Sau cùng, nền văn minh Cấp I có thể sẽ dùng hết năng lượng trên hành tinh và phải tìm cách khai thác nguồn năng lượng bao la từ sao mẹ.
Văn minh Cấp II có lẽ sẽ dễ dàng tìm thấy, vì nhiều khả năng đây là nền văn minh bất diệt. Không thứ gì mà khoa học biết đến có thể tiêu hủy được nó. Va chạm với thiên thạch và tiểu hành tinh sẽ được ngăn chăn bằng công nghệ tên lửa. Hiệu ứng nhà kính cũng không xảy ra khi sử dụng công nghệ hydro hoặc công nghệ mặt trời (pin nhiên liệu, năng lượng nhiệt hạch, vệ tinh quang năng, vv..). Nếu có bất kỳ mối đe dọa cấp hành tinh nào, họ có thể rời bỏ quê nhà trên những đội tàu không gian lớn. Thậm chí họ có thể di chuyển cả hành tinh nếu cần. Với nguồn năng lượng đủ sức làm đổi hướng tiểu hành tinh, họ có thể kéo các tiểu hành tinh chạy quanh hành tinh của họ, khiến đường bay của hành tinh này hơi thay đổi. Liên tiếp thực hiện kỹ thuật đổi hướng như trên, họ sẽ dịch chuyển được quỹ đạo hành tinh ra xa khỏi sao mẹ nếu sao mẹ đang ở giai đoạn cuối và bắt đầu giãn nở.
Để tăng nguồn cung năng lượng, như đã đề cập, họ có thể chế tạo một quả cầu Dyson để thu thập hầu như toàn bộ năng lượng từ sao mẹ. (Vấn đề là khi xây dựng những quần thể siêu kiến trúc khổng lồ như vậy thì trên những hành tinh đá có thể không có đủ vật liệu để thực hiện điều này. Đường kính Mặt Trời lớn hơn Trái Đất 109 lần, nên sẽ cần lượng vật liệu lớn khủng khiếp để xây một kết cấu bao quanh nó. Giải pháp cho vấn đề này có lẽ là công nghệ nano. Nếu làm bằng vật liệu nano, độ dày của quả cầu Dyson sẽ chỉ chừng vài phân tử, nhờ đó lượng vật liệu cần dùng sẽ giảm đáng kể.)
Số nhiệm vụ không gian để xây dựng siêu kiến trúc này sẽ cực kỳ lớn. Nhưng ta có thể tính đến giải pháp sử dụng robot không gian và vật liệu tự tổ chức. Ví dụ, nếu xây dựng được trên Mặt Trăng một nhà máy nano chuyên sản xuất tấm nano cho quả cầu Dyson, ta có thể dùng robot lắp ráp các tấm này ngoài không gian. Và các robot này có khả năng tự nhân bản, có thể tạo ra số robot vô hạn phục vụ việc xây dựng.
Tuy văn minh Cấp II gần như bất diệt, nhưng về lâu dài, nó vẫn phải đối mặt với một nguy cơ: theo định luật thứ hai của nhiệt động lực học, các loại máy móc sẽ tạo ra lượng bức xạ nhiệt hồng ngoại đủ để khiến sự sống không thể tồn tại trên hành tinh được nữa. Định luật này nói rằng entropy (rối loạn, hỗn độn, hoặc hao phí) luôn tăng trong một hệ thống kín. Trong trường hợp đang bàn, mọi máy móc, động cơ, thiết bị đều sản sinh hao phí dưới dạng nhiệt. Có lẽ ta sẽ ngây thơ nghĩ rằng tạo ra một chiếc “tủ lạnh” khổng lồ để làm mát hành tinh là được. Tuy vậy, dù tủ lạnh làm giảm nhiệt độ bên trong nó, nhưng nếu ta cộng hết tất cả mọi thứ, gồm cả nhiệt lượng do động cơ tủ lạnh sinh ra, thì tổng nhiệt của toàn hệ thống vẫn tăng.
(Giống như trong một ngày rất nóng, ta quạt gió vào mặt vì nghĩ rằng như thế sẽ mát hơn. Đúng là mặt sẽ cảm thấy mát, tạm thời ta thấy dễ chịu hơn, nhưng nhiệt sinh ra từ chuyển động của cơ, xương và các bộ phận khác trên cơ thể lại tạo thêm nhiều sức nóng. Như vậy, việc quạt chỉ gây tác động tâm lý tức thời, còn nhiệt độ cơ thể và nhiệt độ không khí xung quanh thực ra lại tăng.)