Thi Ca Bình Dân Việt-nam

Lượt đọc: 34 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iii. Phản Ứng Giữa Con Người Với Lẽ Sống
Iii. Phản Ứng Giữa Con Người Với Lẽ Sống

❊ ❊ ❊

Qua hai phần trên (Bản năng tự tại và Liên quan giữa đời sống vật chất, tinh thần) mặc dù chúng ta đã xuyên qua mọi ảnh hưởng từ nội thức đến ngoại năng, nghĩa là chúng ta đã đem tâm tư con người đặt trước mọi biến chuyển của ngoại vật. Tuy nhiên, chiều hướng khảo sát của chúng ta chưa đặt nặng về trạng thái phản ứng. Trong phần này chúng ta mới phân tích rõ ràng hơn để tìm một định hướng trong quan niệm nhân sinh của người bình dân.

Trạng thái phản ứng là gì ?

Nó là sự khắc khoải, ưu tư, hằn học, bất mãn của tâm hồn chúng ta trước lẽ sống xã hội loài người.

Thế hệ chúng ta ngày nay cũng như những thế hệ tự nghìn xưa, cuộc sống loài người chẳng bao giờ đem đến cho chúng ta những thỏa mãn. Vì vậy trải qua dòng lịch sử của loài người, chẳng lúc nào tâm hồn con người không có những trạng thái phản ứng.

Trạng thái phản ứng lại không giống nhau, tùy thuộc vào tính chất mâu thuẫn của từng thế hệ. Nếu tự ngàn xưa chúng ta đã nghe tiếng rên than của lớp người chân lấm tay bùn sống trong đầu non hóc núi, tiếng hằn học nơi cửa các lầu son của những bậc phong lưu vì công danh chẳng đạt được, giọng sầu bi của những nhà thơ vì chán đời xem cuộc sống như một vũng bùn lầy… thì đó là những trạng thái phản ứng của con người trước lẽ sống. Họ phản ứng vì cuộc sống không đem lại những ước mơ của lòng họ. Họ phản ứng vì họ thấy cuộc sống đã đem đến cho họ những mất mát.

Chúng ta có thể tìm thấy trong đó hai trạng thái : tích cực và tiêu cực. Trạng thái tiêu cực là trạng thái ép mình chịu đựng những tiếng rên than, khắc khoải, ưu tư. Trạng thái tích cực là trạng thái phá phách chống đối, gây xáo trộn trong bánh xe lịch sử của xã hội loài người.

Thế hệ chúng ta, thế kỷ hai mươi, trước mắt, chúng ta đã chứng kiến một tiềm năng phản ứng, khủng khiếp của con người đối với cuộc sống. Tiềm năng phản ứng ấy là kết tinh của một khúc quanh lịch sử mà bên trong chứa đầy bất công mâu thuẫn trong guồng máy xã hội.

Chúng tôi xin trích những đoạn văn đối thoại giữa hai lớp trẻ và già đã sống và đang sống trên mảnh đất Việt-nam để chứng minh điều đó. Hai đoạn văn này cũng là hai trạng thái tâm tư đúc kết thành tiềm năng phản ứng trước cuộc sống đương thời.

« …Cũng như những người trong lớp tuổi các anh, các anh trách chúng tôi, lứa tuổi đôi mươi, là những thiêu thân của xã hội…

Các anh, nói chung đã không tiếc lời nhục mạ với đủ danh từ : cao bồi, du thủ du thực, đàng điếm, mất dại, không lý tưởng, non nớt, không tương lai, vv…

Phải, chúng tôi là những người đó, và chúng tôi bằng lòng chấp nhận với nụ cười, không bào chữa.

Không hãnh diện sao được khi chúng tôi biết sống cho chúng tôi, sống với thế hệ trẻ trung, để toàn nhựa sống vào lẽ sống ?

Ô ! Các anh tự hào là lớp người lớn tuổi, mang một mớ kinh nghiệm, hiểu đời, khôn ngoan, nhìn chúng tôi như những ung nhọt.

