Thi Ca Bình Dân Việt-nam

Lượt đọc: 34 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
D) Sự Si Mê Các Thú Vui
D) Sự Si Mê Các Thú Vui

❊ ❊ ❊

Các thú vui trong đời sống con người chúng ta thường gọi là thú ăn chơi.

Nhưng thú ăn chơi là gì ? Nếu xét về nguồn gốc thì nó là bản năng dục vọng, phát xuất từ ý thức hưởng thụ, tìm trong nguồn sống chung của xã-hội loài người một nguồn sống riêng cho cá nhân.

Bản năng dục vọng chính là mầm móng thường xuyên phá vỡ cơ cấu của tổ chức xã hội, ngược lại tổ chức xã hội là guồng máy kềm hãm bản năng dục vọng con người. Cũng chính vì vậy mà cuộc sống loài người chất chứa đầy mâu thuẫn.

Các tổ chức xã hội phong kiến thường mượn giáo lý về đạo học, bắt lý trí chế ngự bản năng con người. Đó là một phương pháp hữu hiệu nhất, mà loài người từ xưa đến nay đã đạt được ít nhiều kết quả trong lẽ sống.

Tuy nhiên, đối với bản năng, lý trí chỉ mới làm được nhiệm vụ kềm hãm chứ không thể nào tận diệt được, vì bản năng là nguồn gốc của sức sống, phát triển theo nhu cầu bản ngã, luôn luôn đúc kết thành tiềm lực để phá tung xích xiềng của tổ chức xã hội. Mà đó cũng chính là mâu thuẫn của căn bản trong xã hội loài người giữa thể chất và tinh thần giữa cá nhân và tập thể, giữa con người và lẽ sống.

Xã hội Việt-nam từ ngàn xưa đã bị giáo lý Nho học ràng buộc. Lý thuyết Khổng Mạnh lấy đạo tam can, ngũ thường củng cố nền chính trị phong kiến, lấy đức cần kiệm liêm chính chế ngự bản năng. Tuy nhiên cần kiệm liêm chính cũng chỉ là giáo lý được phổ cập trong giai cấp quí tộc, để dạy cho lớp người thống trị biết tự kềm chế mình, làm gương cho kẻ dưới, thực ra giáo lý cần kiệm liêm chính của Nho học không có ý giáo dục trực tiếp đối với lớp người bình dân.

Nho giáo chia xã hội con người làm nhiều giai cấp : thượng đẳng, trung đẳng và hạ đẳng. Áp dụng vào chính sách giáo dục thì Nho giáo cho rằng : « Thượng đẳng chi nhơn bất giáo nhi thiện, Trung đẳng chi nhơn giáo nhi hậu thiện, Hạ đẳng chi nhơn giáo diệc bất thiện » (lớp người trên không dạy cũng tốt, lớp người thường phải dạy mới tốt, lớp người dưới dạy vẫn không tốt).

Quan niệm như thế có nghĩa là kẻ nào lý trí mạnh, không cần trấn áp mà bản năng dục vọng vẫn không nổi dậy được thì đó là lớp người thượng đẳng. Kẻ nào phải dùng lý trí đàn áp mới thắng được bản năng dục vọng, thì đó là lớp người trung đẳng, còn kẻ nào lý trí quá kém dù có vận dụng cũng không đàn áp được bản năng, thì đó là lớp người hạ đẳng.

Quan niệm như thế cũng có nghĩa là Nho giáo cho rằng lớp người bình dân không thể dùng lý trí trấn áp bản năng, họ chỉ sống theo dục vọng, cho nên đối với họ không thể đặt vấn đề lý trí, mà chỉ đem tình cảm sửa đổi họ.

Trong quyển « Kinh thi Việt-nam », luận về giáo lý Khổng học, ông Trương-Tửu có viết :

« Theo đức Khổng thì tình cảm con người thiện hay ác là do chính trị tốt hay xấu. Chính trị tốt đối với ngài là người cầm quyền tốt. Ngài không thể quan niệm được chính trị ngoài một đấng quân vương. Nếu ông vua là bậc quân tử hiếu đễ nhân nghĩa, biết dùng người hiền để trị nước, biết chế đúng lễ nhạc để dạy dân thì dân sẽ bắt chước, người trên mà làm điều thiện, nghĩ điều thiện, cảm điều thiện, nhiên hậu cái tâm của mỗi người trong dân chúng sẽ cảm nhiễm toàn những điều nhân nghĩa, và cái nền tình cảm của họ được điều hòa, trong trẻo. Nếu, ông vua là một hôn quân, chỉ chuộng tư lợi, không nghĩ đến nhân nghĩa, dùng quần thần toàn là những kẻ tiểu nhân xảo quyệt, pháp chính thì bất công hà khắc, lễ nhạc thì dâm dật, kiêu sa, tất nhiên dân chúng sẽ theo người trên mà cảm điều ác. Cái tâm tư con người tất phải mờ ám, tình cảm tất phải rối loạn, không thể nào tránh được.

