Nếu sự tiến hóa của loài có trí tuệ cần ít nhất ba nhân tố như vừa giới thiệu thì ta có thể đặt câu hỏi: Có bao nhiêu loài động vật trên Trái Đất sở hữu cả ba nhân tố đó? Ta có thể thấy nhiều loài săn mồi có mắt nhìn nổi, có càng, móng vuốt, răng nanh hoặc xúc tu nhưng không có khả năng cầm nắm công cụ. Tương tự, không loài nào có ngôn ngữ đủ phức tạp để cho phép chúng săn mồi, chia sẻ thông tin với nhau, cũng như truyền thông tin sang thế hệ sau.
Hãy so sánh trí tuệ và sự tiến hóa của con người với khủng long. Tuy hiểu biết về khủng long của chúng ta rất hạn chế, nhưng ta biết chúng từng thống trị Trái Đất trong khoảng 200 triệu năm, ấy vậy mà chúng không hề trở nên thông minh và phát triển nền văn minh khủng long, trong khi con người chỉ mất khoảng 200.000 năm để làm điều này.
Nhưng nếu phân tích kỹ vương quốc khủng long, ta thấy có những dấu hiệu chỉ ra rằng trí tuệ có thể đã từng phát triển ở loài này. Chẳng hạn, loài tấn mãnh long (yelociraptor), từng được bộ phim Jurassic Park (Công viên kỷ Jura) đưa thành huyền thoại, hẳn đã có thể trở nên thông minh theo thời gian. Chúng có mắt nhìn nổi của loài đi săn. Chúng đi săn theo đàn, nghĩa là chúng có hệ thống liên lạc với nhau để phối hợp săn mồi. Và chúng có móng vuốt để nắm con mồi, dần dần có thể tiến hóa thành ngón tay cái tách biệt. (Ngược lại, chi trước của khủng long bạo chúa (Tyrannosaurus rex) rất nhỏ, có lẽ chỉ dùng để bứt thịt sau khi săn mồi và không phù hợp để cầm nắm công cụ. Khủng long bạo chúa về cơ bản chỉ như cái mồm biết đi.)
SINH VẬT NGOÀI HÀNH TINH TRONG STAR MAKER
Với nền tảng thông tin trên, ta có thể phân tích các sinh vật ngoài hành tinh trong tiểu thuyết Star Maker của Olaf Stapledon. Nhân vật chính trong truyện có chuyến hành trình tưởng tượng vào vũ trụ, gặp gỡ rất nhiều nền văn minh kỳ thú. Vậy là chúng ta được thấy một bức tranh toàn cảnh về các dạng sống trí tuệ có thể tồn tại trải dài trên tấm toan nền là Dải Ngân Hà.
Trong số các dạng sống này, có một loài tiến hóa trên một hành tinh có trọng lực cực lớn. Do đó, thay vì có bốn chân, chúng cần sáu chân để di chuyển. Về sau, hai chân trước tiến hóa thành tay, giúp chúng thoải mái cầm nắm công cụ. Dần dần, chúng có ngoại hình giống với nhân mã (người ngựa).
Còn có những sinh vật trông giống côn trùng. Tuy mỗi cả thể côn trùng thì không thông minh, nhưng tập hợp hàng tỷ con sẽ tạo ra trí tuệ tập thể. Có cả loài trông giống chim, bay lượn thành bầy lớn như đám mây, cũng sử dụng trí tuệ tập thể. Nhân vật chính gặp cả những sinh vật trông giống cây, ban ngày bất động như cây cối, nhưng ban đêm lại di chuyển như động vật. Ngoài ra còn có những dạng sống thông minh mà ta hoàn toàn không hình dung được, như những vì sao thông minh.
Nhiều loài sinh vật trong số này sống dưới biển. Một trong những loài thành công nhất là hình thức cộng sinh giữa hai loài khác nhau, như cá và cua. Với phần đầu là cá, nằm trên thân cua, chúng bơi nhanh như cá và có thể dùng càng để cầm công cụ. Sự kết hợp này tạo cho chúng lợi thế rất lớn khi trở thành loài thống trị trên hành tinh của chúng. Về sau, loài giống cua này lên sống trên mặt đất, chế tạo máy móc, thiết bị điện, tên lửa và hình thành cả một xã hội thiên đàng dựa trên các tiêu chí phồn vinh, khoa học và phát triển.
Loài cộng sinh cá-cua này đóng cả tàu liên sao và đến thăm các nền văn minh kém phát triển hơn. Stapledon viết: “Loài cộng sinh hết sức cẩn trọng để các loài sơ khai hơn không phát hiện ra mình, không để những loài này đánh mất sự độc lập.”
Nói cách khác, tuy cá và cua tách rời thì không thể tiến hóa thành sinh vật bậc cao hơn, những khi chúng kết hợp thì điều đó là có thể.
Nếu giả sử có những nền văn minh ngoài hành tinh tồn tại trên các vệ tinh có băng bao phủ (như Europa hay Encedalus) hay vệ tinh của các hành tinh lang thang và phần lớn chúng đều phát triển dưới nước, vậy câu hỏi sẽ là: Liệu sinh vật dưới nước có thể thực sự có trí thông minh?
