình hình học vấn nước nhà xưa nay mà đã vội mạt sát tiền nhân như vậy ?…Ôi ! Không căn cứ theo sách vở thì dễ nói bậy bạ, cho nên tôi thường có một câu cách ngôn rằng : Không biết pháp luật thì dễ nói ngang, không xem sách vở thì dễ nói càn… »
Trong lúc đó, ông Phạm Quỳnh và Phan Khôi cố đi ngược dòng lịch sử văn học, tìm kiếm nguyên nhân phát sinh ra tình trạng tủi nhục của nước nhà. Ông Phạm Quỳnh cắt nghĩa ba nguyên nhân làm cho nước Việt-nam không có nền quốc học :
« 1) VỀ LỊCH SỬ :Nước ta bị nước tàu đè nén ngoài 10 thế kỷ. Trong thời gian nô lệ, dân ta phải đối phó gay go với mọi khổ cực đối với người Tàu. Ấy là chưa nói đến việc ta coi các học thuyết du truyền từ Tàu sang ta đều là tôn giáo cả, cho nên không khi nào dám bàn cãi.
2) VỀ ĐỊA LÝ : Nước ta quá nhỏ bé nên hầu như bị Trung-hoa nuốt trửng, mất hẳn độc lập về tinh thần.
3) VỀ CHÍNH TRỊ : Nước ta từ xưa bị các nạn quân chủ chuyên chế. Nhà vua đặt ra lối học rất gò bó để làm tiêu chuẩn chọn người tài, thành ra bao nhiêu sáng kiến tư nhân bị tiêu diệt dần đi… »
Sau khi nhìn về dĩ vãng với nhận định bi quan ấy, ông Phạm Quỳnh hướng về tương lai đặt vấn đề xây dựng nền quốc học. Ông viết trong Phụ nữ tân văn số 105 ra ngày 22-10-1931 : « Muốn gây thành một nền quốc học riêng của mình thì phải dùng phương pháp phê bình, khảo cứu của khoa học mà phân tách những học thuyết cùng nghĩa lý cũ của Á-đông, rồi đem nghiền ngẫm, suy nghĩ, đối chiếu với những điều chân lý cùng những sự phát minh của khoa học thái Tây. Kết quả sự phân tách, tổng hợp đó tức là tài liệu để gây ra quốc học sau nầy vậy… »
Cuộc bàn cãi về « quốc học » ngót hơn mười năm trời, chưa ngã ngũ, thì ông Nguyễn-trọng-Thuật đứng ra giảng hòa giữa hai phe với bài Điều đình cái án Quốc học đăng trên Nam phong tạp chí 167 tháng 12-1931.
Mục đích ông Nguyễn-trọng-Thuật là xóa bỏ chống đối giữa hai phe, nên ý kiến ông trình bày rất lờ mờ, không minh định đâu là lẽ phải.
Tuy nhiên, bài báo của ông vẫn có tác đụng làm cho cuộc bút chiến về « Quốc học » chấm dứt trong dở dang, hướng cuộc tranh luận qua một vấn đề khác.
Kết quả vấn đề « Quốc học » vẫn chưa ai thỏa mãn.
Ở đây chúng tôi nêu lại cuộc bút chiến ấy tưởng không vô ích. Chúng tôi cần phải tiếp tục khai sáng những gì chưa được minh xác trong thế hệ của tiền nhân.
Vậy « Quốc học » là gì ?
Định nghĩa một cách vắn tắt thì Quốc-học là xu hướng và học thuật của một dân tộc.
Tuy nhiên, chúng ta chưa vội phân tích định nghĩa trên, hãy thử tìm nguồn gốc của quốc học đã.
Quốc học phát xuất từ nền văn hóa của một dân tộc. Mỗi dân tộc có một ngôn ngữ riêng, sinh hoạt riêng, sống quây quần trong một xã hội tất nhiên phải có một nền văn hóa phù hợp với tính chất sinh hoạt của họ.
Vậy mọi liên hệ hàng ngày, mọi cảm nghĩ phát sinh bằng ngôn ngữ, trao đổi nhau, đó là nền móng của văn học. Cho nên, nói đến văn học là căn cứ vào tư tưởng diễn biến phát hiện bằng ngôn ngữ chứ không phải bằng văn tự. Văn tự chỉ là phương tiện ghi lại ngôn ngữ mà thôi.
