Ích kỷ tức là vị kỷ. Nó nằm trong tính chất tự tồn. Mỗi chúng ta đều cảm thấy nó khi chúng ta bị thiệt thòi. Chúng ta muốn đem lại cho chúng ta nhiều thụ hưởng mà chúng ta bị thiếu thốn. Vậy ích kỷ là lòng thương mình, thương thân phận cá nhân mình hơn thân phận kẻ khác.
Người bình dân cũng đã thấy trạng thái của nó qua tâm tư họ, như :
Một mai cúc ngã lan quì,
Bậu lo thân bậu, lo gì thân qua !
Khi mỗi cá nhân đứng trước một khả năng thụ hưởng bao giờ cá nhân ấy cũng nghĩ đến quyền lợi của họ trước hết. Chính đó là lòng ích kỷ mà con người cảm thấy như là một tật xấu. Nhưng nếu xét cho cùng thì ích kỷ là năng lực của mỗi cá thể cần phải có để tự bảo vệ cái sống của mình. Chẳng những đối với con người mà đối với vạn hữu cũng vậy, mỗi sinh vật đều chất chứa bên trong một năng lực tự tồn, nhờ năng lực ấy mỗi cá thể tránh được trạng thái tự diệt trong sức tranh đoạt của vạn hữu. Vậy ích kỷ theo đúng nghĩa của nó không phải là xấu. Cái xấu của con người nằm trong ý thức tham vọng, bất công. Bởi vì, con người dùng bộ óc để bảo vệ lẽ sống, thì con người cũng lại dùng bộ óc để mưu đồ tham vọng cá nhân của mình.
Ví dụ như người bình dân thời xưa đã than thở :
Tiếc công xúc tép nuôi cò,
Mai sau cò lớn, cò dò, cò bay.
Thì đó không phải là họ tiếc con cò, mà chính họ hờn trách con cò đã đặt tham vọng vào đời sống của nó. Nó đã được sống ấm no trong tay con người nuôi dưỡng, lại còn thèm muốn những cảnh sung sướng khác hơn. Cũng như :
Của mình, mình giữ bo bo,
Của người thì thả cho bò nó ăn.
Thì đó cũng do tham vọng của con người tạo ra tánh ích kỷ. Nhưng tánh ích kỷ con người rất phức tạp. Từ chỗ thương thân bảo tồn lẽ sống đi dần đến chỗ mất hẳn tình thương đối với kẻ khác, như :
Ông chết thì mặc thân ông,
Bà tôi sắp sửa lấy chồng hôm nay.
Bà chết thì thiệt thân bà,
Ông tôi sắp sửa lấy ba nàng hầu.
Hoặc : Thế gian giúp miệng lao xao,
Ai cho đồng nào mà đỡ khó khăn.
Từ chỗ thương thân mình, lo lắng cho thân mình, tính ích kỷ của con người dần dần tách rời tình thương giữa cá nhân này đối với cá nhân khác, mà những triết lý vị tha không thể nào kềm hãm nổi.
Sở dĩ xã hội loài người từ trước đến nay các nhà đạo đức học đem thuyết vị tha làm phương châm cho lẽ sống cũng chỉ vì muốn cổi bỏ tánh vị kỷ của con người. Nhưng khổ thay, phần căn bản của tính ấy lại nằm trong qui luật tất yếu của vạn hữu. Mỗi cá thể trong vũ trụ cần phải có khả năng tự vệ, tự tồn. Chính khả năng ấy tạo thành qui luật biến động và sinh diệt trong vũ trụ. Khi đã là qui luật tất yếu của vũ trụ thì bộ óc con người, sản phẩm của vũ trụ, làm gì có thể cải biến được.
Từ chỗ căn bản, phát xuất do qui luật thiên nhiên ấy, con người đem bộ óc khôn ngoan của mình phổ biến vào, đưa qui luật vị kỷ của cá thể chui vào một địa hạt mới : địa hạt ích kỷ với tính chất phức tạp của khối óc.
Xã hội Việt-nam thuở xưa, sống dưới guồng máy phong kiến, quyền lợi vua chúa được tôn trọng tuyệt đối. Thần dân trong chế độ phong kiến được xem như của riêng của nhà vua. Vậy, tổ chức phong kiến là một tổ chức vị kỷ, bắt buộc mọi người phải hy sinh cho một nhóm gia đình vua chúa, mà thuyết Khổng Mạnh cho đó là « sùng thiên mệnh » tức là hợp với lẽ sống thiên nhiên.
Một mặt Nho giáo hô hào dân chúng phụng sự cho nhóm người vua chúa, một mặt Nho giáo lại bắt dân chúng phải vị tha, tức là hy sinh quyền lợi cá nhân mình để phụng sự cho lẽ sống riêng rẽ của nhóm vua chúa. Như vậy, giáo lý vị tha của Khổng Mạnh, bản chất lại mâu thuẫn, không phù hợp với tác động thăng bằng trong lẽ sống thiên nhiên. Lẽ sống thiên nhiên không bắt buộc một cá thể nào trong vạn hữu phải hy sinh để phụng sự riêng rẽ cho một cá thể nào cả. Nếu mỗi cá thể phải đi đến chỗ diệt vong cũng chỉ vì để thăng bằng guồng máy sinh tồn của vũ trụ mà thôi.
