Thi Ca Bình Dân Việt-nam

Lượt đọc: 34 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
C) Biến Thái Của Tình Yêu
C) Biến Thái Của Tình Yêu

❊ ❊ ❊

Tại sao chúng ta phải đặt ở đây vấn đề « biến thái của tình yêu » ?

Khi nói đến biến thái của tình yêu tức là trong ý thức chúng ta cảm thấy có một tình yêu « nguyên trạng ». Bởi vì không có nguyên trạng thì không có biến thái.

Vậy tình yêu thế nào là nguyên trạng ? Thế nào là biến thái ?

Đó là một vấn đề phức tạp, khó khăn trong lãnh vực ái tình mà khi chúng ta đứng trước dòng lịch sử tâm tư đã phơi bày qua các thế hệ, tạo thành những chức tích của thời gian, chúng ta không có quyền chối bỏ, không suy cứu.

Chúng ta không thể làm một nhà nghệ sĩ, đem cảm giác rung theo mọi tác động trong nhịp điệu yêu đương. Công việc chúng ta ở đây là phải soát xét lại tính chất của những hiện tượng đã phát sinh tự ngàn xưa, tìm trong hiện tượng ấy những nguyên nhân đưa tâm tư con người từ chỗ đơn thuần đến chỗ phức tạp bằng trạng thái xã hội.

Khi nói đơn thuần và phức tạp chúng ta cũng lại nói đến tính chất diễn biến cả sự vật, và cũng có nghĩa là chúng ta xác định tình yêu cũng như mọi hiện tượng khác, đều phát sinh bởi một nguồn gốc và chịu ảnh hưởng qua trạng thái tâm tư diễn biến thành một hệ thống lịch sử song hành với diễn biến sinh hoạt loài người.

Tình yêu ! Chúng ta đừng tưởng là vấn đề muôn thuở ! Đành rằng nó là yếu tố sinh tồn trong vũ trụ, mang qui luật tất yếu của thiên nhiên, song cái bất di bất dịch của nó chỉ có nghĩa trên phương diện căn bản mà không có nghĩa trên phương diện tính chất. Xưa nay, loài người không ngớt ca tụng và nguyền rủa ái tình cũng chỉ vì trạng thái biến dịch của nó.

Trạng thái biến dịch được chúng tôi gọi ở đây bằng danh từ « biến thái ».

Nếu xã hội loài người thoát thai từ bản chất cá nhân đi vào bản chất tập thể, gây thành một chuỗi mâu thuẫn chứa đựng qua thời gian nối tiếp nhau không ngừng, thì tình yêu con người cũng thoát thai từ bản chất thiên nhiên trong lãnh vực cá nhân đi lần vào bản chất mâu thuẫn tập thể, và chịu mọi ảnh hưởng trước cuộc sống. Sự diễn biến ấy là nguồn gốc của biến thái, và đồng thời cũng có nghĩa là nguồn gốc của qui luật ảnh hưởng và mâu thuẫn.

Vậy thế nào là ảnh hưởng ? Thế nào là mâu thuẫn ?

Qui luật ảnh hưởng là qui luật của chiều xuôi, do sức sống chung của xã hội loài người lôi cuốn, bắt buộc tâm tư con người phải họa theo để bảo tồn sinh lực cá nhân trong sinh lực của tập thể. Còn qui luật mâu thuẫn là qui luật của chiều ngược. Nó là năng lực tiềm tàng, có tính cách phá hoại những gì đã thành hình để biến đổi, canh cải. Do đó, đời sống loài người cũng như trạng thái tâm tư luôn luôn tiến tới, tạo thành dòng lịch sử nhân loại.

Lãnh vực tình yêu cũng thế. Nếu chúng ta chỉ sống một chiều theo qui luật ảnh hưởng, nghĩa là tạo cho xã hội một khuôn khổ, rồi bắt luyến ái quan chúng ta khép vào nguyên tắc ấy thì tình yêu của loài người coi như đứng yên một chỗ, và bị tiêu diệt, vì nó thiếu sức mâu thuẫn để tự tồn, và không có năng lực phát triển. Cho nên sức mâu thuẫn ấy chúng ta có thể gọi là sức phá hoại, đồng thời cũng có thể gọi là sức kiến thiết. Bởi vì trong lúc lẽ sống của tập thể luôn luôn hình thành những khuôn khổ, thì chính sức mâu thuẫn tiềm tàng trong mỗi cá nhân chúng ta lại luôn luôn hướng đến chỗ phá hoại những khuôn khổ ấy, để rồi tập thể lại hình thành những khuôn khổ khác, và cứ thế tiếp diễn mãi trên dòng thời gian. Cho nên, sự diễn biến của xã hội loài người nằm trong qui luật ảnh hưởng và mâu thuẫn, mà sự tiến bộ của loài người chỉ là sự nối tiếp những khuôn khổ được hình thành và bị phá vỡ, chồng chất lên nhau.

Lịch sử tình yêu của loài người đã bắt đầu tự nghìn xưa, và qui luật ảnh hưởng và mâu thuẫn trong tình yêu cũng bắt đầu tượng hình khi loài người đem tình yêu hòa vào cuộc sống, Bởi vậy, dù ở xã hội nào, thời đại nào, trạng thái tình yêu trong tâm tư con người cũng gồm vào ba tính chất : tính chất nguyên trạng, tính chất ảnh hưởng và tính chất mâu thuẫn.

1) Tính chất nguyên trạng là tính chất của tình yêu nguyên thủy, phát nguyên từ qui luật sinh tồn nòi giống, nó biệt lập với cuộc đời, riêng rẽ với sinh hoạt xã hội, không bị thời gian, không gian chi phối. Một cô gái đến tuổi cập kê, một chang trai đến tuổi xuân thì, dù ở một thời đại nào, của một dân tộc nào vẫn cảm thấy lòng tha thiết yêu đương. Họ cần yêu, và phải sống trong yêu đương do bản năng tự tại.