Với quan niệm trên thì một dân tộc bán khai, còn là bộ lạc, chưa có văn tự vẫn có văn học. Triết lý nhân sinh của họ là những gì họ cảm nghĩ thường ngày, sách vở của họ là trí nhớ, trường học của họ là sự truyền đạt bằng lời nói giữa người này người nọ. Tuy đó là một nền văn học phôi thai nhưng vẫn có đủ tính chất của một nền văn học. Nghĩa là nó bao gồm cả hai phương diện tư tưởng và học thuật.
Xã hội loài người tiến lên, ngôn ngữ được thay bằng văn tự, mọi diễn biến tư tưởng được hệ thống hóa, ghi lại bằng sách vở, lối học truyền khẩu được thay bằng một hệ thống tổ chức trường ốc, thì đó là nền quốc học của một nước.
Tuy nhiên khi nói đến danh từ « quốc học » là chúng ta đã vạch ra ranh giới, đóng khung trong một nước, tìm trong đó những tư tưởng riêng biệt và lối tổ chức giáo dục riêng biệt của một dân tộc. Đó là ý nghĩa của danh từ « quốc học » mà chúng ta bàn đến.
Vậy quốc học dù trong tính chất riêng biệt, vẫn gồm hai phần : hệ thống tư tưởng và hệ thống tổ chức học đường.
Hệ thống tư tưởng là dòng lịch sử tâm tư của một dân tộc, phản ảnh diễn biến chính trị, phản ảnh hoàn cảnh kinh tế, tạo trong dân tộc một nếp sống, một phong tục có tính chất riêng biệt.
Hệ thống tổ chức học đường chỉ là phương tiện trao đổi, phổ biến những kinh nghiệm thực tiễn trong cuộc sống để bảo vệ sinh tồn.
Hai hệ thống ấy từ trạng thái thô sơ tiến đến hoàn bị. Từ chỗ liên hệ giữa một quốc gia tiến đến chỗ liên hệ quốc tế.
Loài người vì sức tranh đoạt mà xã hội xảy ra những biến thái tư tưởng.
Trạng thái biến động ấy chính là mầm phân chia giai cấp, là sự cách biệt giữa hai hệ thống sinh hoạt của hai lớp người quý tộc và bình dân.
Bởi vậy, xã hội tiến triển, đưa hệ thống sinh hoạt loài người đến chỗ phân hóa, và hệ thống tư tưởng của mỗi dân tộc cũng bị phân hóa theo.
Tóm lại, nền văn học của mỗi nước đều dựa theo lịch sử xã hội mà chia ra làm hai dòng : dòng quí tộc và dòng bình dân.
Dòng văn học quí tộc tiêu biểu cho sinh hoạt và tư tưởng của lớp người thượng lưu quí phái. Dòng văn học bình dân tiêu biểu cho sinh hoạt và tư tưởng của lớp người bình dân. Hai hệ thống ấy song hành trước lịch sử xã hội.
Vậy quốc học căn cứ trên dòng văn học nào ?
Nếu định nghĩa quốc học là bao gồm hệ thống tư tưởng và hệ thống tổ chức học đường có tính chất riêng biệt của một dân tộc thì dòng văn học bình dân chính là sắc thái riêng biệt của mỗi dân tộc. Và, không có dân tộc nào, quốc gia nào không có nền quốc học cả, dù là dân tộc trong một quốc gia nô lệ.
Vậy nước Việt-nam ta không thể không có quốc học, như một số học giả đã quan niệm trước kia.
Nền văn học bình dân nước ta chính là một hệ thống tư tưởng của dân tộc đúc kết và di lưu từ đời thượng cổ, nhưng vì nước ta sớm bị nô lệ nên hệ thống tư tưởng ấy bị lớp người quí tộc bỏ rơi, và bị nền văn học ngoại lai trấn áp.
Khi nói đến văn học, người ta nghĩ ngay đến những học thuyết du nhập từ nước ngoài phổ biến trong lớp người quí tộc, còn những tư tưởng rút trong đời sống thực nghiệm, thực ra, cái họ gọi cổ lỗ, quê mùa ấy lại là căn bản của nền văn học dân tộc.
Dù bị bỏ rơi, dù bị trấn áp, chúng ta phải công nhận là nền văn học bình dân vẫn âm thầm tiến triển trong tâm tư của người dân Việt-nam, bởi lẽ nền văn học ấy là của dân tộc, được dân tộc bảo vệ và nuôi dưỡng.