Bản chất vị tha của Nho giáo vì thế không tồn tại, mặc dù trong thời gian nào đó, sức mạnh của Nho giáo đã chi phối ít nhiều bộ óc con người đương thời và bảo vệ guồng máy phong kiến, song cuộc sống con người không thể kềm hãm mãi trong khuôn khổ bất công. Trạng thái mâu thuẫn trong tính chất vị kỷ bắt buộc bộ óc con người phải tranh đấu và phá vỡ những độc tài, chế ngự, giam hãm, biến guồng máy xã hội thành một vũ trường để đấu nhau bằng những mánh khóe xảo quyệt, khôn ngoan của bộ óc.
Riêng các tôn giáo, từ xưa đến nay vẫn đem đạo lý phổ theo đời sống xã hội loài người. Không một tôn giáo nào không thấy lòng vị kỷ của con người là nguyên nhân căn bản đưa loài người đến thảm trạng tương tàn tương hại. Tuy nhiên, mọi giáo lý vị tha của các tôn giáo vẫn chỉ giữ được vai trò của một kẻ đồng hành để an ủi những mảnh tâm hồn đau khổ vì bị loại ra khỏi đấu trường. Nói cách khác, chúng ta có thể ví cuộc sống loài người như một cuộc đua xe đạp, họ cố tranh nhau để vượt lên, họ không thương những kẻ vấp ngã, trái lại, họ cần nhiều vấp ngã ấy để họ xây chiến thắng. Thì tôn giáo chính là những chiếc xe Hồng-thập-tự theo dõi vòng đua để chấp nhặt những kẻ chiến bại mà băng bó, vỗ về. Cuộc đua càng gay gắt, con đường càng gồ ghề, khúc khuỷu thì trên xe Hồng-thập-tự càng đông khách.
Bởi vậy, đời sống con người coi tôn giáo như chiếc xe Hồng-thập-tự chạy kèm theo vòng đua.
Nếu bộ óc con người sáng chế ra những tài năng, thì lòng ích kỷ của con người cũng không có giới hạn. Lòng ích kỷ ấy bắt đầu từ trạng thái bảo vệ chính đáng đi dần đến chỗ vì thương mình mà không thương người, rồi lại tiến đến chỗ vì quá thương mình mà giết người. Ví dụ :
Yêu nhau yêu cả bàn chân.
Ghét nhau ghét cả tông nhân họ hàng.
Khi thương thì ngóng trông làu lạu,
Khi ghét nhau mặt quạu làm ngơ.
Yêu nhau thì nói quá ưa,
Ghét nhau, nói thiếu nói thừa như không.
Con người tại sao lại có chuyện thương ghét ? Thương ghét phát xuất từ lãnh vực tình cảm. Tuy nhiên, không phải tình cảm con người bỗng dưng nổi dậy một cách vô lý. Tình cảm bao giờ cũng bắt nguồn từ một nguyên nhân. Nguyên nhân ấy chính là lòng vị kỷ. Bởi vậy chúng ta không bao giờ thương một kẻ làm hại chúng ta, cũng không bao giờ ghét một kẻ làm lợi chúng ta.
Lòng vị kỷ con người tiến đến chỗ thương, ghét, nhưng không phải chỉ có thế, nó còn tìm cách làm hại những kẻ bị ghen ghét nữa, mà người xưa đã từng nói « ích kỷ hại nhân ».
Đó là những hành động phũ phàng của con người, mà trong ca dao thời xưa, người bình dân Việt-nam đã mô tả những đau đớn ấy như những tiếng rên than bất diệt. Ví dụ :
Sông sâu còn có kẻ dò,
Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng.
Vô duyên ghét kẻ có duyên,
Không tiền ghét kẻ có tiền cầm tay.
Cóc chết bao thuở nhái rầu,
Ễnh ương lớn tiếng nhái bầu dựa hơi !
Lòng ích kỷ xóa bỏ mọi công bằng trong xã hội. Kẻ ích kỷ bao giờ cũng nhìn thấy cái tốt của mình mà không thấy cái tốt của kẻ khác, cũng như họ chỉ thấy cái xấu của kẻ khác mà không thấy cái xấu của mình.
Người bình dân thời xưa đã chứng minh :
Chân mình thì lấm mê mê,
Lại cầm bó đuốc mà rê chân người.
Lươn ngắn mà chê lạch dài,
Thờn bơn méo miệng, chê trai lệch mồm.
Nói người chẳng ngẫm đến thân,
Thử rờ lên gáy xem gần hay xa.
Lòng ích kỷ chẳng những làm cho con người mù quáng trước lẽ phải, trước sự công bằng, mà còn biến con người trở thành những con vật mang nhiều tính nết xấu xa nhất đối với nhân đạo. Những tính xấu như giả dối, tham lam, độc ác, dua nịnh, phản phúc đều do lòng ích kỷ mà ra cả. Nó là biến thái của tính ích kỷ.