Được, các anh cứ nhìn chúng tôi với đôi mắt khinh bỉ đi. Chúng tôi không cần các anh chị nói đến chúng tôi, không cần những cái mà các anh gọi là « kinh nghiệm, khôn ngoan, hiểu đời… » Những cái đó không quan hệ gì cho lẽ sống chúng tôi cả.

Các anh đừng bắt chúng tôi phải sống cho các anh. Chúng tôi là tuổi trẻ, là tự do, là hồn nhiên, chúng tôi có quyền sống cho chúng tôi, sống cho tất cả nghĩa sống của nó.

Các anh bảo chúng tôi phải học theo khuôn sáo khôn ngoan, kinh nghiệm, hiểu đời của các anh ư ? Để làm gì ? Nếu không phải cúi đầu, ép mình làm nô lệ, đúc kết thành cái vỏ đạo đức bề ngoài, mà bên trong chứa đầy thối tha mục nát…

Chúng tôi xin nhắc lại : « Tuổi trẻ chúng tôi không cần những cái đó ». Các anh cứ để cho chúng tôi được sống. Trả lại hồn nhiên cho chúng tôi ! Các anh là những người đã chết. Thế giới các anh là thế giới nghĩa địa. Chúng tôi không buộc người chết phải sống lại, thì các anh cũng đừng buộc người sống phải chết theo mình.

Các anh « đã chết » vì các anh không còn « sức sống ». Chỉ có chúng tôi là kẻ đang sống. Và chỉ có người sống mới hòa vào xã hội những nguồn sinh lực mới lạ, vui tươi, dồi dào, mãnh liệt.

Còn nói đến lý tưởng… thì lý tưởng gì ? Có phải cúi mình khép nép để bảo vệ lấy thân hình thấp thỏi, nhỏ bé, để chịu nô lệ cho chén cơm manh áo nhục nhã.

Chúng tôi không cần lý tưởng. Không cần đặt một ảo vọng giả dối để lừa gạt mình. Chúng tôi sống cô đơn thật, nhưng lẽ sống chúng tôi hồn nhiên, trọn vẹn… Con người hồn nhiên không cần lý tưởng.

Mái nhà Việt-nam đang sụp đổ, đất nước Việt-nam đang ngửa nghiêng, mang đầy thương tích. Nơi rừng hoang, núi thẳm, và khắp nơi, máu của tuổi hai mươi đang chảy. Các bạn chúng tôi đang thay nhau ngã gục. Những mái đầu xanh biến thành những nấm mồ trên khắp bãi tha ma.

Hỡi người Mẹ Việt-nam thiêng liêng ! Mẹ khóc đi ! Máu chúng con đang hòa trong lòng Mẹ ! Xương thịt chúng con đang đắp vào những vết tích thương đau của Mẹ do lớp người trước, lớp người hiện tại gây nên !

Các anh ! Các anh tự hào khôn ngoan, kinh nghiệm, hiểu đời, lý tưởng, các anh đã làm được gì trong dĩ vãng và hiện tại ?

Dĩ vãng, các anh gây đau thương người Mẹ, để lại cho tuổi trẻ chúng tôi một điêu tàn ! Hiện tại, các anh thu mình vào nghĩa địa ma quái, trố mắt nhìn chúng tôi như những sinh vật thối tha, lạc lõng, nếu chúng tôi không xây đắp thêm ngôi nghĩa địa ma quái của các anh.

Lễ giáo, phong tục, đạo đức là gì mà các anh bắt chúng tôi phải theo ? Phải chăng những thứ ấy là một cỗ áo quan dùng để liệm người chết ?

Chúng tôi đang sống ! Các anh đừng đem liệm chúng tôi ! Các anh đã nằm vào đó, và chúng tôi đưa các anh đến nghĩa địa rồi.