Là người Việt-nam, từ giàu đến nghèo, từ sang đến hèn, lúc sơ sinh cho đến khi trưởng thành không ai khỏi ghi vào tâm tư mình những câu hát ru con, những câu ca dao, tục ngữ. Sách vở của nền văn học bình dân là trí nhớ, trường sở của văn học bình dân là chiếc nôi, là cánh đồng, là những đêm trăng trong mùa làm lụng.
Như thế tại sao chúng ta phủ nhận hệ thống tư tưởng và học thuật ấy ?
Một học thuyết du nhập từ nước ngoài không phải do một siêu nhân sáng tạo, mà chính do siêu nhân ấy đã đúc kết những cảm nghĩ, những kinh nghiệm thực tiễn trong cuộc sống qua nhiều thế hệ của tiền nhân họ. Vậy tiền nhân chúng ta cũng đã trải qua một cuộc sống dài nối tiếp hằng bao thế hệ, và cũng để lại cho chúng ta một hệ thống tâm tư, được nuôi dưỡng trong lòng dân tộc, tại sao chúng ta không đúc kết để tìm ra một học thuyết, tức là lẽ sống cá biệt của dân tộc ?
Chúng ta đi tìm tính chất riêng biệt của dân tộc mà chỉ trông cậy vào những cái du nhập từ bên ngoài thì làm sao tìm cho được.
Chúng ta bảo chúng ta không có gì cả. Cái học của tiền nhân không để lại cho chúng ta gì cả. Cái học chúng ta chỉ là cái học mướn mà chưa đến đích. Nói thế tức là chúng ta chỉ nhìn phiến diện vào nền văn học bác học, tức là nền văn học quí tộc thôi.
Thực vậy, nếu nhìn vào nền văn học bác học thì nước ta quả không có gì. Chế độ phong kiến, thực dân du nhập từ nước ngoài đem đến cho chúng ta một nền văn học nô lệ. Chúng ta chỉ biết tuân phục và kính trọng nó như một giáo điều. Những gì chúng ta biết đều là của nước ngoài cả.
Nhìn vào nền văn học bình dân, cái kho tàng quí báu di lưu kia, nếu chúng ta bảo là không có gì thì quả chúng ta đã xa rời dân tộc, chối bỏ gia sản của tiền nhân, hoặc không nhìn thấy bóng dáng dân tộc chúng ta đang hiện hữu trên mặt đất.
Hoặc nếu bảo rằng trong lúc thế giới năm châu vươn mình lên cõi học tân tiến, nghiên cứu kỹ thuật, dùng khoa học tranh đoạt sự sống còn, há nước ta lại lùi về dĩ vãng, đem những câu hát ngả ngớn nơi đồng ruộng nương dâu để ca tụng cuộc sống quê mùa, và cho đó là tài sản văn học của nước nhà sao ? Thì cũng vẫn là một quan niệm lầm lạc.
Chúng tôi không phủ nhận nền văn minh khoa học của thế giới đương thời. Tuy nhiên, cái học của con người không phải chỉ để mưu tìm cái sống, mà còn phải tìm lẽ sống như thế nào cho phải đạo làm người. Bởi vậy khi nói đến khoa học, chúng ta không nên xem nhẹ đạo học.
Vậy thế nào là khoa học ? Thế nào là đạo học ?
Khoa học là cái học thực nghiệm, cái học mưu sinh, cái học để tìm mọi khả năng dồn vào con người những phương tiện phục vụ cho đời sống. Cái học ấy là phương pháp đào tạo con người về khả năng tranh đấu để kiến tạo xã hội vật chất.
Nhưng khi nói đến kiến tạo xã hội bằng cách nào, tranh đấu ra sao cho hợp với nhân tính, thì đó là phần đạo học.
Đạo học là cái học thuật về tư tưởng, tìm tòi trong suy tư, trong ý thức con người những gì còn gọi là cao đẹp, khiến cho cuộc sống giữa loài người không vì sự mưu sinh mà biến xã hội nhân loại thành một vũ trường.
Tóm lại, khoa học là cái học để cải tạo đời sống vật chất, mà đạo học là cái học để cải tạo đời sống tinh thần. Hai lãnh vực ấy quan hệ mật thiết với nhau, không thể thiếu một.
Ngày nay, khoa học đã trở thành cái học chung của thế giới. Khoa học không còn là của riêng một quốc gia nào. Nhưng về đạo học thì mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có tính chất khác biệt mà chúng ta gọi là dân tộc tính.
