Thi Ca Bình Dân Việt-nam

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 68 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
I. Phương Pháp Sưu Tập
I. Phương Pháp Sưu Tập

❊ ❊ ❊

Phương pháp này làm công việc góp nhặt những tục ngữ, phong dao, rồi phân loại câu dài, câu ngắn theo số chữ, và sắp xếp theo mẫu tự từ A đến Y.

Nó là một phương thức của những người có nhiệt tâm đối với nền thi ca dân tộc. Họ làm cái việc giữ gìn kho tàng văn học của lớp người ở quá khứ cho thế hệ tương lai. Chủ trương của họ là sưu tập càng nhiều càng tốt mà họ gọi theo từ ngữ thời đại của họ là « quí hồ đa » không « quí hồ tinh ». Họ là những người vì thời gian thúc bách, vì lòng ưu ái thi ca dân tộc, vì nỗi lo âu về sự mài giũa ký ức con người, họ chỉ còn đủ thì giờ tạo sẵn những vật liệu : vôi, cát, gỗ, đá vv… cho ngôi nhà văn học bình dân mà chưa biết sẽ xây dựng theo lối kiến trúc nào ; nên họ vội vã xếp sẵn vật liệu riêng rẽ đâu vào đấy cho lớp người đi sau.

Thời gian trôi nhanh ! Rồi trách vụ của họ qua ! Hình hài của họ bị tàn tạ hay bị hủy diệt, chỉ còn lưu lại trong văn học nước nhà một dấu vết đóng góp chân thành.

Nhìn vào công trình thu góp của họ, nhà phê bình Trương-Tửu đã nói : « Chúng ta có đủ vôi cát để xây dựng ngôi nhà văn học bình dân rồi. »

Đưa ra nhận xét trên, tức ông Trương-Tửu vô hình trung xác định phương pháp sưu tập không phải là phương pháp phê bình văn học, mà chỉ có tác dụng trong việc chu cấp tài liệu.

Đành vậy, nhưng theo chúng tôi nghĩ, sưu tập là bước đầu của phương pháp phê bình. Có nhà phê bình nào thành công mà không nhờ vào tài liệu sưu tập. Vậy, sưu tập không thể tách rời khỏi phương pháp phê bình. Hơn nữa, công trình sưu tập nếu có một kỹ thuật tinh vi, dùng những hình ảnh thu nhặt được, sắp xếp thế nào cho người thưởng thức cảm thông được ý nghĩa của kẻ trình bày, thì đó cũng là một lối giảng luận không cần đến lời chỉ dẫn.

Một cành hoa cắm trong chiếc lọ, đặt ở cuối phòng, chủ nhân không nói với khách ý thức khiêm tốn của mình, nhưng khách vẫn hiểu được ý nghĩa đó.

Điều chúng tôi không thỏa mãn ở những quyển sách thuộc loại trên về cách trình bày số chữ theo câu dài, câu ngắn ; hình thức xem ra có trật tự, có mỹ thuật vì số chữ được đồng đều, nhưng về nội dung thì lại hỗn độn.

Tục ngữ, phong dao là sản phẩm của tâm tư, phản ảnh từ sinh hoạt xã hội ; người đọc muốn rung động theo chiều tâm tư ấy, không thể bắt tâm hồn mình ở vào trạng thái hỗn độn như vậy. Từ một câu tâm tình giữa trai gái, xen lẫn những câu đay nghiến, nguyền rủa xã hội, rồi pha trộn những câu có tính chất hài hước, châm biếm, người đọc có cảm giác như mình được mời vào một vườn hoa muôn nghìn hương sắc. Ta đang ngắm vùng cúc đọng sương, thì chủ nhân vội chỉ về cành hải đường lả ngọn. Ta vừa quay nhìn liền bị đập vào nhãn quang sắc vàng rực rỡ của đóa hướng dương, thì chủ nhân lại khoe màu thắm của hoa thược dược. Ta bị liên tục đón nhận sự biến đổi nhanh chóng của những màu vàng, xanh, trắng, đỏ – quá phức tạp ! quá hỗn độn ! – chồng chất lên ấn tượng khiến ta không nhận thức một sắc thái nào khả ái đối với mỹ cảm của mình. Như vậy là ta đã bị đưa đến một trạng thái hoa mắt vì màu sắc.

Nói chung, mỹ quan về màu sắc hay sự rung động về tình cảm đều bị mất tính chất thuần túy của nó.

Đến phương pháp sắp xếp theo « lối tự điển », chúng tôi thấy giá trị khảo luận của nó rất ít đối với thi ca. Khi ta muốn nói về lòng luyến ái thì không nhất thiết phải chữ « yêu » đứng đầu, như :

Con dao vàng rọc lá trầu vàng,

Mắt anh anh liếc, mắt nàng nàng đưa.