Chúng tôi không muốn nhìn ngôi nghĩa địa của các anh, cũng như các anh khinh bỉ không nhìn đến chúng tôi đang chập chững trong mưa gió. Chúng tôi phải sống và giành quyền sống. Ngôi nhà đổ nát phải được dựng lại. Đồng cỏ xanh, bóng mát dịu, bướm đẹp hoa tươi phải có trong lòng đất Mẹ.

Chúng tôi phải đòi hỏi, phải xây dựng, phải tự mình đứng ra gánh vác với đôi vai mềm yếu, cô đơn, không mong ở các anh !

Các anh là những người chết ! Phải, chúng tôi đã lầm lạc, dại khờ hy vọng người chết xây đắp thế giới người sống ! Chúng tôi không đòi hỏi ở các anh một nghĩa vụ, thì các anh cũng đừng bắt chúng tôi phải chịu một trách nhiệm nào.

Chúng tôi sống cho chúng tôi !

Ngoài kia khắp nơi máu của tuổi chúng tôi đang đổ, đỏ ngòm và xối xả ! Tôi lại ngồi đây nói chuyện với người chết sao ? »

Trên đây là lời trách móc, hằn học, phản đối của lớp người trẻ, trong lứa tuổi hai mươi, và cũng là trạng thái phản ứng của họ khi họ đặt tâm tư trước cuộc sống. Họ oán trách lớp người đàn anh của họ, trong lứa tuổi bốn mươi, đã đem đến cho họ một cuộc sống điêu tàn, một xã hội đổ nát, một thảm trạng ê chề, trái ngược với ý muốn của họ.

Và dưới đây là lời đối thoại của lớp người đàn anh của họ, những người của lứa tuổi bốn mươi. Chính họ cũng là nạn nhân của lẽ sống, và lẽ sống cũng là yếu tố đưa tâm tư họ đến trạng thái khắc khoải, đau buồn :

« …Phải, chúng tôi là những người đã chết trong các em ! Tuổi các em lẽ ra phải yên hưởng hạnh phúc trên lòng đất Mẹ. Bàn tay chúng tôi, những người anh, lẽ ra phải tạo những dòng suối ngọt, những bóng mát dặm dài, những vườn hoa tươi, những con bướm thắm để các em hòa mình, nhởn nhơ trong nắng ấm, thì trái lại, các em phải đón những khổ đau, bi đát, hãi hùng ! Máu các em chưa phai mùi sữa đã phải đổ xuống ! Tuổi hồn nhiên các em đã rơi rớt từ thuở ngây thơ !

Các em hằn học, trách móc, gào thét, và tâm hồn các em « nổi loạn » ! Các em không muốn nói chuyện với chúng tôi, không cần tiếp xúc với những người anh của các em nữa !

Nhưng, các em ạ ! Hãy bình tĩnh ! Ngồi lại gần đây ! Tôi đã cảm thông sự giận dữ của các em rồi ! Tôi không buộc các em nghe những giáo điều, không dụ dỗ các em chui vào cỗ áo quan đâu.

Các em ạ ! Tôi rất sung sướng khi nhận thấy lòng các em còn thương Mẹ, còn nhận ra chúng tôi là anh, mặc dù các em không muốn nói chuyện với chúng tôi.

Các em không ngang ngạnh, bướng bỉnh, không hư hèn, hủ hóa. Các em với chúng tôi là dòng máu cùng một mẹ sinh ra, dù các em có ngảnh mặt đi, chúng tôi vẫn nhận được thực trạng tâm hồn và chân tướng của các em mà !

Nếu là hư hèn, thối hóa, các em không bao giờ nghĩ đến vết đau người Mẹ. Mà nghĩ đến Mẹ, các em không bao giờ từ bỏ chúng tôi, những người anh đã cùng ngậm chung một dòng sữa. Sở dĩ các em hủy hoại bản thân các em, làm cho tâm hồn các em trác táng, cuồng loạn, cũng chỉ để cho đã nư giận, cho vơi những hằn học đang nung đốt tâm can.