Trước đây ông Phạm Quỳnh cũng đã có ý thức về hai ngành học thuật ấy, và đã tường trình trong một bài báo đăng ở Nam phong tạp chí. Ông viết :
« Nói đến văn học, chúng ta không thể không nói đến học thuật : nền học thuật Đông-phương và nền học thuật Tây-phương. Xét về nguyên lý thì hai nền học thuật Đông Tây có tính chất khác nhau.
Nền học thuật Đông-phương chú trọng về đạo đức, nền học thuật Tây-phương chú trọng về khoa học.
Tiếng « khoa học » ở đây xin hiểu cho nghĩa rộng. Nó là phương pháp tổ chức, là sự phân chia các khoa loại, đặt thành lề lối để đạt lấy kết quả đích xác, để tìm chân lý sự vật. Khoa học là phép học đi tìm trong thực thể, không mơ tưởng những huyền vi, lấy lý luận làm tiên phong, lấy thực nghiệm làm hậu kính, lấy hiển nhiên làm căn cứ, lấy tất nhiên làm mục đích.
Lối học như vậy khác lối học Đông phương. Lối học Đông-phương thuộc về đạo học chứ không phải khoa học. Đạo học là lối học « thụ dụng », tự tìm lấy được chứ không phải do sự tìm kiếm của người ngoài. Còn khoa học là lối học « ứng dụng » theo lối biện luận tích lũy mà ra, lại tùy thuộc vào trình độ văn minh xã hội mà tiến hóa. Do đó, khoa học chuộng mới, còn đạo học chỉ một lời nói cũ kỹ tự ngàn xưa, kẻ hiền triết đời nay vị tất đã nói hay hơn. Khoa học chuộng rộng ; đạo học đối với một lời nói, một nửa câu, có thể đem ra thụ dụng suốt đời không hết.
Bởi vậy, nguyên lý của đạo học càng tiến dần đến chỗ uyên thâm thì cái chi tiết bên ngoài càng bớt đi, để dần dần chui vào lãnh vực tối thượng của đạo lý.
Tuy nhiên, đạo học là cái học « thụ dụng » tự nó mang tính chất tiêu cực, nên đã bị khoa học lấn áp. Từ lúc mở đầu kỷ nguyên khoa học, nền học thuật Tây-phương đáp ứng nhu cầu vật chất cho nhân loại, đã làm cho nền học thuật Đông-phương bị lu mờ. Chúng ta là người Đông-phương, hẳn cảm thấy một sự mất mát ở cái kho tàng của tinh thần Đông-phương chúng ta.
Chúng ta lại thấy rằng nền văn minh vật chất càng tiến bộ thì nền văn minh tinh thần cũng cần phải bồi đắp cho cân xứng. Tinh thần, vật chất là hai yếu tố tất yếu trong con người, phải được thăng bằng, nếu bị chênh lệch thiếu một trong hai yếu tố ấy dù là nền văn minh nào cũng chẳng tồn tại được… »
Trong bài Điều đình cái án Quốc-học, ông Nguyễn-trọng-Thuật cũng có ý chia ra hai nền học thuật. Ông viết :
« Học thuật các nước trên thế giới đến ngày nay đã hoàn bị và tinh tế. Song lấy quốc tính mà suy ra thì học thuật có hai phần là quốc học và thế giới công học.
Quốc học là cái học riêng, chỉ một mình nước ấy có. Thế giới công học là cái học chung của các nước học lẫn nhau.
Đem ví với con người thì quốc học là phần bản thể, thế giới công học là phần bồi dưỡng. Bản thể cần phải nuôi dưỡng cho lớn khôn, khoẻ đẹp mà không bỏ và thay vào được. Còn bồi dưỡng thì tùy thuộc vào nhu cầu bản thể mà lấy ở bên ngoài… »
Tóm lại, các học giả nước ta trước kia từ Phạm Quỳnh đến Phan Khôi, Nguyễn-trọng-Thuật, Trần-trọng-Kim… hầu hết tuy có thiết tha với nền văn học Việt-nam, muốn tìm trong học thuật nước nhà những gì gọi quốc hồn, quốc túy để gây cho nước nhà một nền quốc học. Tuy nhiên, vì ảnh hưởng tinh thần nho giáo, các bậc tiền bối chỉ nhìn vào dòng văn học bác học du nhập từ nước ngoài, xem giáo lý Khổng Mạnh như là một năng lực tuyệt đối về tư tưởng mà bỏ quên cả một hệ thống tinh thần rải rác trong dân tộc Việt-nam di lưu hằng bao nhiêu thế kỷ chưa được đúc kết.