Cho nên, trong thi ca bình dân Việt-nam, chúng ta thấy những tâm tư ấy xuất hiện bàng bạc :

Anh về sương gió lạnh lùng,

Ở đây chung gối, chung mùng với em.

Hoặc :Gái chưa chồng trông mong đi chợ,

Trai chưa vợ thơ thẩn ngoài đường.

Thì đó chính là tính chất thuần túy của yêu đương. Tâm tư họ chỉ hướng về mục tiêu đáp ứng những khát vọng trong người họ chứ không liên hệ gì đến cuộc sống bên ngoài.

Trong lãnh vực này, chúng ta thấy tình yêu chỉ là một hiện tượng đơn thuần, bất di bất dịch. Nhưng khi hiện tượng đơn thuần ấy phát lộ ra ngoài, và được sự đáp ứng của ngoại năng thì hiện tượng ấy không còn đơn thuần nữa, mà bắt đầu đi vào lãnh vực biến thái trên hai tính chất ảnh hưởng và mâu thuẫn.

2) Tính chất ảnh hưởng là tính chất hòa hợp giữa nội cảm và ngoại năng. Nói cách khác thì cảm giác yêu đương trong con người bị hòa vào cuộc sống.

Mọi hiện tượng khi đã hòa vào cuộc sống thì không còn giữ được đơn thuần nữa. Với tình yêu cũng thế. Sự rạo rực yêu đương khi đã được tình yêu bên ngoài đáp ứng thì chúng ta cảm thấy có sự chi phối trước nhất về thời gian và không gian.

Thời gian, không gian đem lại cho tình yêu những khắc khoải đợi chờ, ngăn cách. Ví như :

Núi cao chi lắm núi ơi,

Núi che mặt trời không thấy người thương.

Hoặc :Anh về để áo lại đây,

Đêm khuya em đắp, kẻo gió tây lạnh lùng.

Tâm tư ấy chính yêu đương đã đi vào không gian, và bị không gian chi phối. Cảm giác tình yêu bị chia cách bởi núi sông, gieo vào lòng người một mối buồn, thì cũng có nghĩa là tình yêu không còn độc lập với thiên nhiên nữa.

Một dòng sông chảy lững lờ, một con đò nằm trên bến, một nhịp cầu tre bắc ngang gành suối… đó là những biểu tượng ngăn cách không gian, nên khi tình yêu đã chịu ảnh hưởng vào không gian thì những biểu tượng ấy cũng mang những dấu vết của yêu đương. Ví như :

Không đi thì nhớ thì sầu,

Có đi thì mắc cái cầu cái mương.

Không đi thì thảm thì thương,

Có đi thì mắc cái mương cái cầu.

Hoặc :Trăm năm dù lỗi hẹn hò,

Cây đa bến cũ con đò năm xưa.

Hay :Qua cầu than thở cùng cầu,

Cầu bao nhiêu nhịp, dạ em sầu bấy nhiêu.

Trạng thái đơn thuần của tình yêu không còn nữa. Không gian đã ảnh hưởng vào tình yêu, tạo cho tâm tư con người có một cảm giác liên hệ giữa tình yêu với khoảng cách của ngoại vật.

Và, chính khoảng cách ấy có lúc lại làm chủ trong lãnh vực hôn nhân. Dưới đây là điển hình chứng cớ ấy :

Ăn cam ngồi gốc cây cam,

Lấy anh thì lấy, về Nam không về.

Hoặc :Có con mà gả chồng gần,

Nửa đêm gà gáy, mang phần đến cho.

Có con mà gả chồng xa,

Ba sào ruộng tréo chẳng ma nào cày.

Như vậy, chúng ta thấy rõ ràng không gian đã chi phối tình yêu, đưa tình yêu vào trạng thái biến đổi của vạn hữu.

Bản năng tình yêu đã phải khổ cực để chiến thắng ảnh hưởng của không gian như :

Thương nhau mấy núi cũng trèo,

Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.

Và chúng ta cũng lại thấy bản năng tình yêu đã phải đầu hàng trước mãnh lực chi phối của không gian như :

Tiếng ai than khóc nỉ non,

Như vợ chú lính trèo hòn Cù-mông !

Thì chúng ta không thể đặt tình yêu ngoài ảnh hưởng của không gian được.

Tuy nhiên, không gian cũng chỉ ảnh hưởng một phần nào thôi. Tình yêu còn phải chịu ảnh hưởng rất nặng trước thời gian.

Một bóng mặt trời qua thiên đỉnh, một tờ lịch rơi xuống, một tiếng tíc tắc đồng hồ đều ảnh hưởng đối với thân phận con người và vạn vật. Nó đánh dấu mọi biến chuyển, thay đổi trong vũ trụ.

Chúng ta thường được nghe tiền nhân hát lên những câu như :

Còn duyên như tượng tô vàng,

Hết duyên như tổ ong tàn ngày mưa.

Còn duyên kẻ đón người đưa,

Hết duyên đi sớm về trưa một mình.

Hoặc :Ngồi buồn lo bảy lo ba

Lo cau trổ muộn, lo già hết duyên.

Thì thấy rõ ràng thời gian đã đi vào tâm tư con người, tạo thành sức mạnh, ảnh hưởng vào lãnh vực tình yêu, khiến cho tình yêu phải lệ thuộc vào thời gian.

Tại sao người con gái phải lo lắng khi đến tuổi xuân thì ? Tại sao khi nói đến tình yêu chúng ta phải nói đến sắc đẹp ? Đó chính là tâm tư chúng ta đã chịu sự chi phối của thời gian, và cũng có nghĩa là chúng ta nhìn nhận tác động của thời gian cũng là tác động của tâm tư con người và mọi biến chuyển của thời gian là mọi biến chuyển của cuộc sống.

Trước ảnh hưởng mạnh mẽ ấy, người xưa đã băn khoăn, để rồi tự mình đem tình yêu hòa hợp với biến chuyển thời gian, như :

Liệu cơm mà gắp mắm ra,

Liệu cửa, liệu nhà mà lấy chồng đi.

Kẻo mai quá lứa lỡ thì,

Cao thì chẳng tới, thấp thì không thông.