Thực chất các em không muốn thế ! Hình bóng các em chỉ là hình bóng giả tạo, các em cố gây ra những vết tích để oán ghét chúng tôi, những lớp người lớn tuổi đã bất tài, thiếu trí.

Nhưng chúng tôi đã đau đớn lắm rồi ! Các em đừng trách phạt chúng tôi nữa. Đừng hủy hoại những gì là của Mẹ đã sinh thành, ký thác vào tâm hồn, thể xác của các em, Mẹ đang cần sức sống của các em để hàn gắn lại vết thương, trả lại những gì đã mất mát.

Hỡi các em ! Các em là những mầm non đất nước. Trong người các em chứa đầy máu nóng. Sức sống rào rạt trong người các em là một nguồn sinh lực Việt-nam.

Dòng máu đang chảy trong huyết quản các em là dòng máu của Mẹ, của tiền nhân, của chúng tôi của các em của tương lai dân tộc. Nó là một tài sản, một sinh lực quí báu ! Người ta muốn hủy hoại, hoặc chiếm đoạt nó đi. Nhà tan cửa nát không quan ngại, chỉ ngại chúng ta bị tiêu diệt sức sống. Còn sức sống là còn xây dựng.

Chúng ta có thể chịu đau đớn, khổ cực đủ điều, nhưng không thể đánh mất nguồn sống của Việt-nam.

Chúng ta đã cằn cỗi, bao nhiêu sinh lực đổ dồn về các em. Các em như người đang nắm giữ lấy mạch sống của dân tộc, không nên lơ đãng để bị chiếm đoạt.

Chúng tôi rất đau đớn khi thấy các em bị mất mát ; vì các em là của chúng tôi. Tài sản các em là tài sản của chúng tôi. Nguồn sống của các em là nguồn sống Việt-nam. Chúng ta có nhiệm vụ bảo vệ trước kẻ cướp đoạt.

Nhưng, cái gì đã làm các em mất mát, cưỡng đoạt của các em ?

Nó là sự đồi trụy : Đáng lẽ sinh lực các em phải được đâm chồi, nẩy hoa, kết trái để tô điểm cho giang sơn gấm vóc, đem lại những dòng suối ngọt, những bóng mát rợp đường, những vườn hoa thơm ngát, thì các em đã tự hủy hoại nó đi bằng cách lao mình vào các cuộc truy hoan. Vì các em không thể sống trong cằn cỗi, trong cõi chết. Các em tự tìm cho nguồn sinh lực một lối thoát, nhưng là một lối thoát hiểm nghèo ! Các em đã sống trong cõi chết rồi ! Thể chất các em sớm tàn tạ, tinh thần các em bạc nhược, đôi mắt trong của các em không còn mơ màu suối, tóc xanh các em vàng úa ! Hình bóng ấy đâu phải hình bóng các em, hình bóng đích thực của Mẹ sinh ra các em. Đó là dấu vết thương tích do kẻ cướp đã hủy hoại thân xác các em để đoạt lấy nguồn sinh lực quí báu, phá vỡ tiềm năng sinh lực của tổ quốc thân yêu.

Nó là xa hoa, phung phí : Loài người cần có những phương tiện để sống, nhưng không phải để là nô lệ cho các phương tiện ấy.

Không, các em đừng nghĩ rằng chúng tôi đưa ra giáo điều buộc các em vào cái vỏ đạo đức muôn đời.

Chính cuộc sống hào nhoáng, giải dối bên ngoài đã cướp đoạt tuổi hồn nhiên, trong trắng của các em, đưa các em vào thế giới ma quái, độc ác, mà chính các em đã phải khổ đau, hờn trách. Nó là liều thuốc độc, nhưng rất quyến rủ, làm cho tâm hồn các em không còn tự chủ nữa, lý trí không còn là của các em mà trở thành sản phẩm nô lệ của vật chất. Các em bị nó lôi vào vòng xâu xé, biến các em thành những tên lính của đoàn quân ma.

