Tìm về thi ca bình dân tức là đi vào vũ trụ hỗn mang, chứa đựng một thời gian dằng dặc, một không gian bao la, nơi ấy chúng ta chỉ còn bắt gặp những vết tích, những âm hưởng chồng chất ngổn ngang tự thời sơ cổ. Hình bóng, màu sắc lẫn lộn đến nỗi nhãn quang chúng ta không thể nào hình dung ra được một khung cảnh rõ rệt. Dưới lớp bụi thời gian dày bịch ấy, dù bộ óc con người có tinh vi đến đâu cũng chỉ cho phép chúng ta nhận định theo chiều hướng suy tư của mình. Việc làm chỉ có thế. Và cũng chỉ còn cách ấy thôi. Vì vậy, ở phần vừa qua chúng tôi đã phải bàn đến chiều hướng suy tư.
Nhưng chiều hướng suy tư chỉ mới là mũi tên điểm chỉ ta về thế giới thẳm sâu của dĩ vãng. Cuộc hành trình còn nhiều cam go, vất vả ; không gian thì mù mịt, mọi vật đều mờ ảo trong ký ức khiến chúng ta không còn biết định hướng là đâu, và ngày nay chúng ta trở lại con đường bị quên lãng ấy, những chứng tích đánh dấu cho kẻ lữ hành đã bị thời gian xóa nhòa. Những nẻo dẫn về lâu đài văn hóa dân tộc đã bị cỏ dại phủ kín. Quá khứ phai dần. Muốn tìm lại những tâm tư của dân tộc đã bị thời gian khép kín tự ngàn đời, kẻ lữ hành phải tự tạo cho mình những dụng cụ cần thiết : đó là chiếc la bàn dẫn hướng và một chìa khóa mở cửa lâu đài văn hóa dân tộc.
La bàn ? Chúng tôi muốn nói đến chiều hướng suy tư, tức là con đường dẫn chúng ta đến thế giới dĩ vãng và chìa khóa, chúng tôi muốn nói đến kỹ thuật sắp xếp để dựng lên ngôi nhà văn học dân tộc.
Được thế, chúng ta mới có thể phiêu lưu vào dĩ vãng để hình dung cho ra một vũ trụ, một thế giới đã bị chôn lấp tự ngàn xưa.
Việc làm tất khó khăn ! Chúng ta phân vân tự hỏi phải dùng sự hiểu biết nào để phân tích, dùng kích thước nào để đo lường bề dày của lớp thời gian đã che mờ cảnh vật ? Chúng ta phải có một nhận định nào, một thẩm mỹ nào để uốn nắn lại các hình thái đã bị thời gian phá mất nguyên trạng ? Cuối cùng chúng ta lại phải có tầm mắt thế nào để phân định giới hạn cõi u minh kia ?
Không một nhà khảo cứu nào không tự đặt cho mình một ranh giới trước khi bắt tay vào việc. Ranh giới ấy chính là cái nhìn của họ khi đứng trước một đối tượng.
Thật vậy, thế giới thi ca, vũ trụ của tinh thần, của tình cảm, của sinh hoạt xã hội, của bản chất thiên nhiên, chứa đựng mọi tiềm năng sinh lực, nên khi đặt mình trước đối tượng bao la ấy, nhà khảo cứu tự thấy tầm mắt mình chỉ là một con đóm giữa ngàn sao. Ánh sáng một con đóm quả thật không đủ khả năng soi thấu cõi huyền diệu vô biên ?
Biết vậy, lẽ ra những con đóm kia không nên có tham vọng đem sức bé mọn của mình soi sáng thiên nhiên, nhưng những con đóm, những bộ óc của các nhà khảo cứu – nếu vũ trụ chưa tan rã thì những con đóm kia vẫn còn tiếp tục sinh tồn. Và nếu dĩ vãng của loài người cứ chôn dần vào bóng tối thời gian thì chính những con đóm li ti kia lại trở thành những sinh vật hữu dụng cho bóng tối ; nó sẽ vạch ra trong bóng tối những vệt sáng, tuy nhỏ, nhưng điều hòa được sinh khí giữa vũ trụ, đem cái chết gần với cái sống, nối dĩ vãng với hiện tại và tương lai, tạo một chuỗi tâm tư không bị đứt quãng.
Những con đóm – chúng tôi muốn nói đến tiền nhân, những người thiết tha với nền văn học dân tộc – đã bỏ nhiều công lao để xâm nhập vào cõi u minh – vũ trụ thi ca bình dân. Và chúng tôi hiện nay cũng chỉ là những con đóm hậu thế đang tiếp tục việc làm của tiền nhân.
