Phương pháp này đem những tâm trạng chất chứa trong phong dao tục ngữ sắp xếp thành mạch lạc để chứng dẫn con người và nếp sống bình dân qua mọi sinh hoạt xã hội.
Dĩ nhiên không còn phương pháp nào hơn khi thế giới dĩ vãng chỉ còn để lại những chứng tích thời gian. Tục ngữ, cao dao biểu tượng cho tính chất con người, mà con người với xã hội như bóng với hình, có liên quan mật thiết. Dùng tâm tư con người tìm hiểu xã hội, vẽ lại trạng thái xã hội đương thời không phải là chuyện vô lý.
Nhưng, công trình khảo cứu của các học giả nước ta từ trước đến nay đối với phương pháp này đã thu nhặt kết quả ra sao trong lãnh vực thi ca bình dân ?
Trương-Tửu trước đây đã có nhận xét về những nhà khảo cứu văn học bình dân theo phương pháp trích dẫn. Ông cho đó chỉ là những người thợ làm lấy khéo trong một phạm vi nhỏ hẹp nào đó thôi.
Nhận xét của Trương-Tửu không phải vô trách nhiệm.
Nếu chúng ta có cảm nghĩ con người là những chứng tích của xã hội, thì khi muốn nhận xét những chứng tích ấy cho đích thực không thể không căn cứ vào trạng thái biến chuyển của xã hội trên dòng lịch sử thời gian.
Sự biến chuyển của xã hội trên dòng lịch sử thời gian ghi lại trong tâm tư con người, kết thành dòng lịch sử văn học. Vậy khi đi tìm dòng lịch sử văn học, trước nhất phải đi tìm dòng lịch sử thời gian để làm căn bản cho chiều hướng suy tư.
Nếu chúng ta không nắm vững trạng thái biến chuyển của lịch sử xã hội, mà chỉ đi tìm những chứng tích trong tâm tư con người khác nào chúng ta chỉ vuốt ve, sửa lại những cái đã đổ vỡ để rồi không biết đặt vào đâu cho đúng chỗ cũ của nó. Lẽ ra, những đổ vỡ ấy chúng ta phải biết nó từ đâu rơi xuống, và lý do nào đã bị rơi. Có như thế công việc tìm tòi của chúng ta mới đem lại kết quả mỹ mãn.
Nói cách khác, biến cố xã hội như một luồng gió, mà tâm tư con người là những ngọn cây. Nếu chúng ta tìm được chiều hướng của luồng gió rồi thì chúng ta có thể nhìn vào một vài ngọn cây để xác định trạng thái của hàng ngàn ngọn cây khác, khỏi cần phải tốn công đi quan sát từng ngọn cây một.
Nhưng làm thế nào để tìm được chiều hướng của luồng gió mà không nhờ vào sự quan sát các đọt cây. Cũng như chúng ta làm cách nào để tìm ra động lực biến chuyển của xã hội loài người mà không nhờ vào những chứng tích ghi lại trong tâm tư của kẻ đương thời ?
Muốn rõ điều đó tất nhiên chúng ta phải nhận định qui luật tương quan giữa con người và lẽ sống. Chính lẽ sống là động lực xoay chuyển bánh xe xã hội mà con người chỉ là nạn nhân của chiếc bánh xe ấy.
Lẽ sống ! Guồng máy kinh tế, sự cướp đoạt của loài người trong qui luật tự diệt, tự tồn. Nhà nghiên cứu văn học sử không thể tách rời qui luật ấy ra ngoài sản phẩm tâm tư.
Tóm lại, phương pháp trích dẫn mà chúng ta đã áp dụng trước đây bị một phần khiếm khuyết do chúng ta chưa tổng hợp được con người với xã hội. Chúng ta chỉ mới ở một khía cạnh đem tâm tư con người khai thác trạng thái xã hội, chứ chưa phối hợp được nguồn gốc biến chuyển của xã hội để xác định sự diễn biến trong tâm tư con người.
Dùng phương pháp đúc kết tâm tư để phân tách xã hội con người, tìm lẽ sống, chúng ta phải đi rất xa vào công tác sưu khảo mới tổng kết được hình bóng đích thực của thế giới hiện hữu. Việc làm ấy đòi hỏi một công trình khá lớn, mà trước đây chẳng có mấy người lưu tâm đến, nên thành quả của việc làm chưa đem lại bao nhiêu.