Tóm lại, Khổng-Tử quan niệm chính trị như một hiện tượng của luật ảnh hưởng từ cao xuống thấp, trên toàn thể thống trị (vua quan), dưới toàn thể bị trị (dân). Sự ảnh hưởng ấy được thực hiện nhờ có một bộ máy nối trên với dưới. Bộ máy này là những cơ quan giáo dục và hành chính, như : pháp luật, luân lý, lễ nhạc, văn từ… Tùy theo cái chủ não tốt hay xấu của kẻ trên (vua), bộ máy đó có phận sự truyền nhiễm những cảm xúc và ý kiến (tốt hay xấu) xuống cho kẻ dưới (dân), bắt kẻ dưới phải hành động theo. Phần bị sức mạnh của xã hội điều khiển, phần có tính chất bắt buộc toàn thể, cá nhân chỉ còn là một phản ảnh của những cảm xúc và ý nghĩ công cộng do bộ máy chính trị truyền từ trên xuống.

Xem vậy, theo đạo Khổng thì chính trị đẻ ra một hoàn cảnh xã hội tương đương, hoàn cảnh xã hội lại đẻ ra một cá nhân có những tình cảm tương đương. Tình cảm cá nhân theo chính trị mà tốt xấu cũng như nước theo chum vại mà vuông hay tròn vậy… Cho nên, có thể xem cách chính trị mà biết được tình cảm cá nhân, và ngược lại cũng có thể xem tình cảm cá nhân mà biết cách chính trị trong một xứ… »

Thực ra, giáo lý trên đây có một tác động khá mạnh đối với xã hội phong kiến Việt-nam thời xưa. Tuy nhiên, Nho giáo cũng chỉ đứng trên quan niệm lý trí và tình cảm để uốn nắn xã hội chứ chưa kết hợp được ảnh hưởng kinh tế.

Áp dụng phương pháp giáo dục về lý trí cho giai tầng trên, và phương pháp giáo dục về tình cảm cho giai tầng dưới tức là Nho giáo đã thừa nhận giữa tình cảm và lý trí con người có sự mâu thuẫn nhau. Đồng thời, Nho giáo cũng cho rằng giai cấp thống trị là giai cấp của lý trí, mà giai cấp bị trị là giai cấp của tình cảm, nên đã chủ trương rèn luyện lý trí cho mạnh (tư tưởng và tư cách của giai cấp trên) để trấn áp bản năng dụcvọng (tình cảm của giai dưới). Với phương thức ấy, lý trí cá nhân đúc thành một khuôn mẫu hun đúc cho tình cảm cá nhân trở thành tình cảm tập thể theo khuôn mẫu ấy.

Sự thành công một phần nào của giáo lý Khổng Mạnh trên xã hội phong kiến Việt-nam thời xưa, xét ra không phải hoàn toàn do ảnh hưởng của chủ thuyết nầy.

Nếu bảo rằng người bình dân (hạ đẳng chi nhơn) không đủ lý trí để trấn áp dục vọng con người thì cũng không đúng. Hoặc nếu bảo giai cấp quí tộc ngày xưa đã đem giáo lý Khổng Mạnh cảm hóa người bình dân tạo nên một xã hội duy lý, tiết chế dục vọng con người thì cũng không đúng.

Trong lãnh vực nầy, chúng ta cần xét soát lại thực trạng của nó.

Trước hết chúng ta phải thấy rằng xã hội duy lý thời phong kiến tuy có đạt được sự tiết chế dục vọng bản năng, song không vì thế mà dục vọng bản năng bị tiêu diệt. Ngay trong giai cấp quí tộc (thượng đẳng chi nhơn) bản năng dục vọng vẫn âm thầm phát xuất trong cửa các lầu son mà họ đã phải đem cái hình thức lễ nghi, cái giả dối bên ngoài để che đậy.

Thực trạng ấy đã chứng minh rõ ràng qua sử sách, không một ai có thể phủ nhận được.

Nhưng nếu giai cấp lý trí (thượng đẳng chi nhơn) đã không đủ nghị lực để tự chế mình, thì làm sao có đủ năng lực để kềm hãm giai cấp bản năng (hạ đẳng chi nhơn) được.

Thế mà Khổng giáo vẫn không đủ sức tạo cho giai cấp thượng đẳng một sức mạnh về lý trí, và giai cấp thượng đẳng cũng không đủ khả năng cảm hóa giai cấp hạ lưu.