Là tên lính của đoàn quân ma tất cả các em phải chiến đấu cho thế giới ma quái, hòa mình trong hỗn hoạn, ảo ảnh và làm bất cứ điểu gì để chiến thắng. Và, sau những cơn vật lộn, các em chỉ thấy toàn là chiến bại, vì thế giới xa hoa là thế giới ảo ảnh, các em không thể nào bỏ túi những chiếc bóng đẹp không phải là vật thực.

Khi các em đã sa vào cõi ma quái ấy, các em càng chạy xa càng thấy mất gốc, và cho đến ngày các em kiệt sức, không còn biết mình là ai nữa, thì lúc đó các em đang sống trong cõi chết, mà lý trí các em cứ tưởng như mình đang tranh thủ, tìm một cuộc sống tươi đẹp.

Phải ! Ý sống bao giờ cũng vương đến chỗ tươi đẹp. Nhưng tươi đẹp mà chúng ta đi tìm không phải là cái tươi đẹp giả dối bề ngoài. Nếu các em trông thấy cái đẹp hào nhoáng của đô thị phồn hoa thì các em cũng không thể từ chối cái đẹp hồn nhiên, mộc mạc của ngôi nhà lá, của dòng suối trong, của vườn cây sum trái, của đồng ruộng bao la. Các em thích ngửi mùi rượu hoa tối tân thì các em cũng không thể không thoải mái khi hít thở luồng gió mát trong lành, khoáng đãng, đượm mùi đất nước thân yêu. Các em say sưa trước một bản nhạc tân kỳ thì các em cũng không thể không cảm động khi nghe tiếng hát người mẹ ru con bên chiếc nôi nhỏ, những tiếng chim lảnh lót nơi khung trời quê ! Thế thì những cái tươi đẹp cần cho cuộc sống loài người đâu phải tuyệt đối. Các em vẫn sống xa mùi phung phí mà vẫn đủ phương tiện để sống, không phải giành giựt của ai, hay bị ai giành giựt.

Nói như thế không có nghĩa là kéo lui các em trở về thế giới lạc hậu. Chúng ta không chủ trương như thế. Chúng ta cần phải vươn lên, sáng tạo, kiến thiết, và hưởng thụ những gì chúng ta đã tạo được. Chúng ta chỉ hưởng thụ những công trình do chúng ta làm nên, không ngửa tay xin bố thí của kẻ khác. Chúng ta không làm những con thiêu thân trước ánh đèn, làm nô lệ của thế giới xa hoa, làm những con diều hâu độc ác lượn quanh đống xác chết đang nằm gục trên khu nghĩa địa của thế giới ma mị.

Nó là ý thức tiêu cực : Không ai đem đến chúng ta một công trình, một sự nghiệp, một vinh dự, nếu không tự tay chúng ta xây dựng. Là tuổi xanh, tất nhiên các em có rất nhiều hoài vọng đối với non sông, tổ quốc. Nhưng ác nghiệt thay là guồng máy xã hội, cái mà con người tạo ra để làm phương châm cho xã hội, thì chính nó trở lại khống chế con người. Con người bắt buộc chui vào khuôn khổ ấy để rồi phải bất mãn, từ chối bản ngã chân thật của mình. Guồng máy xã hội sẽ đập vào lưng những ai bước ra ngoài vòng của nó. Thân phận con người đã bi thảm lại càng bi thảm hơn, đã không đủ sức phá vỡ áp lực của guồng máy còn bị nó gây nên thương tích, điêu đứng và diệt vong. Vậy muốn an thân, con người phải cúi đầu khuất phục mệnh lệnh của số phận.

Đứng trước những đe dọa tiêu diệt nhân tính của guồng máy xã hôi, những vết tích thương đau đổ vỡ, và mọi thảm kịch của cuộc sống, người trẻ tuổi hôm nay vừa bàng hoàng vừa phẫn nộ, vừa khủng khiếp vừa xót xa.