Nếu phân tích đại dương Trái Đất, ta sẽ thấy có vài vấn đề. Vây là phương tiện di chuyển cực kỳ hữu hiệu dưới đại dương, còn chân (và tay) thì không. Sinh vật nếu có vây sẽ di chuyển và xoay xở dưới nước rất nhanh, còn dùng chân di chuyển dưới đáy biển thì rất vụng về và khó khăn. Không ngạc nhiên khi ta thấy có rất ít loài dưới biển tiến hóa những bộ phận dùng để cầm nắm. Vậy nên, sinh vật có vây khó có khả năng trở nên thông minh (trừ phi bằng cách nào đó, vây tiến hóa thành bộ phận cầm nắm hoặc có thể vây chính là tay và chân của các loài trên cạn nhưng đã trở về đại dương để sống, như cá heo và cá voi).
Tuy nhiên, bạch tuộc là một loài tiến hóa rất thành công. Chúng đã sống sót qua ít nhất 300 triệu năm và có lẽ là loài thông minh nhất trong số các loài không xương sống. Khi phân tích bạch tuộc, ta thấy chúng đáp ứng đến hai trên ba tiêu chí ở trên.
Thứ nhất, là loài săn mồi, chúng sở hữu cặp mắt thợ săn. (Tuy hai mắt không thực sự tập trung về phía trước để nhìn nổi hoàn toàn.)
Thứ hai, tám xúc tu khéo léo vượt trội giúp chúng có khả năng phi thường trong việc cầm nắm các vật thể trong môi trường sống.
Nhưng bạch tuộc không có ngôn ngữ nói. Là loài đi săn độc lập, chúng không cần giao tiếp với các cá thể bạch tuộc khác. Sự tương tác giữa các thế hệ cũng rất xa cách.
Vì vậy, bạch tuộc thể hiện một mức độ thông minh nhất định. Chúng nổi tiếng ở khả năng tận dụng thân hình mềm mại để chui qua các kẽ hở nhỏ và thoát ra khỏi bể cá. Chúng cũng đi qua được mê cung, chứng tỏ chúng sở hữu một dạng ký ức nào đó. Thậm chí chúng còn biết sử dụng công cụ. Từng có một con bạch tuộc lấy vỏ dừa làm nơi trú ẩn cho mình.
Vậy tại sao bạch tuộc có chút ít trí thông minh và các xúc tu linh hoạt như vậy lại không trở nên thông minh thực sự? Trớ trêu thay, rất có thể do chúng đã quá thành công. Nấp dưới tảng đá và dùng xúc tu bắt mồi là chiến thuật rất hiệu quả, nên có lẽ bạch tuộc không cần phát triển trí thông minh. Nói cách khác, do không chịu áp lực phải tiến hóa nên chúng không phát triển trí thông minh thêm nữa.
Nhưng trên một hành tinh xa, dưới những điều kiện khác, một loài tương tự bạch tuộc có thể sẽ phát triển ngôn ngữ, như tiếng chiêm chiếp hay tiếng réo, để đi săn theo đàn. Miệng bạch tuộc có thể tiến hóa để phát ra những âm thanh ngôn ngữ thô sơ. Cũng có thể trong tương lai xa, áp lực tiến hóa trên Trái Đất sẽ khiến bạch tuộc buộc phải phát triển trí thông minh.
Vậy khả năng xuất hiện loài tám chân thông minh thực sự có thể xảy ra.
Một loài thông minh khác được Stapledon nhắc đến là loài chim. Giới khoa học cũng ghi nhận rằng giống như bạch tuộc, loài chim có trí thông minh đáng chú ý. Nhưng khác bạch tuộc, chim có cách thức giao tiếp với nhau rất tinh vi, thông qua tiếng chiếp chiếp và giai điệu hót. Ghi lại tiếng hót của một số loại chim, các nhà khoa học nhận thấy giai điệu càng phức tạp và du dương thì khả năng hấp dẫn chim khác phái càng lớn. Nói cách khác, chim mái lắng nghe độ phức tạp trong giai điệu hót của chim trống để đánh giá sức khỏe, sức mạnh và độ phù hợp để kết đôi. Do đó, loài chim luôn luôn bị áp lực tiến hóa, phải phát triển những giai điệu phức tạp và đạt đến một độ thông minh nhất định. Tuy một số loài chim có mắt nhìn nổi của loài đi săn (như chim ưng hay cú) và sử dụng dạng thức ngôn ngữ nào đó, nhưng chúng không có khả năng tác động tới môi trường xung quanh.
Hàng triệu năm trước, một số loài bốn chân đã tiến hóa thành chim. Phân tích xương của loài chim, ta thấy rõ dấu hiệu của xương chân tiến hóa dần dần thành xương cánh. Từng xương chân đều có xương cánh tương ứng. Nhưng để tác động lên môi trường, cần phải có đôi tay tự do để cầm công cụ. Như vậy, chim thông minh sẽ phải tiến hóa sao cho đôi cánh có hai chức năng, vừa để bay vừa để cầm nắm công cụ, hoặc phải có ít nhất sáu chân ở thời điểm chưa tiến hóa, sau đó bốn chân trở thành cánh và tay.
Tóm lại, việc chim trở nên thông minh là khả thi, nếu bằng cách nào đó chúng phát triển được khả năng sử dụng công cụ.
Trên đây chỉ là một vài ví dụ về khả năng trở nên thông minh của các loài. Nếu chú tâm quan sát, chắc chắn ta sẽ thấy còn rất nhiều loài khác cũng có khả năng đó.