Ý thức hối hả, vội vàng, chính là ý thức của thời gian, nó nằm trong trạng thái biến đổi của sự vật. Chỉ có thời gian mới làm cho sự vật biến đổi, và tâm tư con người cũng không thể đứng yên trước mọi biến đổi của sự vật.

Bởi vậy, chúng ta không lấy làm lạ khi trong xã hội phong kiến,tính chất duy lý của nền giáo dục Khổng Mạnh bị rạn nứt, những biến thái của tình yêu âm thầm phá vỡ những ràng buộc của giáo lý. Và chính trong lớp người bình dân cũng đã nhận định được khả năng lý trí không thể đặt tâm tư còn người ra ngoài vòng ảnh hưởng của vũ trụ, nên họ đã mạnh dạn nói lên :

Ai ơi ! Chơi lấy kẻo già,

Măng mọc có lứa, người ta có thì.

Chơi xuân kẻo hết xuân đi,

Cái già xồng xộc nó thì theo sau.

Tiếng nói liều lĩnh của họ chính là trạng thái biến động của tâm tư trong lãnh vực tình yêu đối với ảnh hưởng của thời gian.

Trên đây chúng ta mới đặt tình yêu con người qua hai ảnh hưởng của thời gian, không gian, mà trên thực tế, tình yêu con người lại không chỉ ảnh hưởng vào thời gian, không gian. Nó còn chịu ảnh hưởng trực tiếp vào lẽ sống con người nữa.

Chúng tôi muốn nói đến guồng máy tổ chức xã hội. Đó là những định luật, những khuôn khổ bảo tồn quyền sống chung trong tập thể con người.

Xã hội loài người thành hình để bảo vệ trật tự cho cuộc sống thì áo cơm lại chi phối mọi tình cảm con người. Tình yêu con người không thoát ra ngoài tầm ảnh hưởng của cơm áo. Do đó, lẽ sống chi phối vào tình yêu, làm cho tình yêu con người biến đổi qua nhiều trạng thái.

Yếu tố ấy không phải ngày nay trong thế hệ chúng ta mới ý thức được, mà ngay người xưa, lớp người bình dân mộc mạc, sống trong thửa ruộng nương dâu, trong bùn lầy nước đọng vẫn quan niệm như thế. Họ vẫn thấy tình yêu không thể tách rời cuộc sống thực tại, và chính cuộc sống thực tại là cái khuôn khổ uốn nắn tình yêu con người vào trong hình thái của nó. Cho nên, biến tướng của tình yêu cũng là biến tướng của xã hội. Trạng thái xã hội thay đổi thì trạng thái tình yêu cũng thay đổi theo. Chúng ta có thể hình dung mọi tổ chức xã hội như những vật chứa đựng, mà trạng thái tâm tư con người như mực nước. Mực nước lúc nào cũng lan tràn, tìm hình thái của vật chứa đựng để tác thành hình thái của mặt nước.

Dựa trên quan điểm ấy, chúng ta có thể đi tìm những biến thái của tình yêu qua các thời đại không khó khăn lắm. Bởi vì biến thái chỉ là hiện tượng của cuộc sống.

Người bình dân Việt-nam thời xưa sống bằng sức lao động, sự khổ cực ấy đem đến cho họ ý thức tự lực, tự cường, do đó, trạng thái tình yêu đối với họ có vẻ khoan hòa, chân thật, ít có những lừa gạt, phỉnh phờ. Tuy nhiên, khuôn khổ của họ là một chế độ chính trị phong kiến, cảnh sống giàu nghèo, sang hèn rất cách biệt, luật pháp không ưu đãi họ. Họ là đối tượng của khinh rẻ, ruồng rẫy, đe dọa… Ảnh hưởng ấy đã lôi cuốn họ vào cuộc sống thực tiễn, muốn thoát ra khỏi lãnh vực bình dân, hòa mình vào cơm áo, vươn lên địa vị giàu sang, tức là tâm tư họ đi vào biến thái. Họ là mặt nước, luôn luôn hình thành trong khuôn khổ của vật chứa. Chính vì vậy mà cuộc sống biến sinh mâu thuẫn, gây thành xáo trộn đối với tâm tư. Biến thái của tình yêu một phần do ảnh hưởng ấy.

Với qui luật ảnh hưởng, chúng ta tuần tự đi tìm những biến thái của tình yêu qua từng lãnh vực của chế độ xã hội.

Trước hết, trong lãnh vực kinh tế, chúng ta phải nhìn nhận rằng tình yêu chịu ảnh hưởng rất mạnh.

Điều đó đã chứng minh rõ ràng trong ca dao Việt-nam. Ví dụ :

Áo dài chẳng nệ quần thưa,

Bảy mươi có của, cũng vừa mười lăm.

Hoặc :Em ham giàu em lấy thằng bé tí ti,

Làng trên xã dưới thiếu gì trai tơ.

Tiền của đã chế ngự hẳn tình yêu, biến tình yêu trở thành vật lệ thuộc. Nếu có những kẻ lợi dụng tình yêu khai thác cơm áo, biến tình yêu thành cơm, thành áo, thì cũng có kẻ dùng cơm áo mua chuộc tình yêu, biến cơm áo thành duyên, thành nợ.

Chẳng những tiền của ngự trị trên lãnh vực tâm tư mà còn ngự trị trên cả quan điểm nghệ thuật của con người nữa. Sự kiện ấy đã được mô tả trong tục ngữ, ca dao, như :

Nhiều phân lúa tốt, nhiều lụa tốt l…

Hoặc :Hơn nhau tấm áo manh quần,

Cởi ra bóc trần ai cũng như ai.

Cho nên, cuộc sống càng phức tạp, loài người càng xâu xé nhau thì ảnh hưởng kinh tế càng xâm nhập vào tình yêu, làm cho trạng thái tình yêu biến đổi một cách đột ngột.

Ảnh hưởng kinh tế và ảnh hưởng chính trị lại đi đôi nhau. Nếu cơ sở kinh tế là nền móng của tổ chức chính trị, thì tổ chức chính trị ngược lại là để bảo vệ cho nền móng kinh tế.