Ánh đóm chúng tôi lạc loài và quá mong manh ! Lớp thời gian mù mịt của thế giới ngày nay đã phủ lên chúng tôi, đã trùm kín chúng tôi bằng những học thuyết tân kỳ, chia cách chúng tôi xa rời với vũ trụ cố hữu của dân tộc.
Trở lại con đường văn học bình dân, chúng tôi không dám phủ nhận việc làm của tiền nhân, nghĩa là định lập lại một lần nữa công trình góp nhặt. Vì làm thế, chúng tôi cũng chỉ lẩn quẩn tới lui trên con đường đã dọn sẵn. Lẽ dĩ nhiên chúng tôi không thể đi xa hơn để tìm một nhận thức nào mới lạ trong dĩ vãng. Là con người của thế hệ trẻ, chúng tôi muốn bước ra ngoài tầm ánh sáng đã có, đào xới trong cõi u minh ấy những gì chưa khai quật, bới lên những tinh hoa đã bị thời gian mai một, sửa lại những viên gạch bị xiêu đổ, tại tạo ngôi nhà văn học bình dân.
Dĩ nhiên chưa thể nói đến hoàn bị. Vì làm thế nào mỹ mãn được khi chúng ta, con người của thế hệ hiện tại đã mất hẳn hình dáng đích thực của ngôi nhà cổ kính kia, chỉ còn lại những dấu vết phai mờ, những đường nét bị hủy hoại.
Tuy nhiên, chúng tôi hy vọng những vết tích được di lưu và tồn tại với thời gian, với dân tộc ngày nay cũng đủ để chúng ta căn cứ vào đó xây dựng lại ngôi nhà Việt-nam thời cổ theo một bức sơ đồ.
Ngôi nhà Việt-nam ! Chúng tôi muốn nói đến mái tranh, đến vườn rau ao cá, đến cỏ nội mây ngàn, đến con đường mòn dẫn về thôn xóm, đến những vết chân trâu in trên thửa ruộng, những lũy tre xanh, những đêm trăng tiếng chày khua qua câu hò, giọng hát… và tất cả những gì chứa đựng, nuôi dưỡng tâm hồn một dân tộc.
Dân tộc Việt-nam đã trưởng thành trong ngôi nhà với những sắc thái ấy. Và thời gian, khi chưa phá vỡ những vết tích trong tâm tư họ thì cũng chưa thể xóa nhòa được nguồn gốc văn minh của họ được.
Hãy vượt thời gian trở về dĩ vãng tìm dựng lại ngôi nhà chúng ta, ngôi nhà văn học bình dân, ngôi nhà tư tưởng, nền móng của cuộc sống chúng ta ngày nay.
Chúng ta phải nói đến ngôi nhà tư tưởng, và tạo dựng ngôi nhà văn học bình dân trên lối kiến trúc ấy. Bởi vì, chúng tôi nghĩ, con người thời nay không có gì khác lạ nếu chúng ta tách rời trạng thái sinh hoạt và chiều hướng suy tư. Chính hai yếu tố ấy đã đẩy dòng thời gian, đưa chúng ta đến nếp sống và những cảm nghĩ đương thời.
Trạng thái sinh hoạt và chiều hướng suy tư cũng chính là nền móng của xã hội loài người, tạo cho loài người một nền văn hóa. Cho nên khi kiến tạo trên nền văn học bình dân một ngôi nhà tư tưởng, tức là chúng ta chỉ ghi lại được vết tích xã hội và căn bản con người.
Ngày nay, chúng ta sống trong những luồng tư tưởng mới, hướng về những triết thuyết này nọ, và chúng ta tự cho là văn minh, phù hợp với lẽ sống con người, thử hỏi người bình dân thời xưa có những suy tư, cảm nghĩ như chúng ta chăng ? Đành rằng những suy tư và cảm nghĩ họ không giống với chúng ta ngày nay, nhưng không phải không có, mặc dù họ không thể viện ra được những triết thuyết này nọ để chứng minh. Khi con người đã lao mình vào lẽ sống thì dù man rợ hay văn minh vẫn có những cảm nghĩ đối với lẽ sống. Cảm nghĩ ấy phát xuất từ nền móng sinh hoạt xã hội, và làm nền tảng cho cuộc sống tinh thần. Nếu chúng ta biết đem những cảm nghĩ đó sắp xếp thành hệ thống tư tưởng, dĩ nhiên chúng ta sẽ tìm thấy một triết thuyết của người bình dân qua từng thời đại, có đủ tính chất nhân sinh, xã hội, vũ trụ quan như mọi triết thuyết khác. Đó là ngôi nhà tư tưởng của văn học bình dân mà chúng tôi muốn nói đến.