Tuy nhiên, chúng ta lại thấy nguồn sống của xã hội phong kiến thời xưa có một khả năng điều hòa giữa lý trí và bản năng dục vọng. Vậy, khả năng điều hòa ấy do đâu mà có ?

Thực ra, nếu chúng ta không thừa nhận tổ chức xã hội duy lý của Khổng Mạnh có tác dụng đối với giai cấp bình dân thì chúng ta cũng không phủ nhận hoàn toàn ảnh hưởng của Nho giáo trong tâm tư lớp người quí tộc.

Nếu trong lớp người quí tộc vẫn thường xảy ra trạng thái dao động về dục vọng mà lớp người bình dân đã châm biếm như :

Tôi là con gái đồng trinh,

Tôi đi bán rượu qua dinh ông Nghè.

Ông Nghè sai lính ra ve,

Bẩm lậy ông Nghè tôi đã có con.

- Có con thì mặc có con,

Thắt lưng cho dòn theo võng cho mau.

Thì cũng chính trong lớp người quí tộc ấy lại nêu được những tấm gương trinh liệt, hoặc anh hùng, bất chấp cả dục tính cá nhân. Cho nên, những ý thức về nhân, nghĩa, lễ, trí, tín hoặc cần, kiệm, liêm chính của tổ chức duy lý quả đã có tác dụng một phần nào trong tâm tư của lớp người quí tộc.

Còn đối với lớp người bình dân thì sao ?

Người bình dân có một cuộc sống điều hòa như lớp người quí tộc. Nếu trong lớp người quí tộc có những kẻ say mê dục vọng, có những kẻ thoát ra ngoài dục tính thì trong lớp người bình dân cũng thế. Tuy nhiên, người bình dân không phải chịu ảnh hưởng của giáo lý Khổng Mạnh, và cũng không chịu ảnh hưởng giao cảm của lớp người quí tộc. Yếu tố chính đưa họ vào cuộc sống tiết chế dục vọng là do hoàn cảnh sinh hoạt của xã hội. Họ không được học hành như lớp người quí tộc, họ không hiểu thế nào là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín và tại sao lại cần phải có nhân, lễ, nghĩa, trí, tín mới nên người. Nhưng trong tâm tư của họ, trong nếp sống của họ chúng ta vẫn thấy họ có đủ những đức tính ấy.

Sở dĩ họ có lòng nhân chỉ vì họ là lớp người đau khổ nhiều nhứt. Sự đau khổ của bản thân đã khiến họ xót xa, thương hại trước mọi sự đau khổ của kẻ khác. Cũng vì sự khổ cực ấy mà họ trở thành có nghĩa. Họ đối xử với nhau trong tình tương thân tương ái, trong ý nghĩa thủy chung vv…

Còn nói về đức cần, kiệm, liêm, chính của con người theo Nho giáo thì họ cũng không hề biết. Tuy nhiên, họ lại vẫn có đủ. Bởi vì họ là hạng nghèo khổ, phải đem thực lực ra làm việc để nuôi thân, dĩ nhiên họ không thể không cần kiệm được. Đến như liêm chính thì họ lại là kẻ không có địa vị, quyền thế, chịu áp mình dưới pháp luật làm sao không liêm chính được ? Hoàn cảnh sinh sống của xã hội đã tạo cho họ có đủ điều kiện để bảo vệ những tánh tốt ấy.

Có phải vì Đức Khổng-Tử đã thông đạt lẽ sống của người bình dân như vậy, nên không cần đặt vấn đề bắt họ phải vận dụng lý trí để trấn áp dục vọng bản năng, không cần bắt họ phải đọc sách thánh hiền chăng ?

Nếu vậy, phải nói họ là những kẻ « bất giáo nhi thiện » mới đúng. Hay Đức Khổng-Tử phân chia đẳng cấp con người không căn cứ trên sự nghèo giàu, mà căn cứ trên giá trị bẩm chất, cho rằng người nghèo không nhất thiết là « hạ đẳng chi nhơn » ?

Thực vậy, nếu Đức Khổng-Tử đã đánh giá con người trên bẩm chất mà dưới mắt những kẻ giàu có, phong lưu, quí phái, từng khoe mình là người nho học, lại khinh miệt kẻ nghèo là trái với đạo thánh hiền. Ý thức ấy chính người bình dân đã mỉa mai :

Mất cơm nghi đứa đói,

Mất gói nghi đứa nghèo !

Tuy vậy, trên đây chúng ta cũng chỉ luận về trạng thái chung của xã hội ảnh hưởng vào tâm tư con người, kỳ thật, trong giai cấp quí tộc cũng như giai cấp bình dân nghĩa là từ người nghèo đến người giàu không có một tầng lớp nào không bị ảnh hưởng dục vọng chi phối.