Nước Việt-nam thời xưa, nền kinh tế nông nghiệp đã đẻ ra chế độ chính trị phong kiến, hình thành rất nhiều giai cấp phức tạp. Địa vị xã hội trong guồng máy chính trị quyết định tầm mức sinh hoạt của con người. Do đó, chế độ chính trị lại ảnh hưởng vào tâm tư, biến con người lệ thuộc vào ảnh hưởng chính trị. Người ta nhận thấy địa vị xã hội là chiếc chìa khóa mở cửa vào cảnh giới phong lưu, ở đó tạo được nhiều ưu thế đối với lẽ sống bản năng. Yếu tố ấy đưa tình yêu vào hấp lực của guồng máy chính trị. Từ ngàn xưa, chúng ta vẫn thấy địa vị của giai cấp là đối tượng đấu tranh của xã hội loài người. Ca dao Việt-nam đã chứng minh điều đó trong lãnh vực hôn nhân, như :

Mua heo chọn nái,

Mua gái chọn nòi !

Hoặc :Trứng rồng lại nở ra rồng,

Dù sao đi nữa con dòng cũng hơn.

Dòng giống ở đây có nghĩa là giai cấp quí tộc, những kẻ sinh trưởng trong gia đình có ưu thế về chính trị. Và như vậy cũng có nghĩa là địa vị xã hội đã đi vào bản chất của tình yêu, chi phối mọi tình cảm con người.

Chúng ta không lấy làm lạ, khi một cô gái đương thì có những tham vọng như :

Không tham ruộng cả ao liền,

Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

Hoặc :Không tham vựa lúa anh đầy,

Tham năm ba chữ cho tày thế gian.

Hay :Yếm thắm mà vã nước hồ,

Vã đi vã lại anh đồ yêu đương.

Trong chế độ phong kiến, anh đồ tượng trưng cho địa vị xã hội, tượng trưng cho những kẻ được ưu đãi trong guồng máy chính trị, cho nên ảnh hưởng chính trị đi vào tình yêu bắt đầu bằng những tham vọng ấy.

Chúng ta cũng lại thấy họ bảo nhau :

Tai nghe quan huyện đòi hầu,

Mua chanh mà gội cái đầu cho thơm.

Thì đó cũng là trạng thái biến động của tình yêu trước ảnh hưởng chính trị mà thôi.

Ảnh hưởng kinh tế và chính trị đã đưa bản chất tình yêu đến chỗ hy sinh cực độ. Tình cảnh làm lẽ làm mọn của đàn bà cũng chính là do hai ảnh hưởng về kinh tế, chính trị tạo nên. Chế độ chính trị phong kiến đã từ chối địa vị đàn bà trong xã hội, chỉ có người đàn ông mới có địa vị xã hội mà thôi. Người đàn bà muốn đạt được địa vị xã hội không còn cách gì hơn là nương bóng người đàn ông. Cái khuôn khổ bất bình đẳng ấy đã uốn nắn tâm tư người đàn bà phải chui luồn vào trạng thái sinh hoạt xã hội.

Trên đây chúng ta chỉ mới đặt tình yêu trước áp lực của ngoại năng. Nghĩa là chúng ta cũng mới kiểm điểm trạng thái biến động của tình yêu qua các tác động của thời gian, không gian, và sinh hoạt xã hội. Những tác động ấy đều nằm ngoài thể xác chúng ta cả. Mà trạng thái biến động của tình yêu nếu chỉ căn cứ vào tác động của bên ngoài thì chưa đủ. Chúng ta phải nói đến tác động của nội tính con người nữa. Nội tính con người cũng biến dịch, cũng ảnh hưởng vào tình yêu và bắt tình yêu phải biến động theo chiều hướng của nó.

Vậy nội tính là gì ?

Nó là sự phát triển và tàn tạ của thể chất con người, tạo cho tình cảm con người, tạo cho tình cảm con người một khả năng biến dịch. Tình yêu lệ thuộc vào cảm tính con người nên phải chịu ảnh hưởng ấy.

Trong quyển Liều thuốc ngoại tình do Sống Mới xuất bản năm 1958, ông Hồng Trung có phân tích về cảm tính con người trong lãnh vực tình yêu. Ông viết :

« Khác với mọi sinh vật khác, con người có một bộ óc tinh vi, có những luồng cảm giác tế nhị, do đó ái tình con người lệ thuộc vào cảm tính nhiều hơn.

Cảm tính lệ thuộc vào thể chất con người, và nó cũng là sản phẩm của thể chất.

Nếu thể chất cần phải được ăn uống để bồi dưỡng, thì cảm tính con người cũng đòi hỏi một khả năng cung ứng để thỏa mãn khát vọng của nó.

Một áng mây chiều trôi qua trước khi tắt nắng, chúng ta đón nhận lấy sắc đẹp ấy. Một điệu nhạc trầm buồn nổi lên, lòng ta nhận cảm kích, đê mê… Hiện tượng ấy chính là nhu cầu của cảm tính con người. Nó là sức sống, là sự đòi hỏi dục vọng của cảm tính. Tình yêu chúng ta cũng xuất phát từ nguồn gốc ấy.

Tuy nhiên, cảm tính con người lệ thuộc vào thể chất, vào hoàn cảnh xã hội nên phát triển không giống nhau, và không đồng đều. Có kẻ thích cái đẹp lả lướt, có kẻ thích cái đẹp khoan hòa, có kẻ thích cái đẹp mạnh mẽ… còn về âm thanh, có kẻ thích nghe những giọng trầm buồn, có kẻ lại thích nghe những giọng thanh tao, mộc mạc… Tóm lại, cảm giới mỗi người trong chúng có một trình độ không ai giống ai, và cũng có một nhu cầu của cảm giác.