Nếu chúng ta nghĩ rằng người bình dân áo vải quần thâm, sống cuộc đời mộc mạc trong thửa ruộng nương dâu, trên bùn lầy nước đọng, làm gì có ý thức triết học mà chúng ta đem gắn cho họ những công trình ấy, thì thật chúng ta đã lầm. Mọi tư tưởng triết học bắt nguồn từ suy tư do sinh hoạt xã hội tạo nên. Vậy người bình dân có những suy tư trong cuộc sống của họ không ? Từ tục ngữ, phong dao đến những chuyện cổ tích, tiếu lâm bàng bạc những cảm nghĩ của họ đối với lẽ sống con người, chúng ta có quyền gì phủ nhận công trình suy tư của họ trong văn hóa dân tộc ? Sở dĩ họ không hệ thống hóa những suy tư ấy chỉ vì họ là người bình dân, con người từ thời đại này đến thời đại khác không bao giờ được quyền sống theo ý muốn của mình. Mất hẳn quyền sống, họ có thể bị tước đoạt cả áo cơm, bị đày đọa thể xác, giam hãm trong hắc ám, nhưng ở địa hạt suy tư, sản phẩm của tư tưởng, quyền tuyệt đối của con người, không một bạo chúa, một hung thần nào có thể cấm đoán họ được. Thế thì đem suy tư của họ đúc kết trên nền tảng văn học, dựng một ngôi nhà tư tưởng chính là đi tìm nguồn gốc văn hóa của dân tộc.
Nhưng việc làm ấy đối với tiền nhân như thế nào ?
Khi đã vạch ra một con đường hướng sưu khảo, chúng ta là lớp người thế hệ trẻ, dĩ nhiên phải có bổn phận soát xét lại những gì đã có do tiền nhân để lại, và bổ túc thêm những gì còn thiếu thốn do cảm nghĩ chúng ta.
Rồi ngày mai kia, cái ngày của thế hệ tương lai, những gì chúng ta góp nhặt hôm nay chỉ còn là vết tích của thời gian, lúc bấy giờ ngôi nhà văn học bình dân của chúng ta cần phải trang trí thêm, mở rộng thêm bằng mọi khám phá mới lạ trong tiềm năng dân tộc. Như vậy ở địa hạt văn học, và với nhiệt tình của chúng ta, thời gian không hẳn là mầm hủy diệt mà sẽ trở thành yếu tố tăng trưởng cho dĩ vãng.
Đặt vấn đề soát xét lại công trình của tiền nhân đối với nền thi ca bình dân, chúng tôi không nói cổ nhân trong thời gian nước ta chưa có văn tự. Bởi vì, khi một nước chưa có văn tự thì làm gì có việc sưu khảo. Thi ca bình dân đã có từ thuở dân tộc bán khai, song vì chưa có văn tự nên vẫn phải lu mờ trong trạng thái truyền khẩu. Mãi đến lúc người Tàu đặt ách thống trị trên đất nước Việt-nam, các bậc Nho học nước ta mới mượn Hán tự mà chế ra một lối văn tự riêng để ghi chép quốc âm, gọi là chữ « Nôm ». Với hoàn cảnh ấy, các cụ góp nhặt được một ít những hiện tượng văn học bình dân lưu truyền trong dân chúng cũng đã quí lắm rồi. Chúng ta không có quyền đòi hỏi ở các cụ những quyển sách sưu khảo phong phú, hoặc một phương pháp hoàn mỹ làm nền tảng cho văn học dân tộc được.
Gần đây, vì nhiệt tâm đối với văn học bình dân, nhiều học giả đã bỏ công sưu khảo, do đó, những tác phẩm nói đến văn chương bình dân lần lượt ra đời. (Chúng tôi đã lược dẫn trong đoạn B ở phần này).
Những tác phẩm ấy là ngọn đuốc tiên phong đã đóng góp công trình cho văn học. Tuy nhiên, khi một dân tộc đang vươn đến độ trưởng thành phá vỡ những xiềng xích trong tâm tư, bẻ gãy những kềm kẹp bên ngoài xã hội thì nhu cầu tư tưởng cần được mở rộng, đòi hỏi chúng ta phải xét lại mọi suy tư trong lẽ sống, dĩ vãng cũng như hiện tại, để xác định bản chất đích thực của con người, của dân tộc, của nền tảng văn học chúng ta.
Trở lại vấn đề phương pháp sưu khảo, ở đây chúng tôi không có ý nêu ra từng tác phẩm để phê phán, mà chỉ lược khảo những công trình đã có, rút tỉa kinh nghiệm làm nền tảng cho quyển sách này.
Xuyên qua gần hai mươi tác phẩm và nhiều bài tiểu luận về thi ca bình dân, chúng ta có thể qui những công trình ấy vào bốn phương pháp chính yếu sau đây :