Bởi vậy, khi nền văn học Tây-Âu truyền sang Á-Đông đánh ngã đạo Nho, các học giả nho giáo nước ta băn khoăn lo sợ giáo lý Khổng Mạnh bị mai một, nên khuyến khích ông Trần-trọng-Kim đứng ra ghi lại những tinh túy của nho học trong quyển sách nhan đề Nho giáo để lưu truyền hậu thế. Dĩ nhiên việc làm ấy không phải vô ích, nhưng với tinh thần lo lắng như vậy nếu dành một phần nào chiếu cố nền văn học dân tộc thì có lẽ ngày nay nền văn học bình dân Việt-nam không đến nỗi quá phũ phàng như nhiều người đã tha thiết.
Hôm nay chúng tôi đặt vấn đề khảo cứu văn học bình dân, nhưng trong quyển sách chỉ giới hạn bộ môn thi ca mà thôi. Chúng tôi không có hoài bão xây dựng nền tảng cho ngôi nhà văn học bình dân mà hiện chúng ta chưa có. Chúng tôi chỉ ước vọng khơi lên một đóm lửa đang âm iu trong lòng một dân tộc sống trên mảnh đất nhỏ bé, mang lịch sử bốn ngàn năm văn hiến mà suốt thế hệ này sang thế hệ khác vẫn luôn luôn bị áp bức, nô lệ.
Hỡi tiền nhân của dân tộc ! Có lẽ đến ngày nay tiền nhân không còn nhận ra bóng dáng con cháu mình nữa. Hình hài những đứa con sống trên đất mẹ đã khác xưa. Những mái nhà tranh yêu dấu không sụp đổ bằng bão táp, phong ba, mà phải phũ phàng trải qua cuộc giành giựt bằng khói súng, làn bom, và người ta đã thay vào đấy những lớp xi-măng cốt sắt. Những vết chân trâu trên mặt ruộng, những thảm cỏ xanh rì trong đồng nội đã bị chiến tranh cày nát và chôn sâu vào lòng đường trải nhựa. Cô thôn nữ trên bờ đê giờ đã vứt bỏ chiếc yếm thắm vã hồ, khoác vào người bộ áo cánh hở ngực trống tay… và tất cả, không còn cái gì là của tiền nhân để lại nữa !
Nhưng không, thưa tiền nhân, hình bóng đổi mới chỉ là dấu vết của thời gian, chứng tích của một dân tộc đang ngoi đầu lên trước mọi áp lực để giữ một chỗ đứng trên mặt địa cầu. Dòng máu của tiền nhân vẫn đang chảy rần rật trong huyết quản của con cháu. Những câu hát ru con cạnh chiếc nôi, những giọng hò dưới trăng tự thuở nào, bên tai họ vẫn còn được nghe nhắc nhở như tiếng gọi của hồn nước.
Hỡi bạn trẻ, lớp người của thế hệ mai sau ! Có thể một ngày nào đó các bạn không còn biết « ông Táo » là gì, hình dáng ra sao, vì bếp lửa của các bạn ngày nay là chiếc lò nấu bằng điện. Các bạn sẽ không biết « giã gạo » là gì, vì các bạn có những máy móc thay cho việc làm mà tiền nhân đã khổ cực… Nhưng, các bạn đừng tưởng tâm tư các bạn thoát hẳn ra ngoài đặc tính của dân tộc.
Không, các bạn vẫn sinh trên lòng đất Mẹ, lớn lên trên chiếc nôi, và được ru ngủ bằng giọng hát « Ạ, ời ời ! » Chúng tôi quả quyết, dù cuộc sống có thay đổi đến đâu, khi văng vẳng nghe một câu hát của tiền nhân, các bạn cũng không thể kềm được lòng cảm xúc.
Như vậy, tức là trong tâm hồn các bạn vẫn âm ỉ sống đôi chút hồn dân tộc.
Và khi đã cảm thấy tâm hồn mình còn lưu luyến hồn dân tộc thì các bạn hãy đem nó sưởi vào đóm lửa này, các bạn sẽ bớt lạnh nhạt, niềm thiết tha đối với di sản của tiền nhân sẽ dậy lên, và cõi lòng các bạn sẽ được ấm dịu vì có nơi nương tựa.