Khi chúng ta thích tức là chúng ta đang thiếu thốn trong người những cảm giác đó, và cảm giác chúng ta đang đòi hỏi được hưởng thụ…

…Cảm giác trong mỗi con người chúng ta đã khác nhau, lại không cố định. Nó tùy thuộc vào sự phát triển của thể chất theo thời gian. Cho nên, đôi vợ chồng mới lấy nhau thường khi thương yêu nhau, rồi cách một thời gian sau đó họ lại ghét bỏ nhau. Nguyên do là tại trình độ cảm giác của mỗi người bị chênh lệch hoặc trái ngược. Nhu cầu cảm giác của hai bên không còn thích hợp để cung ứng nhau nữa. Người ta đâm ra ngoại tình, hoặc có kẻ say mê thầm lén, phá vỡ hạnh phúc gia đình cũng chỉ vì cảm giới của họ bị biến thái, mà khả năng cung ứng giữa đôi vợ chồng không còn phù hợp. »

Với quan điểm trên, chúng ta thấy rằng tình yêu là một trạng thái biến dịch, ảnh hưởng rất nhiều mặt về ngoại năng và nội tính. Qui luật ấy cũng đã ngự trị rất mạnh mẽ vào xã hội bình dân thời xưa, khiến họ đã phải rên siết than van trước mọi biến thái của nó.

Chúng ta không thể nào khám phá hết mọi trạng thái biến dịch của tình yêu nổi. Ở đây, chúng ta chỉ huy tầm nguồn gốc của nó, và lấy một vài câu ca dao điển hình. Ví dụ :

Tôi ở cùng mẹ cùng cha,

Mẹ cha nâng giấc như hoa trên cành.

Bây giờ tôi ở cùng anh,

Anh tham nhan sắc anh đành phụ tôi.

Em nhớ ngày nào bên ao cá lội,

Anh chỉ anh thề không lỗi nghĩa keo sơn.

Bây giờ anh đã sang giàu,

Anh quên đi lời hứa buồn ban đầu cùng em.

Qua cầu, cầu yếu phải nương,

Ta nghe bạn cũ hết thương ta rồi.

Ta nghe bạn cũ có đôi,

Trong mình nóng nảy như vôi mới hầm.

Nắm tay bạn cũ khóc thầm,

Ngày rày quế nọ xa trầm, trầm ơi !

Anh tiếc cho ai nuôi, dạy, mong chờ,

Một, hai, ba tuổi đến bây giờ em lớn khôn.

Cái vành khăn em vấn đã tròn,

Câu cười tiếng nói đã dòn, em lại ngoan.

Sợi tơ hồng đã buộc với nhân gian,

Sao em không chịu khó gánh giang san nhà chồng.

Nỡ đang tay em dứt tơ hồng,

Đứng trên núi nọ mà trông non này.

Áng phong lưu son phấn đọa đày,

Thay đen đổi trắng dễ ai rày thương yêu.

Những tâm tư đau khổ vì tình duyên trên đây chính là ý thức bất mãn của con người trước trạng thái biến dịch của ái tình. Sự bất mãn ấy là nguồn gốc của mọi tính chất mâu thuẫn.

3) Tính chất mâu thuẫn là tính chất của tình yêu phá hoại. Nếu chúng ta quan niệm mọi tổ chức xã hội loài người là những vật chứa, mà tâm tư con người là mặt nước, thì mặt nước luôn luôn hình thành theo vật chứa, đồng thời cũng tạo thành những gợn sóng, nối tiếp và dồn dập để phá vỡ những khuôn khổ bên ngoài, thay đổi bằng những khuôn khổ mới để đủ sức dung nạp những biến thái bên trong.

Sức phá hoại ấy là sức phản ứng của những tâm tư bị xáo trộn trong guồng máy sinh hoạt xã hội, mà cũng là năng lực chiến đấu để vùng lên khi tình yêu của họ bị ảnh hưởng xã hội đè bẹp xuống.

Bởi vậy, bất kỳ thời đại nào, sự biến thái của tình yêu cũng đưa đến những chống đối, liều lĩnh.

Xã hội bình dân thời xưa dưới guồng máy phong kiến, ảnh hưởng Nho-giáo thịnh thành, người đàn bà được lấy tiết trinh làm trọng, thế mà chúng ta vẫn thấy những trạng thái liều lĩnh như :

Chơi cho thủng trống long bồng

Rồi ra ta sẽ lấy chồng lập nghiêm.

Chơi cho thủng trống long chiêng,

Rồi ra ta sẽ lập nghiêm lấy chồng.

Dưới con mắt nhà đạo đức học, hoặc những nhà chính trị theo quan niệm duy lý thì đó là những thói hư, tật xấu phản ảnh một cuộc sống đồi trụy. Tuy nhiên, nếu chúng ta nhìn xã hội loài người với con mắt khách quan thì đó là qui luật tất yếu. Diễn biến của xã hội loài người cũng như diễn biến của vũ trụ. Trong chiều xuôi bao giờ cũng có chiều ngược. Nó là sức đối kháng, sức phản ứng tự nhiên. Một đứa trẻ bị đánh đau quá tất phải la, một con chim bị nhốt trong lồng tất phải phá phách, tìm chỗ thoát ra.

Cái khuôn khổ « tứ đức tam tùng » của giáo lý Khổng Mạnh áp dụng vào chế độ chính trị phong kiến để bảo vệ trật tự gia đình, chẳng những ảnh hưởng vào cuộc sống quí tộc, mà còn chụp lên xã hội bình dân nữa. Người đàn bà bình dân không phải là những kẻ ăn không ngồi rồi như những hạng nữ lưu đài các, chỉ sống bám vào quyền lực của người chồng. Chính họ là những kẻ tay lấm chân bùn, vất vả tối ngày, khổ cực chẳng kém gì người đàn ông. Khi đã chịu chung những khổ cực như vậy, lẽ ra họ phải có một chế độ ưu đãi, bình đẳng, thì xã hội phong kiến lại truất mất quyền hạn của họ trong gia đình, bắt họ phải lệ thuộc hoàn toàn vào nam giới. Tại sao luật pháp không bắt buộc người đàn ông phải giữ gìn trinh tiết với đàn bà, mà chỉ người đàn bà mới phải có bổn phận ấy ? Buộc người đàn bà phải bảo vệ trinh tiết trong lúc người đàn ông được quyền đùa giỡn với ái tình, xem ái tình như là của riêng họ, mà người đàn bà chỉ là vật sở hữu :

Trai năm thê bảy thiếp,

Gái chính chuyên một chồng.