Tâm tư con người chịu ảnh hưởng trước cuộc sống, bị ràng buộc vì lẽ sống cũng bị thúc đẩy bởi tham vọng của lẽ sống. Do đó, trạng thái điều hòa bên ngoài luôn luôn ngầm chứa một sức xao động của bên trong, và sức xao động của bên trong là năng lực cải biến qui luật điều hòa bên ngoài.

Xã hội bình dân thời xưa, không thoát ra ngoài qui lệ ấy. Nếu chúng ta thấy cuộc sống họ cần cù, chất phác, tâm tư họ ôn hòa, nhẫn nạn thì chúng ta lại cũng thấy nơi họ có những xao động về dục vọng. Ví như :

Vai mang bầu rượu chiếc nem,

Mảng say quên hết lời em dặn dò.

Rượu nồng, nem chua đẩy cảm giác của họ vào vòng vui thú của bản ngã, mà tâm tình, sự gắn bó về nhân nghĩa phải lu mờ.

Bản ngã vốn là đặc tính của cá nhân. Khi bản ngã vùng dậy thì chính đó là lúc con người và cuộc sống nổi lên những va chạm. Một cô gái trách một chàng trai không chung tình, một xã hội khinh rẻ một lớp người xấu xa… thì đó cũng chính là dục vọng cá nhân không dung hòa với dục vọng của tập thể, chứ chẳng có gì lạ !

Dục vọng cá nhân là lẽ sống con người, dục vọng tập thể là lẽ sống của xã hội. Cho nên, bất kỳ trong một chế độ nào, xã hội loài người vẫn có độc tài. Độc tài tức là sức trấn áp những dục vọng của loài người trong xã hội. Nếu sự trấn áp ấy để bảo vệ dục vọng cho thiểu số tức là trái nhân đạo, còn để bảo vệ cho cho dục vọng đa số thì hợp với nhân đạo, bởi nhân đạo thoát thai từ dục vọng của đa số.

Tuy nhiên, dục vọng của tập thể lại khởi đầu từ dục vọng cá nhân. Không có dục vọng cá nhân thì chẳng có dục vọng tập thể.

Bởi vậy, đứng vào lãnh vực cá nhân, chúng ta vẫn tìm thấy trong quan niệm của người bình dân bàng bạc về dục tính như :

Thế gian ba sự không chừa,

Rượu nồng, dê béo, gái vừa đương tơ.

Hoặc : Còn trời, còn nước, còn non,

Còn cô bán rượu, anh còn say sưa.

Hoặc : Đố ai nằm võng không đưa,

Ru con không hát, anh chừa nguyệt hoa.

Dục tính cá nhân đã như thế, dĩ nhiên phải bộc lộ ra ngoài hành động :

Ai ơi chơi lấy kẻo già,

Măng mọc có lứa, người ta có thì.

Chơi xuân kẻo hết xuân đi,

Cái già xồng xộc nó thì theo sau.

Tuy nhiên, vì mâu thuẫn giữa dục vọng cá nhân và dục vọng tập thể luôn luôn chống đối, nên trên con đường hành động, nghĩa là từ lãnh vực cá nhân biến sang lãnh vực tập thể, rất có nhiều hạn chế. Sự hạn chế ấy chính là năng lực kềm hãm của xã hội loài người trong ý niệm chung về dục vọng.

Chúng tôi xin chép ra đây một câu chuyện tiếu lâm để chứng minh thực trạng đó :

« Anh chàng nọ vợ đẻ, nhà đơn chiếc, nên cô em vợ đến giúp. Nửa đêm, dục tính nổi dậy, anh chàng lén bò đến giường cô em vợ. Biết được, cô em vợ vội cất tiếng hát ru cháu để ngăn cản hành động anh ta :

Nửa đêm gà gáy o o,

Của dì, dì giữ, ai bò mặc ai !

Xấu hổ, anh ta vội lên tiếng chữa thẹn :

Nửa đêm gà gáy o o,

Tao ngủ không được tao bò tao chơi. »

Tuy câu chuyện hài hước trong giới bình dân, song phản ảnh thực trạng của dục tính cá nhân và năng lực chế ngự dục vọng tập thể.

*

Nhìn chung, xã hội loài người bất kỳ ở lớp tầng lớp nào, dục tính cá nhân vẫn len lỏi vào cuộc sống. Cái khác biệt không phải ở con người, mà ở tính chất con người. Nếu dục tính của lớp người quí tộc nhuốm đậm màu sắc kiêu sa, lãng mạn, thì dục tính của lớp người bình dân chỉ là thứ dục vọng đơn thuần, chất phác, biểu lộ qui luật tất yếu trong lẽ sống cá nhân.

AM « SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » dự án phi lợi nhuận của TVE-4U.ORG ebook©MotSAch —★— vte-4u© Nhà xuất bản : XUÂN THU USA 1975
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.