Các em tự thấy mình quá yếu đuối. Yếu đến nỗi không còn đủ sức vươn lên nữa. Và ý thức tiêu cực, cầu an, len lỏi vào đầu óc các em.

Các em phải làm những gì các em không thích, yêu chuộng những cái các em không ưa. Các em phải học đòi những giả dối của cuộc đời mà hàng ngày đem đến cho các em niềm ngao ngán, buồn tẻ. Các em đã kẹt vào guồng máy xã hội và ý chí đấu tranh, xây dựng, sáng tạo, tìm tòi, phát triển trong thể chất trẻ trung của các em bị cằn cỗi dần, tiêu diệt dần cho đến lúc kiệt sức. Nguồn sinh lực các em không còn bồi đắp được gì cho tổ quốc, non sông nữa.

Ý thức tiêu cực, cầu an là kẻ thù của tuổi trẻ. Nó đoạt mất năng lực hoạt động trong bản ngã chân thật của các em.

Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa là khuyến khích các em nên hỗn loạn, vì hỗn loạn sẽ bị thương tích, tiêu diệt. Mà những thương tích, tiêu diệt là nguyên nhân của tiêu cực, cầu an. Các em cần phải chiến đấu, xây đời, cải tạo xã hội, vươn mình lên thế giới tươi đẹp hơn. Chiến đấu, cải tạo không có nghĩa là tự mình nổi loạn, đập phá, hủy hoại mà là cải tạo từ cái nhỏ đến cái lớn, từ cá nhân đến đoàn thể, từ gia đình đến xã hội với đức tính kiên trì, có đường lối, có tổ chức. Đó là việc làm khó khăn đối với tuổi trẻ. Các em là lớp người nóng nảy, bồn chồn, liều lĩnh, có thể gặp nhiều lầm lỗi, thất bại, nhưng nếu các em không để cho ý thức mình chìm vào lãnh vực cầu an, tiêu cực thì rồi các em sẽ trở thành những con người giàu khả năng kinh nghiệm trên đấu trường… »

Trên đây là tiếng kêu than của lớp người đương thời, lớp người của thế hệ chúng ta. Họ đã kẹt vào bánh xe xã hội, guồng máy độc ác của loài người. Họ đã sống và mang những vết tích trong tâm tư họ, để dần dần đi đến hủy hoại, tiêu diệt trong lúc đó bánh xe xã hội vẫn lăn đều, giam hãm con người vào định luật.

Tiếng kêu than của nạn nhân xã hội không ngớt. Nó đã phát xuất tự ngàn xưa và kéo dài đến hiện tại, tương lại, và mãi mãi.

Tiếng kêu than đó là gì ?

Là những mảnh tâm hồn tan vỡ, những thể chất bị diệt vong trên đấu trường, những yếu đuối của con người trước guồng máy xã hội. Nói chung, là mọi phản ứng của con người trước lẽ sống.

Trích hai đoạn văn đối thoại trên đây để chứng minh trạng thái phản ứng của con người trong thế hệ chúng ta, gần gũi với chúng ta, để lấy nó làm nền tảng đi tìm những phản ứng trong tâm tư của người xưa đối với lẽ sống, chúng tôi tưởng rằng không phải vô ích.

Chúng tôi cũng thừa nhận rằng trạng thái phản ứng của tâm tư đối với cuộc sống qua mỗi thời mỗi khác, không thể giống nhau. Tuy nhiên, dù trạng thái có đổi khác, tính chất vẫn là một. Tính chất ấy là sự mâu thuẫn giữa tâm tư và cuộc sống, sự mâu thuẫn giữa con người và con người, để sau cùng đem những thực tiễn trong lẽ sống đúc kết thành một nhân sinh quan, cải tiến xã hội.

Bây giờ chúng ta trở lại thế giới bình dân thời xưa trên ba tính chất ấy.

AM « SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » dự án phi lợi nhuận của TVE-4U.ORG ebook©MotSAch —★— vte-4u© Nhà xuất bản : XUÂN THU USA 1975
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.