Bất công ấy chính là yếu tố mâu thuẫn, đưa nữ giới vào quỹ đạo đấu tranh giải phóng. Những ý thức liều lĩnh trong các câu ca dao trên đây chính là những đau khổ chất chứa trong tâm tư người đàn bà, và sự đau khổ ấy đã buộc họ phải vùng lên phản đối bằng hành động tích cực.

Dĩ nhiên, sự bất bình đẳng giữa nam nữ dưới chế độ phong kiến thời xưa toàn thể nữ giới đều phải chịu chung, song hành động phản đối nằm trong hai tính chất : tiêu cực và tích cực.

Hành động tiêu cực chỉ là hành động bất mãn mà người đàn bà cố gắng ép mình chịu đựng trong những tiếng rên than, còn hành động tích cực là hành động được bộc lộ ra ngoài bằng trạng thái phá phách, chống đối.

Mọi sự chống đối đều bắt nguồn bằng sự áp chế. Nếu không có áp chế, thì không có sức chống đối. Cho nên, nếu chế độ phong kiến thời xưa đặt vấn đề trinh tiết của người đàn bà như một bổn phận, thì luật pháp phong kiến cũng lại khắt khe với những ai làm sai bổn phận ấy.

Chứng minh điều này, chúng ta có thể tìm thấy trong những câu ca dao như :

Tính quen chừa chẳng được đâu,

Vạ làng, làng bắt mấy trâu mặc lòng.

Người đàn bà không giữ được tiết trinh, chẳng những xã hội phong kiến gắn cho tiếng xấu, mà luật pháp còn trừng trị họ nữa.

Nhưng đối với người đàn ông thì sao ? Luật pháp không cấm người đàn ông phải chính chuyên với người đàn bà ! Cho nên ý thức liều lĩnh trên đây là một hành động tích cực phản đối bất công xã hội trong lãnh vực tình yêu, phá vỡ những khuôn khổ phong kiến đã ép buộc người đàn bà phải chịu.

Trong khuôn khổ ấy chẳng những giai cấp bình dân tự thấy mình nghẹt thở, mà đối với giai cấp nữ lưu trưởng giả vẫn thấy bực dọc. Tuy nhiên, tinh thần đấu tranh để giải phóng cho mình, người đàn bà thuộc giai cấp quí tộc vẻ yếu đuối, tiêu cực, bởi lẽ họ bị tiêm nhiễm trong đầu óc cốt cách của Nho phong. Con người họ đã trở thành ủy mỵ, họ chỉ đem nước mắt khóc cho đời, đem những lời rên than an ủi cho số phận. Những hành động chống đối Nho phong tự họ xem như trái đạo làm người, mặc dù cái đạo làm người ấy đối với họ là cả một sức nặng đè lên mầm sống của họ.

Chứng minh điều này, chúng ta thấy trong « Đoạn trường tân thanh », nàng Kiều dù phải bị chế độ vua quan hà lạm, áp bức, phải bán mình chuộc cha, đem thân đi làm gái mãi dâm, thế mà tinh thần chống đối của nàng trước thực trạng xã hội vẫn không một chút hờn giận, mà chỉ dùng thuyết « Định mệnh » để tự an ủi mình qua tâm hồn của cụ Nguyễn Du :

Lạ gì bĩ sắc tư phong,

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.

(Kiều)

Người đàn bà quí tộc nhìn chế độ phong kiến và khuôn khổ Nho giáo như một định mệnh. Cho đến nỗi oán hờn chồng chất cả cuộc đời mình, nàng Kiều cũng chỉ được quyền kêu than với số mạng :

Chém cha cái số ba đào

Mở ra rồi lại buộc vào như chơi.

(Kiều)

Họ không dám nhìn thẳng vào thực trạng xã hội. Và nếu có nhìn vào xã hội, họ vẫn xem những thực trạng ấy như qui luật tất yếu của tạo hóa đã an bài.

Cũng như « Chinh phụ ngâm », cảnh chiến tranh thời xưa chỉ là những cuộc tranh đoạt quyền lợi của các lãnh chúa. Người chinh phụ khi mỏi mắt trông chồng nơi biên ải, đáng lẽ họ nghĩ đến cảnh xâu xé của xã hội loài người mà oán hờn những bất công, tham vọng của chế độ, thì họ lại không nhìn vào thực trạng ấy, mà đổ lỗi cho trời. Ví dụ :

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,

Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.

Xanh kia thăm thẳm từng trên,

Vì ai gây dựng cho nên nỗi này ?

Nếu bào rằng thời xưa dưới chế độ khắc nghiệt của vua quan, người đàn bà dù oán hờn đến đâu cũng không dám nói thẳng vào thực trạng, thì e cũng không đúng. Người bình dân là người thấp nhất trong xã hội, họ vẫn sống dưới chế độ hà khắc của vua chúa, thế tại sao họ dám chống đối quyền lực của quan lại một cách ngang nhiên. Ví dụ :

Em là con gái đồng trinh,

Em đi bán rượu qua dinh ông Nghè.

Ông Nghè sai lính ra ve,

- Bẩm lạy ông Nghè tối đã có con !

- Có con thì mặc có con,

Thắt lưng còn dòn theo võng cho mau.

Những câu hát châm biếm như vậy rõ ràng người phụ nữ bình dân đã dám nhìn vào thực trạng xấu xa của guồng máy xã hội, và họ dám nói lên bằng ý thức chống đối mạnh mẽ.

Mặt khác, trong lúc chế độ phong kiến bắt buộc người đàn bà phải tiết hạnh, cái tiết hạnh để phụng sự riêng cho quyền lợi người đàn ông, thì chính đàn bà bình dân cũng lại đứng ra chống đối mãnh liệt hơn. Họ bảo :

Lẳng lơ chết cũng ra ma,

Chính chuyên chết cũng chôn ra đầy đồng.