Đọc qua ta cảm ngay lòng của họ đang xao xuyến những gợn sóng tình, mà ta có thấy hình dạng chữ « yêu » nào đâu. Và đây, nếu ta đi tìm tình yêu theo tự dạng « yêu », ta sẽ bắt gặp :

Yêu nhau thời ném bả trầu,

Ghét nhau ném đá vỡ đầu nhau ra.

Yêu nhau cau bảy bổ ba,

Ghét nhau cau bảy bổ ra làm mười.

Tính chất yêu đương không thể tìm dễ dàng ở đây, trái lại ta chỉ thấy họ phải để tâm dè dặt, phòng ngự sự mâu thuẫn, sự phản động của ái tình.

Vả lại, « lối tự điển » còn gây ra luộm thuộm nhan nhản với những câu trùng hợp. Độc giả đã xem qua ở trước, có câu :

Gió đưa bụi chuối sau hè,

Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ.

Rồi sau đấy lại gặp :

Phất phơ bụi chuối sau hè,

Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ.

Ỡm ờ, ta có thể đặt thêm cho nó :

Đong đưa bụi chuối sau hè,

Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ.

Rồi quý bạn sẽ thấy nó biến thể theo thời gian hoặc địa phương tính như sau :

Nói chơi một chút không dè,

Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ,

Con thơ tay ẵm tay bồng.

Thương con đứt ruột, giận chồng bất nhơn.

Chỉ một chút khác biệt như thế đã không thể tra cứu được rồi, mà văn chương bình dân Việt-nam là văn chương truyền khẩu, ảnh hưởng từng ngôn ngữ địa phương, di lưu từ nhiều thế hệ, từ miền nọ đến miền kia, một câu cùng một ý nghĩa nhưng nói khác đi một vài tiếng là chuyện thường.

Ngoài cách sắp xếp trên, trong lối sưu tập còn có những quyển chia tục ngữ phong dao thành từng miền : Nam, Trung, Bắc.

Mục đích chia từng miền cốt làm nổi bật tính chất địa phương trong ca dao, tục ngữ, nhưng lối sắp xếp ấy cũng gặp nhiều bất tiện.

Trước hết, muốn phân chia, phải nắm vững nguồn gốc, xuất xứ của từng câu tục ngữ, ca dao. Đó là điều khó khăn không thể làm được, vì dân tộc Việt-nam đã cùng chung một ngôn ngữ, một hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội. Đành rằng phong tục mỗi miền tuy có khác nhau đôi chút song tâm tư người dân đối với lẽ sống không có gì dị biệt. Sự đồng hóa về tư tưởng làm cho người dân ở mỗi miền dễ trao đổi nhau về tình cảm. Do đó, ca dao, tục ngữ, sản phẩm của tâm tư người dân, từ miền này du nhập vào miền kia, và trở thành đồng hóa, mất hẳn tính chất địa phương, chỉ còn lại tính chất dân tộc.

Với loại văn chương truyền khẩu ấy, khi đã đồng hóa, và trải qua nhiều thế hệ, chúng ta còn căn cứ vào đâu để tìm ra tính chất địa phương nữa. Nếu ta có tìm được họa chăng ở một số ít những câu ca dao có mang tên địa phương nào đó. Nhưng chưa hẳn đã đúng ; bởi vì một câu ca dao ở miền này du nhập vào miền khác có thể được sửa đổi lại thành tính chất địa phương, mà thực ra địa phương ấy không phải là xuất xứ. Ví dụ như :

Chiều chiều quạ nói với diều,

Vườn cau kia rậm lại nhiều gà con.

Và câu ấy trở thành :

Chiều chiều quạ nói với diều,

Ngã kinh ông Hóng có nhiều vịt con.

Rồi câu ấy lại trở thành :

Chiều chiều quạ nói với diều,

Cù lao ông Chưởng có nhiều cá tôm.

Như thế chúng ta lấy gì để chứng minh câu ca dao ấy xuất xứ ở địa phương nào.

Giữ lấy tinh thần địa phương tức là chúng ta chưa thoát khỏi phạm vi chật hẹp – chúng tôi muốn nói riêng trên địa hạt tâm tư, trong tư tưởng giới của người dân Việt-nam.

Ngày nay chúng ta nên nhìn nhận sự đồng hóa tâm tư của dân tộc mà không nên đặt vấn đề tính chất địa phương đối với nền thi ca bình dân nữa. Sản phẩm của dân tộc hãy trả về của chung cho dân tộc.

Khi những dòng suối đã vượt thời gian, không gian chảy về sông lớn, đang cuốn gió reo lên muôn ngàn nhịp sóng, thì chúng ta đi tìm phân tách những giọt nước kia để làm gì ? Mà làm thế nào phân tách được khi mọi dòng suối cũng chỉ là nước, hay nói cách khác, mọi tâm tư trên đất Việt-nam vẫn là tâm tư của dân tộc Việt-nam.

AM « SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » dự án phi lợi nhuận của TVE-4U.ORG ebook©MotSAch —★— vte-4u© Nhà xuất bản : XUÂN THU USA 1975
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Nguyễn Tấn Long, Phan Canh

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.