Họ từ chối giá trị của tiết hạnh. Họ quan niệm giáo lý xã hội phong kiến chỉ là chuyện phỉnh phờ, gạt gẫm. Cái xấu và cái tốt trong đời không lợi ích gì cả, bởi vì khi chết đi, con người ai cũng như ai.

Xem thế thì thấy rõ người đàn bà bình dân và người đàn bà quí tộc cũng chung một cảnh khổ dưới ách Nho giáo, nhưng người đàn bà bình dân có tinh thần tranh đấu tích cực hơn. Họ dám nhìn vào thực trạng xã hội, và dám nói lên tiếng lòng của họ bằng một đường thẳng, không khiếp nhược.

Dưới chế độ phụ quyền, người đàn ông được luật pháp bảo vệ cả đến việc bạc đãi người đàn bà, như :

Ví dầu tình bậu muốn thôi,

Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra.

Bậu ra cho khỏi tay ta,

Cái xương bậu nát, cái da bậu mòn.

Người đàn ông có quyền hành hạ người đàn bà, mà không sợ luật pháp. Tuy nhiên, khi mà bất công xã hội đã đè nặng trên tâm tư, người đàn bà bình dân có đủ can đảm để chống lại sự hành hạ ấy.

Anh đánh thì tôi chịu đau,

Tánh tôi hoa nguyệt mười con chẳng chừa.

Hoặc :Đánh tôi thì tôi chịu đau,

Tánh tôi hoa nguyệt chẳng chừa đặng đâu.

Tại sao người đàn bà có thể mạnh dạn đưa tánh xấu mình ra để thách đố trước hành động vũ lực của người đàn ông ? Xét về mặt tâm lý thì khi phơi bày tánh xấu của mình, người đàn bà vẫn không cho là xấu. Bởi vì họ thấy đối tượng của họ là người đàn ông vẫn còn xấu hơn.

Trước mắt họ, người đàn ông không phải là thần tượng đáng tôn thờ. Và họ đã xét thấy :

Đàn ông năm bảy lá gan,

Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người.

Hoặc :Sông bao nhiêu nước cũng vừa,

Trai bao nhiêu vợ cũng chưa vừa lòng.

Như vậy người đàn bà dù có lẳng lơ cũng chưa phải hèn hạ, hư đốn. Cái hèn hạ, hư đốn của họ chỉ do quan niệm bất công của xã hội phong kiến gắn lên họ mà thôi.

Tuy vậy, sự chống đối của người đàn bà không phải do trạng thái thông thường, nó phát xuất ở khả năng vùng lên của những tâm tư bị áp chế, cho nên chúng ta thấy phảng phất một cái gì uất ức, liều lĩnh !

Thật vậy, sống trong xã hội từ bậc phong lưu đài các đến hạng khố vải quần thâm, khi đã tạo lập gia đình ai lại không muốn vui trong hạnh phúc ? Tuy nhiên, nếu vì lẽ gì hạnh phúc ấy không đạt được, mà con người họ lại bị chìm trong thảm trạng bất công, dĩ nhiên nguồn đau khổ ấy phải đưa họ vào trạng thái liều lĩnh, chống đối.

Sự chống đối, liều lĩnh của họ đã bộc lộ một cách ngang nhiên, bất chấp cả phép vua lệ làng, bất chấp cả quyền lực của người đàn ông được xã hội phong kiến bảo vệ. Đây chúng ta nghe họ nói :

Không chồng mà chửa mới ngoan,

Có chồng mà chửa, thế gian sự thường.

Tại sao họ lại đi tìm cái chuyện phi thường như vậy để hành động, mà lại xưng mình như có vẻ anh hùng ? Rõ ràng lòng tự đắc của họ dựa trên quan điểm chống đối hơn là đạo lý. Họ tự đắc vì họ dám ngang nhiên chống lại luật lệ và lề thói của một xã hội bất công, họ tự đắc vì họ đã dám đi ngược với dòng đời ngang trái. Cho nên trước cái khuôn phép ràng buộc để bảo vệ những giả dối bên ngoài, họ khinh bỉ bằng lối châm biếm như :

Có chồng càng dễ chơi ngang,

Đẻ ra con thiếp, con chàng, con ai ?

Luật lệ không thể ngăn cấm lòng người một khi lòng người đã muốn. Với ý thức chống đối, họ khinh thường cả luật lệ. Và đối với họ, chỉ có tình nghĩa mới đem lại con người lòng chân thật.

Ai cấm được lòng người khi tình yêu trong gia đình không tìm được sức sống của yêu đương. Người đàn ông không yêu vợ, có thể đi tìm những thú vui khác, còn người đàn bà thì phải chính chuyên với kẻ bất nghĩa. Bởi vậy, người đàn bà đã phải phản ứng :

Hai tay cầm lấy quả hồng,

Quả chát phần chồng, quả chín phần trai.

Đêm nằm vuốt bụng thở dài,

Thương chồng thì ít, thương trai thì nhiều.

Tuy đó là một tình yêu lang chạ, trái với đạo, nhưng nó cũng bộc lộ cho chúng ta thấy bên trong hàm chứa một sự bất mãn đối với cuộc sống gia đình.

Không thương chồng mà lại thương trai, người đàn bà đã tách rời bổn phận làm vợ. Đứng về mặt đạo nghĩa, chúng ta thấy đáng chết, nhưng nếu đi sâu vào tâm trạng của kẻ ngoại tình chúng ta lại thấy thương. Bởi vì chính kẻ ấy là kẻ thiếu hạnh phúc, đang khát vọng một cuộc sống êm đềm, kẻ đang bị đời dành cho họ một thảm cảnh mà tâm hồn họ không thể nào buộc họ ép dần trong một cái chết giữa lúc họ đang sống. Họ phải vươn lên tìm lấy cái sống thầm lén, khổ đau.

Xã hội tạo cho họ một cuộc sống đau khổ, và luật lệ buộc họ phải đi vào con đường thầm lén để tìm ý sống, thì đó chính mà mầm móng tác thành một phản động lực trong tâm tư con người. Phản động lực ấy khi đã chất chứa tất phải bùng nổ. Cho nên chúng ta không lấy làm lạ khi thấy trong ca dao bình dân có những ý tưởng táo bạo của người đàn bà, như :

Chữ tình đáng giá nghìn vàng,

Từ anh chồng cũ đến chàng là năm.

Còn như yêu vụng nhớ thầm,

Họp chợ trên bụng đến trăm con người.

Họ có nguyền rủa chữ trinh, ngạo nghễ với chữ trinh, lôi chữ trinh ra làm trò cười trước xã hội ! Ai dám bảo đó không phải ý thức bất mãn bị dồn ép do lẽ sống bất công ? Người ta đã bắt kẻ khác phải bảo vệ trinh tiết để phục vụ cho một lớp người mà những kẻ ấy xem như của riêng họ. Bởi vậy họ quan niệm rằng những kẻ nêu ra vấn đề trinh tiết chỉ là những kẻ ích kỷ, và họ thoá mạ :

Lẳng lơ cũng chẳng hao mòn,

Chính chuyên cũng chẳng sơn son thếp vàng.

Thái độ hằn học ấy chính là thái độ chống đối, phá phách trong ý thức bất mãn. Từ chỗ bất mãn họ đi đến liều lĩnh :

Sáng ngày ra đứng cửa Đông,

Bói xem một quẻ lộn chồng được chăng ?

Ông thầy gieo quẻ bói rằng :

Lộn chồng thì được nhưng năng phải đòn

- Mồ cha đứa có sợ đòn,

Miễn là lấy được chồng dòn thì thôi !

Trạng thái biến động đã đưa lịch sử ái tình loài người vào con đường phiêu lưu, mạo hiểm. Ngày nay, sống trong chế độ tự do luyến ái, bình đẳng hôn nhân, chúng ta vẫn còn thấy những vụ án ngoại tình, những cuộc thảm sát vì tình, những cảnh tượng đau khổ vì tình, thì từ ngàn xưa, dưới chế độ bất bình đẳng hôn nhân của nền phong kiến, những tâm tư liều lĩnh, chống đối ấy cũng chẳng có gì lạ. Nó cũng chỉ là sự biến thái của tình yêu.

Khi tình yêu đã bị ảnh hưởng vào lẽ sống tất nhiên phải chịu sự phân hoá. Huống chi, người đàn bà thời xưa, sống dưới chế độ duy lý của nền phong kiến, bản năng bị kềm toả. Những thảm trạng của lễ giáo như khi người đàn ông chết, người đàn bà phải trực tiết nuôi con (phu tử tòng tử) trong lúc đó người đàn ông vợ chết vẫn có quyền tục huyền, thì đó cũng là một căn bản mâu thuẫn trong chế độ hôn nhân.

Mầm mâu thuẫn đã có, dĩ nhiên không thể tránh khỏi những hành động chống đối. Đây, chúng ta hãy nhìn vào tâm tư một goá phụ đã đau đớn, mỉa mai trước một anh chồng ngắn số :

Giàu thì thịt cá cơm canh,

Khó thì lưng rau đĩa muối, cúng anh tôi đi lấy chồng.

Hỡi anh chồng cũ tôi ơi !

Anh có khôn thiêng xin anh trở dậy ăn xôi nghe kèn.

Thôi, anh đã về kiếp ấy xin anh đừng ghen.

Để cho người khác cầm quyền thê nhi.

Miệng em khóc, tay em bế ẵm cái ông thần vì,

Tay em gạt nước mắt, tay em thì thắp nén nhang.

Bời vì đâu mà em xót nỗi muôn vàn !

Xem thế, chúng ta phải công nhận rằng ý thức người bình dẫn thời xưa chống đối thuyết « tam tùng » của Khổng giáo một cách mãnh liệt. Sự chống đối ấy luôn luôn tượng hình trong tâm tư người bình dân, mà ở đây chúng ta không thể nào lược trích cho hết được.

Cùng với hành động chống đối ấy, chúng ta thử xét qua một tâm trạng nữa của người đàn bà bất mãn với chế độ trực tiết nuôi con như :

Hỡi thằng cu lớn, hỡi thằng cu bé,

Cu tí, cu tị, cu tỉ, cu tì ơi !

Con dậy ăn cơm với bà.

Để mẹ đi kiếm một và con thêm.

Con ra gọi chú vào đây

Để mẹ giao trả cái cơ nghiệp này mẹ bước đi.

Tiếng gọi của tình yêu đã phá vỡ khuôn khổ ràng buộc của giáo lý Khổng Mạnh.

Tuy nhiên, trạng thái biến động của ái tình đã bị ảnh hưởng nhiều mặt thì tính chất biến thái ấy cũng phải diễn biến qua nhiều chiều hướng.

Theo sự phân tích trên đây, chúng ta có thể dồn tất cả những chiều hướng ấy vào hai lãnh vực : ngoại năng và nội tính.

*

Tóm lại, tình yêu sở dĩ có sự biến thái là do ảnh hưởng vào guồng máy sinh hoạt xã hội loài người, do qui luật biến động của vạn hữu. Lịch sử diễn biến của tình yêu cũng là lịch sử diễn biến của xã hội loài người qua các chế độ chính trị.

Ở đây, nếu nói riêng về lớp người bình dân thì chúng ta phải thừa nhận ý thức đấu tranh bình đẳng của họ mạnh mẽ hơn trong lúc họ cũng vẫn phải hoà mình trong mọi ảnh hưởng xã hội.

Và khi họ đấu tranh cho tình yêu được bình đẳng thì cũng có nghĩa là họ đấu tranh để xoá bỏ một chế độ.

AM « SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » dự án phi lợi nhuận của TVE-4U.ORG ebook©MotSAch —★— vte-4u© Nhà xuất bản : XUÂN THU USA 1975
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.